A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Lịch sử Dân tộc Việt Nam có hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Đó là những
trang sử vẻ vang đầy tự hào của dân tộc, là sự kết tinh tuyệt vời của truyền thống, con người
và trí tuệ Việt Nam. Ngay từ thời các vua Hùng dựng nước, với một vị trí địa lý thuận lợi,
nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, đất nước ta luôn luôn là đối tượng nhòm ngó của các
đế chế phong kiến phương Bắc. Luôn có tư tưởng bành trướng xuống phía Nam, phong kiến
Trung Hoa đã không ít lần tấn công xâm lược nhằm thôn tính Bách Việt, trong đó có nước
ta. Nhưng mỗi lần quân xâm lược tiến vào nước ta là chúng phải chuốc lấy thất bại. Bởi với
tinh thần đoàn kết một lòng, với quyết tâm giữ nước và lòng tự hào dân tộc, chúng ta đã viết
nên những thắng lợi huy hoàng, những chiến công hiển hách đập tan mọi âm mưu xâm lược
của kẻ thù. Những trận Bạch Đằng, Chi Lăng - Xương Giang, Ngọc Hồi - Đống Đa…đi vào
lịch sử là niềm tự hào của bao thế hệ người Việt Nam. Làm nên những thắng lợi ấy là công
lao của toàn thể dân tộc sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn gian khổ, hi sinh để chiến đấu
chống kẻ thù hung bạo.
Trong những trang sử vẻ