Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Nguyễn Công Trứ
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong số rất nhiều những nhà thơ, nhà văn ra đời trong giai đoạn văn học trung đại, tác
giả Nguyễn Công Trứ để lại một dấu ấn khá đặc biệt. Không chỉ có một phong cách sống bản
lĩnh, đầy cá tính mà ông còn đóng góp sức mình trên nhiều lĩnh vực. Ông là một nhà thơ tài tử,
một người phóng khoáng nhưng lại bị “nhốt mình” trong tư tưởng Nho giáo và cúi mình phục
vụ triều đình phong kiến. Đấy chính là sự mâu thuẫn trong tư tưởng và hành động của con
người Nguyễn Công Trứ, cho nên khi đọc thơ ông chúng ta luôn có cảm giác đầy mới lạ đan
xen nhau, nhận thức con người ông mỗi lúc một khác cần khám phá, tìm hiểu.
Nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Nguyễn Công Trứ là một
vấn đề không mới. Trước đó các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về con người thế thái nhân tình,
con người tài tử, con người ẩn dật, con người công danh… trong thơ ông. Nhưng những vấn đề
này thông thường được trình bày riêng lẻ. Ở bài tiểu luận này, chúng tôi muốn đem đến một cái
nhìn mới, cụ thể và toàn diện hơn về vấn đề này. Đồng thời, góp phần hữu ích vào công việc
phục vụ học tập, giảng dạy và nghiên cứu sau này. Đó là lí do tôi chọn đề tài Quan niệm nghệ
thuật về con người trong thơ Nôm Nguyễn Công Trứ.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Công Trứ là một nhà thơ có tên tuổi trong văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối
thế kỷ XIX. Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu tìm hiểu về cuộc đời cũng như
sự nghiệp sáng tác văn chương của ông. Có rất nhiều ý kiến đánh giá, phê bình, khen nhiều, chê
cũng không ít. Đó là điều dễ lý giải bởi thơ văn ông có phần đa tính, đầy mâu thuẫn và còn
nhiều ẩn số như chính con người nhà thơ.
Lịch sử nghiên cứu Nguyễn Công Trứ đã có gần một thế kỷ, bắt đầu chính thức với công
trình biên khảo của Lê Thước (1928). Có thể nói đây là công trình nền tảng về tư liệu có giá trị
cho đến mãi hôm nay.
Ở công trình “Trong văn học Việt nam nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ
XIX’’(1976), Nguyễn Lộc dành sự ưu ái đặc biệt cho rằng: Nguyễn Công Trứ là một nhà thơ có
vị trí đáng kể trong văn học Việt nam giai đoạn nửa đầu thế kỉ XIX. Thơ văn Nguyễn Công Trứ
bao hàm một nội dung khá phức tạp, kết tinh một trạng thái ý thức của thời đại: vừa ca tụng con
người hoạt động lại vừa ca tụng lối sống hưởng lạc, cầu nhàn; vừa ca tụng nho giáo lại vừa ca
Đối tượng mà tiểu luận đề cập tới là các kiểu quan niệm nghệ thuật về con người của
Nguyễn Công Trứ
3.2. Phạm vi nghiên cứu
GVHD: TS Hà Ngọc Hòa 2 HVTH: Nguyễn Thị Phương Ly
Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Nguyễn Công Trứ
Tài liệu chính mà chúng tôi sử dụng tìm hiểu, khảo sát là: Thơ văn Nguyễn Công Trứ của
tác giả Trương Chính, Nxb Văn học, 1983, Nguyễn Công Trứ thơ và đời của tác giả Chu Trọng
Huyến, Nxb Văn học, 1996.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành tốt đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp khảo sát - thống kê.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp.
5. Cấu trúc tiểu luận
Đề tài của chúng tôi gồm có ba phần. Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo,
phần nội dung có 3 chương chính:
Chương 1. Văn học Việt Nam giữa cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX và hành trình
sáng tạo của Nguyễn Công Trứ
Chương 2. Các kiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Nguyễn Công Trứ
Chương 3. Phương thức thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm
Nguyễn Công Trứ
GVHD: TS Hà Ngọc Hòa 3 HVTH: Nguyễn Thị Phương Ly
Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Nguyễn Công Trứ
CHƯƠNG I.
NGUYỄN CÔNG TRỨ TRONG DÒNG VĂN HỌC VIỆT NAM GIỮA CUỐI THẾ
KỈ XVIII ĐẾN ĐẦU THẾ KỈ XIX
1.1. Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam giữa cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX
Thời đại là một yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển của nền văn học và tiền đề
cho sự hình thành phong cách của nhà văn. Đồng thời, nó cũng là cơ sở để chúng ta tìm hiểu
sâu hơn về nhà văn và tác phẩm của họ. Bởi xét cho cùng, văn học là nhân học, văn học là bức
màu sắc của thời đại.
1.2. Hành trình sáng tạo của Nguyễn Công Trứ
1.2.1. Cuộc đời
Nguyễn Công Trứ tên tục là Củng, tự là Tồn Chất, hiệu là Ngộ Trai, biệt hiệu là Hy Văn,
sinh ngày 01 tháng 11 năm Mậu Tuất, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 39, tức ngày 19 tháng 12 năm
1778; người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Cha là Nguyễn Công Tấn, đậu cử
nhân năm hai mươi bốn tuổi, làm giáo thụ phủ Anh Sơn, Nghệ An, sau thăng làm tri huyện
Quỳnh Côi, rồi tri phủ Tiên Hưng, Thái Bình. Khi quân đội Tây Sơn ra Bắc chiếm Thăng Long,
Nguyễn Công Tấn xướng nghĩa cần vương chống lại, không thành, ông đưa gia đình về quê mở
trường dạy học. Nguyễn Huệ mấy lần mời ra làm quan, ông đều từ chối.
Mẹ Nguyễn Công Trứ là con gái quan quản Nội thị Cảnh Nhạc bá, họ Nguyễn, người xã
Phụng Dực, huyện Thượng Phúc, tỉnh Sơn Nam. Gia đình Nguyễn Công Trứ có sáu anh em, ba
trai, ba gái, có một bà rất thông minh, giỏi thơ văn, người đương thời gọi là Năng văn nữ sĩ.
Năm mười chín tuổi, chồng chết, bà nhất định không chịu tái giá, bỏ nhà đi tu, được Minh
Mệnh ban cho danh hiệu “Trinh tiết khả phong”.
Nguyễn Công Trứ từ bé đã sống trong cảnh nghèo khổ. Khi nhà Nguyễn đang tích cực
củng cố địa vị thống trị của mình, xã hội có vẻ ổn định, Nguyễn Công trứ hăm hở đi học đi thi.
Năm 1819, ông thi đậu Giải nguyên và được bổ đi làm quan. Bấy giờ ông đã bốn mươi mốt
tuổi.
Năm 1820 Nguyễn Công Trứ giữ chức Hành tẩu ở Quốc sử quán. Sau đó ông liên tiếp giữ
các chức Tri huyện Đường Hào, Hải Dương (1823), Tư nghiệp Quốc tử Giám (năm 1824), Phủ
thừa phủ Thừa Thiên (1825), Tham tán quân vụ, rồi thăng Thị lang Bộ hình (năm 1826). Năm
1828, ông được thăng Hữu tham tri Bộ hình, sung chức Dinh điền sứ, chuyên coi việc khai
khẩn đất hoang. Năm 1832, ông được bổ chức Bố Chánh sứ Hải Dương, cùng năm thăng Tham
tri Bộ binh, giữ chức Tổng đốc tỉnh Hải An Sau nhiều thăng giáng, năm 1845 Nguyễn Công
Trứ làm Chủ sự Bộ hình, năm sau làm quyền Án sát Quảng Ngãi, rồi đổi ra làm Phủ thừa Phủ
Thừa thiên, rồi năm 1847 ông thăng làm Phủ doãn phủ ấy. Cũng năm này, ông tròn bảy mươi
GVHD: TS Hà Ngọc Hòa 5 HVTH: Nguyễn Thị Phương Ly
Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Nguyễn Công Trứ
tuổi ta, Nguyễn Công Trứ xin về hưu, nhưng Thiệu Trị không cho. Năm 1848, Tự Đức nguyên
Giữa trời trơ cột đá, ngọn Hồng Sơn muôn thủa sánh cao)
GVHD: TS Hà Ngọc Hòa 6 HVTH: Nguyễn Thị Phương Ly
Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Nguyễn Công Trứ
Nguyễn Công Trứ là một vị quan rất thanh liêm, chính trực. Thuở bé nghèo xác, lớn lên
thi đỗ, làm quan, về già Nguyễn Công Trứ vẫn sống đạm bạc. ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH
BIÊN ghi lại câu chuyện Nguyễn Công Trứ không chịu nhận tiền hối lộ của Phạm Nguyên
Trung, Ngô Huy Phác, bắt giải cả hai người cùng tang vật sang Nam Định để xét xử về tội đi
hối lộ. Thời gian làm Dinh điền sứ, ông nhận tiền gạo của nhà nước cấp cho dân nghèo làm
vốn, số dư thừa Nguyễn Công Trứ đều đem nộp lại cho công khố. Cuối đời, Nguyễn Công Trứ
còn làm một việc rất cảm động. Năm 1858, khi nghe tin Pháp đánh Đà Nẵng, ông đã tám mươi
tuổi, nhà thơ vẫn dâng sớ lên vua, tha thiết xin được tòng quân đánh giặc: “ Dù tôi như cái màn,
cái lọng rách cũng không nỡ tự nản chí. Còn chút hơi thở nào xin lên đường ngay”. Nguyễn
Công Trứ mất ngày 14 tháng 11 năm Tự Đức thứ 12. Ông thọ 81 tuổi.
Suốt cuộc đời bốn phần năm thế kỷ của mình, Nguyễn Công Trứ đã làm nhiều việc, thâm
tâm ông bao giờ cũng đinh ninh rằng việc mình làm là “vì dân vì nước”:
Một mình để vì dân vì nước,
Túi kinh luân, từ trước để nghìn sau
1.2.2. Sự nghiệp văn học
Nguyễn Công Trứ sáng tác chủ yếu bằng chữ Nôm. Thơ văn của ông giản dị, mộc mạc
nhưng cũng đã có những bước “chuyển mình” để tân kỳ. Ông đã để lại dấu ấn của mình trên
nhiều địa hạt thể loại: phú, thơ luật, hát nói, câu đối, tuồng…Viết về cảnh nghèo và thế thái
nhân tình ta thấy một Nguyễn Công Trứ sắc sảo, lúc dí dỏm hài hước với cái nghèo, lúc xót xa
đớn đau trước sự nghèo đói của bản thân, lúc lại đắng lòng, chua xót trước thế thái nhân tình
đổi trắng thay đen. Viết về chí nam nhi, ta bắt gặp một Nguyễn Công Trứ say sưa với đời, nồng
nhiệt với đời, một đấng nam nhi muốn cống hiến hết mình cho cuộc đời.
Đã biết nòi nào thì giống ấy
Khen cho rứa cũng trổ ra bông
(Vịnh cây vông)
Ôi nhân sinh là thế ấy,
Như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao
Chí nam nhi là những tư tưởng của Nguyễn Công Trứ về công danh, sự nghiệp của kẻ làm
trai ở đời, ông xem cái chí ấy là triết lý, tư tưởng hơn nữa là kim chỉ nam cho mọi hành động
của bản thân trong cuộc đời. Dẫu cuộc đời có những bước thăng trầm, nhiều khoảnh khắc huy
hoàng nhưng cũng có lắm giây phút đắng cay nhưng ông luôn trung thành với lý tưởng đã đặt
ra. Tuy màu sắc, nội dung chí nam nhi có những biến chuyển theo cuộc đời nhưng nhờ bản chất
cứng cỏi ông đã vượt qua mọi trở ngại, hun đúc tính chất lý tưởng cao quý cho nó.
Lúc còn thiếu niên, khi chưa nếm trải những đắng cay của cuộc đời. Người thanh niên
Nguyễn Công Trứ xem chí nam nhi là nợ tang bồng. Đó là món nợ mà bất kỳ đứa con trai nào
khi cất tiếng khóc chào đời đã phải mang theo. Đó là thiên ý.
Thiên phú ngô, địa tái ngô
Thiên địa sinh ngô nguyên hữu ý
(Nợ công danh)
Trời đã cho làm nam nhi thì phải làm việc lớn, việc khác thường như thế nghĩa là trả nợ
tang bồng, nợ làm trai:
Trời đất sinh ra thì phải có chi chi
Chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu
Hay:
Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông
GVHD: TS Hà Ngọc Hòa 9 HVTH: Nguyễn Thị Phương Ly
Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Nguyễn Công Trứ
( Đi thi tự vịnh)
Sau khi làm quan, Nguyễn Công Trứ xem chí nam nhi là nợ công danh. Đó là miếng
đỉnh chung, tiếng phong hầu. Ông cũng như bao người dùi mài kinh sử để mong đỗ đạt vinh
danh, mong được bổng lộc chức tước và “Khanh hầu xa mã, tướng công lâu dài”. Ông một mực
phục vụ quân quyền mà không nề hà khó khăn. Ông hăng hái nói đến trung hiếu, kinh luân,
quân thần:
Xếp bút nghiên theo việc kiếm cung/Hết hai chữ trung trinh báo quốc
Nhưng sự đời không như ý muốn, chen chúc lợi danh với bọn triều thần, quan lại, bị
ném xuống, nâng lên ông dần chán nản danh lợi. Ông trở về bấu víu những lý thuyết về nợ tang
là kẻ sĩ ông tự ghép mình vào các mối quan hệ vua tôi, cha con, anh em…, tự thấy mình phải
thờ ai, theo ai, tự biết phải giữ gì, bỏ gì. Cho nên cũng như những kẻ sĩ khác, ông thấy mình
phải có nghĩa vụ cương thường, thực hiện đạo làm tôi, làm con, phải có trách nhiệm giữ lấy:
Nặng nề thay đôi chữ quân thân
Đạo vi tử, vi thần đâu có nhẹ
(Nợ nam nhi)
Bên cạnh đó, ông còn quy định chặt chẽ nhiệm vụ của kẻ sĩ lúc sống ở gia đình, làng xóm,
kẻ sĩ phải lo việc hiếu dễ. Khi chưa gặp thời ra tay giúp nước, kẻ sĩ phải góp phần giáo hóa xã
hội:
Xe bồ luân dầu chưa gặp Thang, Văn
Phù thế giáo một vài câu thanh nghị
Và khi thời cơ đến “rồng mây gặp hội ưa duyên”, nhiệm vụ của kẻ sĩ là phải dốc tất cả sức
mình ra làm việc ở triều đình cũng như ngoài biên ải. Mặc dù triều đại nhà Nguyễn là một triều
đại phong kiến suy tàn, dù ông ý thức rất rõ số phận chung của tất cả các kẻ sĩ khi vào chốn
quan trường đều phải chịu cảnh:
Ra trường danh lợi vinh liền nhục/Giữa cuộc trần ai khóc lộn cười
(Tình cảnh làm quan)
Cũng như bao nhà nho khác, Nguyễn Công Trứ luôn đề cao đạo trung quân, một lòng
trung thành với vua, và xem đó là ân huệ phải trả:
Ơn chúa vun trồng kể xiết bao/Một ngày càng một rấn lên cao
(Cây cau)
Đọc thơ ông chúng ta thấy hiện lên một con người trung thành, biết giữ chữ tính, biết đề
cao đạo trung hiếu:
Đường trung hiếu chữ quân thân là gánh vác
Ông tin ở chí nguyện của mình, tin quả quyết, tin thành thực nên dù thi hỏng dù đỗ muộn
ông vẫn hi vọng:
Khi vui giễu cợt mà chơi vậy
GVHD: TS Hà Ngọc Hòa 11 HVTH: Nguyễn Thị Phương Ly
Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Nguyễn Công Trứ
Tuổi tác ngần này đã chịu đâu?
của người đời:
GVHD: TS Hà Ngọc Hòa 12 HVTH: Nguyễn Thị Phương Ly
Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Nguyễn Công Trứ
Những nghĩ xa gần khéo gớm thay!/Sự đời tráo trở giống bàn tay
Hãy xem gương trước to tày liếp/ Mà biết lòng người mỏng tựa mây
(Vịnh sự đời)
Ông tỏ thái độ công kích trước bọn người tráo trở, gian lận:
Mặc sức đâm thùng và tháo đáy,
Tha hồ tráo đấu lại lừa thưng.
(Ích kỷ hại nhân)
Nguyễn Công Trứ rất quan tâm đến sự thay đổi của lòng người, chú ý đến nhân cách và
sự thoái hóa nhân cách con người. Cũng giống như Hồ Xuân Hương, nhà thơ cũng văng những
câu chửi tục rất cay độc. Dường như không thể kìm chế được lòng mình, ông đã buông ra
những câu chửi đổng:
Đù mẹ nhân tình đã biết rồi
Lạt như nước ốc bạc như vôi
(Thế tình bạc bẽo)
Phải là một người đã từng trải nghiệm giữa cuộc sống không mấy êm đềm, tốt đẹp mới
hiểu được sự đời bạc bẽo một cách thấm thía, sâu sắc đến như vậy. Nhưng điều đặc biệt so với
các nhà thơ khác cùng thời khi đề cập đến đồng tiền, đến danh lợi ta không thấy sự chán nản
hay tuyệt vọng bi quan nào, ngược lại đọc thơ Nôm của Nguyễn Công Trứ ta luôn cảm nhận
được một tinh thần lạc quan và niềm tin vào số phận:
Còn giời còn đất còn non nước
Có lẽ ta đâu mãi thế này
(Tự thuật I)
Hãy xem giời đất thời liền rõ,
Dầu nắng dầu mưa có mãi đâu
(Thế tình đen bạc)
Trong tác phẩm thơ Nôm của ông luôn hiện lên con người với tư thế chủ động, làm chủ
bản thân trước mọi hoàn cảnh, luôn có niềm tin vào một ngày mai tươi sáng hơn. Đây cũng
Quan niệm “tài” của người tài tử rất đa dạng: đó có thể là tài trị nước, tài cầm quân, tài
học vấn, tài văn chương, tài cầm, kỳ, thi, họa…Dù bị trói buộc trong quan niệm về cái ta nhưng
trên các trang văn, trang thơ của một số tác giả đã có sự xuất hiện của ý thức cá nhân. Xuân
Hương khẳng định tài văn của mình hơn hẳn những kẻ học trò khác:
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ/ Lại đây cho chị dạy làm thơ
Nguyễn Du có phần e dè hơn khi thể hiện gián tiếp qua hình tượng nhân vật Từ Hải:
Đội trời đạp đất mặc dầu/ Dọc ngang nào biết trên đời có ai
GVHD: TS Hà Ngọc Hòa 14 HVTH: Nguyễn Thị Phương Ly
Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Nguyễn Công Trứ
Đến với Nguyễn Công Trứ quan niệm con người tài tử được thể hiện một cách rõ ràng,
không một chút giấu giếm. Với ông, cái tài không phải là hình ảnh trừu tượng mà như một thứ
đồ vật, một thứ trang sức luôn đeo bên mình:
Trời đất cho ta một cái tài
Giắt lưng dành để tháng ngày chơi
(Cầm kỳ thi tửu)
Câu thơ như một độc tác vỗ ngực khoe tài. Ông ý thức được cái tài của mình và luôn
muốn khẳng định với mọi người thậm chí đôi lúc kiêu hãnh và ngông nghênh. Giọng văn hơi
khoa trương nhưng không gây khó chịu với người đọc bởi chỉ có những con người đã ý thức
được tài năng của bản thân mới nói được như vậy. Cái tài của ông dường như là thiên bẩm,
chẳng phải qua một quá trình đào tạo kham khổ nào cả, sinh ra là đã có. Thế nên, lại càng đáng
tự đáng hào, lại càng thêm đắc ý.
Cái tài đưa ông lên đỉnh cao nhất của danh vọng nhưng cũng chính cái tài đã đẩy ông vào
hoàn cảnh bế tắc, nghèo túng:
Mang danh tài sắc cho nên nợ
Quen thói phong lưu hóa phải vay
(Tự thuật I)
Không đổ lỗi cho hoàn cảnh, không đổ lỗi cho thế thời mà đổ lỗi cho tài sắc, nói như
Nguyễn Du là “Tài tình chi lắm cho trời đất ghen” hay “Cái tai liền với cái tai một vần”. Nhưng
có chăng đó chỉ là một lời biện minh nhất thời, ăn theo trào lưu. Bởi ngay sau đó, Nguyễn Công
Trứ đã thật sự lên tiếng:
Trăng soi trước mặt ngờ chân bước/ Gió thổi bên tai ngỡ miệng chào
(Tương tư)
Ở Nguyễn Công Trứ ta bắt gặp những điểm gần với nhà thơ Tú Xương. Đó chính là hành
lạc. Nếu như Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bỉnh Khiêm… xa lánh cuộc đời bon chen
làm bạn với cây cỏ hiền lành, vui với thiên nhiên thì Nguyễn Công Trứ tìm đến những “chốn ăn
chơi”. Ông lăn lóc trong những đam mê đời thường: hát ả đào, say, tuổi già cưới hầu… rồi sầu
tình, lụy tình, tương tư, buồn nhớ… rồi mơ mộng đau tủi vì cuộc nhân sinh bất như ý. Và ông
cũng cho rằng như thế là: Không Phật, không tiên, không vướng tục. Cái quý là đoạn đời cuối,
ông tự phản tỉnh và rút ra những nét phác thật sắc sảo về một cuộc đời bi hoan cay đắng, chất
chồng:
Ngồi buồn mà trách ông xanh
Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười
GVHD: TS Hà Ngọc Hòa 16 HVTH: Nguyễn Thị Phương Ly
Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Nguyễn Công Trứ
Con người ngất ngưởng ấy tự trào khi nằm cạnh cô đào trẻ về tuổi của mình rằng: Ngũ
thập niên tiền nhị thập tam, và cũng đã không ít lần ông “tương tư”, ông “bỡn đào già”, “bỡn
vợ lẽ”, …Đây, một đoạn trong bài thơ Lời tiểu thiếp tự tình:
Chốn cô phòng năn nỉ với cầm chi
Đường viễn hoạch ngõ hầu tình chăng nhẽ?
Văn học trung đại là văn học của cái ta cho nên đưa cái tôi vào văn học được xem là một
điều tối kỵ. Mặc dù giai đoạn này đã phá vỡ mọi khuôn phép của xã hội phong kiến, nhu cầu
thể hiện khát vọng cá nhân được đề cao nhưng dù sao nó cũng thuộc về quy ước trong khuôn
khổ của văn học cổ.
Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời
(Cầm kỳ thi tửu)
Ngay từ đầu đề nhiều bài thơ, ông nhắc đến rượu, đánh tổ tôm: Cầm kỳ thi tửu, Say rượu
đánh long thành, Uống rượu tự vịnh, Khách nợ tổ tôm, Đánh tổ tôm… Điều đó cũng chứng tỏ
rượu, đánh tổ tôm, hát ả đào đều là những thú chơi được con người nâng lên thành thú chơi tinh
tế đầy nghệ thuật, đặc biệt có ý nghĩa đối với đời sống tinh thần của mỗi con người. Đọc thơ
Nguyễn Công Trứ, ta thấy hiện lên hình tượng con người đang ngất ngưỡng cùng với rượu,
trong thơ ca cũng như trong suốt cuộc đời họ. Tâm hồn người nghệ sĩ từ muôn thưở vẫn đa tình
và nhan sắc người phụ nữ luôn là nguồn cảm hứng cho các thi phẩm của các nhà thơ tài tử. Thơ
văn Nguyễn Công Trứ nói chung thơ Nôm nói riêng, hình tượng người phụ nữ được nhắc đến
nhiều lần. Có thể nói, đây là hình tượng chủ yếu trong loại thơ hành lạc của ông. Thú hành lạc
trong thơ Nguyễn Công Trứ đã đưa ông lên một đẳng cấp khác trong văn đàn Việt Nam.
Con người Nguyễn Công Trứ rất đa tình. Đa tình ngay từ khi chỉ mới là một cậu học trò
chưa có danh vị gì. Một lần, cậu học trò thấy cô con gái ông đốc học đi chơi bèn nhỏ nước giầu
vào áo cô gái có ý trêu ghẹo nhưng không may bị lính bắt trói ngoài cổng trình quan. Ông đốc
học bắt làm thơ. Thi sĩ dõng dạc đọc:
Thoát chối tài nghe một tiếng ồ/ Hỡi người ướt áo đừng năn nỉ/Có rứa rồi ra mới được mùa
Người đàn ông đa tình ấy đã rung lên những nhịp đập yêu thương trước nữ nhi không biết
bao nhiêu lần và chính thức có tới 24 bà vợ. Một con số có thể sánh với các bậc đại quan,
vương tôn. Khi phải xa người vợ bé mới cưới ông cũng thao thức, trăn trở nhớ nhung biết
nhường nào:
Tương tư không biết cái làm sao/ Muốn vẽ mà chơi vẽ được sao
Khi phải chia tay người vợ lẽ ông cũng đau khổ biết nhường nào khi “Giữa đường đứt
gánh tương tư” nhưng hơn hơn hết là sự lo lắng cho tương lai phía trước của người phụ nữ đã
dở dang cuộc đời vì mình:
Mười hai bến nước một con thuyền
Tình tự xa xôi đố vẽ nên
GVHD: TS Hà Ngọc Hòa 18 HVTH: Nguyễn Thị Phương Ly
Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Nguyễn Công Trứ
Tự biệt nhiều lời so vắn giấy
Tương tư nặng gánh chứa đầy thuyền
(Bỏ vợ lẽ cảm tác)
Triết lý hành lạc của Nguyễn Công Trứ đòi hỏi một sự làm chủ bản thân cao độ, sự hun
đúc ý chí, mài giũa tài nghệ. Trong sự chơi ấy, đằng sau cái say mê là sự tỉnh táo, đằng sau cái
hăm hở là sự bình tĩnh, bên cạnh chí hiếu thắng là sự sẵn sàng chấp nhận thất bại, là thái độ
nhập cuộc nghiêm túc song hành với cái nhìn thanh thản nhẹ nhõm cười cợt đối với cuộc chơi:
Trời đất cho ta một cái tài
Ngôn từ gần gũi đến mức thông tục. Ta không nhận thấy sự trau chuốt của ngôn từ, sự
dụng công khi lựa chọn ngôn từ để đưa vào câu thơ nhưng ta cảm nhận được một cách hết sức
chân thực tâm trạng bực tức của nhân vật trữ tình trước thói đời xấu xa.
Nguyễn Công Trứ là người học rộng, hiểu nhiều vào bậc nhất ở vùng địa linh nhân kiệt –
Hà Tĩnh nhưng hơn 90% thi phẩm của ông là dành cho chữ Nôm. Ta hãy thử đọc bài thơ
Tương tư của ông:
Tương tư không biết cái làm sao?
Muốn vẽ mà chơi, vẽ được nào!
Khi đứng khi ngồi khi nói chuyện
Lúc say lúc tỉnh lúc chiêm bao
Trăng soi trước mặt, ngờ chân bước
GVHD: TS Hà Ngọc Hòa 20 HVTH: Nguyễn Thị Phương Ly
Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Nguyễn Công Trứ
Gió thổi bên tai, ngỡ miệng chào
Một nước một non, người một ngả
Tương tư không biết cái làm sao?
Một bài thơ 56 chữ làm theo thể Thất ngôn bát cú Đường luật chẳng thấy xuất hiện một
chữ Hán nào.
Thậm chí, rất nhiều bài thơ ta thấy xuất hiện từ địa phương quen thuộc ở vùng quê ông:
Khi nãy nắng nôi ra thế ấy
Bây giờ mát mẻ biết chừng mô
Hỡi người ướt áo đừng năn nỉ
Có rứa rồi ra mới được mùa
(Trời mưa ướt áo)
Một lưng một vốc kém chi mô
Rồi đây nỏ biết quên hay nhớ
Khen cho rứa cũng trổ ra bông
Nguyễn Công Trứ cũng đưa nhiều tục ngữ, thành ngữ vào thơ hoặc những vần thơ tư duy
theo lối tư duy của thành ngữ tục ngữ:
mình:
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương mới quệt rồi
(Mời trầu)
Với Nguyễn Công Trứ, ta thấy một cá nhân mạnh mẽ và cao ngạo hơn rất nhiều lần. Đó là
hình ảnh của một người tài tử đang ngạo nghễ giữa đời một cách tự nhiên.
Trời đất cho ta một cái tài
Hay:
Thời đâu riêng khó cho ta mãi/Vinh nhục dù ai cũng một lần
(Người giỏi thường nghèo)
Cái ta cao ngạo ấy mạnh mẽ đứng giữa trời đất, dẫu lúc vinh hay lúc nhục cũng không bao
giờ lùi bước. Khi làm quan cái ta thể hiện bản lĩnh, lúc nghèo khó lại chứa đựng niềm lạc quan,
tin tưởng vào cuộc đời.
Có khi, cá nhân lại xuất hiện với một “cái tao”:
Tao ở nhà tao, tao nhớ mi/ Nhớ mi nên phải bước chân đi.
Không đi mi nói rằng không đến/ Đến thì mi nói đến làm chi.
Làm chi tao đã làm chi được, /Làm được thì tao đã làm cho.
(Bỡn tình nhân)
GVHD: TS Hà Ngọc Hòa 22 HVTH: Nguyễn Thị Phương Ly
Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Nguyễn Công Trứ
“Tao” là một đại từ xưng hô thông thường dùng trong văn nói, bởi nó có tính chất suồng
sã, thân mật. Trong văn chương, ta thấy rất ít các tác giả dùng chữ “tao”. Khi chữ tao hiện lên
trên những vần thơ của Nguyễn Công Trứ, ta không thấy sự khó chịu hay bất bình mà hiện lên
là một chất giọng thách thức, đầy ngạo mạn. Đây là một cái tao đứng trên người khác và có vẻ
xem thường, đầy khinh bạc. Ông viết về nỗi nhớ thói hành lạc – nhân tình của mình, biết điều
đấy chẳng nên nhưng vẫn cứ làm. Đại từ “tao” đi vào thơ ông kết hợp với nhịp thơ đã tạo nên
một chất giọng thách thức như hệ quả tất yếu của một cá tính mạnh mẽ, dám đi giữa cuộc đời
trước một cái tôi đầy gai góc.
3.2. Không gian và thời gian nghệ thuật
3.2.1. Không gian nghệ thuật
Khung cảnh thiên nhiên ấy làm phông nền cho sự xuất hiện của người quân tử. Giữa sự
rét mướt đến rợn người của mùa đông, sáng bừng lên hình ảnh của cây tùng – người quân tử.
Không gian chốn quan trường bon chen lợi danh:
Hễ không điều lợi khôn thành dại/Đã có đồng tiền dở hóa hay
(Thế thái nhân tình)
Khôn khéo chẳng qua thằng có của/Yêu gì đâu đến đứa không nhà
Tiền tài hai chữ son khuyên ngược/Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi
(Thế tình bạc bẽo)
Không gian thu hẹp lại nơi góc nhỏ tâm hồn của tác giả. Ôm nỗi tương tư trong lòng khi
nhớ về người ái thiếp, trèo non lội suối lên với đức ông chồng
Trăng soi trước mặt ngờ chân bước/ Gió thổi bên tai ngỡ miệng chào
Một nước một non người một ngã/ Tin xuân đã có nhành mai đó
Chẳng lịch song mà cũng biết giêng/ Ngó lại hàng rào hương cúc trộn
Con người trong văn học Trung đại luôn đặt mình vào trong không gian vũ trụ. Nhà thơ
đặt con người trong mối quan hệ với vũ trụ thiên địa nhân. Vũ trụ ở đây là mây, nước, trăng,
gió…Nguyễn Du ngợi ca vẻ đẹp nàng Kiều bằng các nét chấm phá những hình ảnh thiên nhiên,
Từ Hải hành động ngang tàng “Chọc trời khuấy nước mặc dầu”
Nguyễn Công Trứ cũng đặt con người vào trong không gian vũ trụ:
Dở đem thân thế hẹn tang bồng
(Đi thi tự vịnh)
Ca dao từng phê phán những kẻ nam nhi nhưng lại thiếu ý chí:
Chồng người đi ngược về xuôi
Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo
Nguyễn Công Trứ bước vào cuộc đời dù là khi còn trẻ cho đến khi tóc bạc luôn mang một
khí thế hừng hực, tràn đầy hào khí của một kẻ dám dấn thân, dám khẳng định. Không gian mà
ông muốn chiếm lĩnh là không gian vũ trụ to lớn. Chỉ có sống trong không gian ấy ông mới
GVHD: TS Hà Ngọc Hòa 24 HVTH: Nguyễn Thị Phương Ly
Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Nguyễn Công Trứ
thỏa lòng, thỏa ý chí của mình. Con người mang ý chí, khí phách phi thường. Ông là kiểu con
người hành đạo, một con người không chịu “yên ổn”, lúc nào cũng tràn đầy sinh lực muốn cống
GVHD: TS Hà Ngọc Hòa 25 HVTH: Nguyễn Thị Phương Ly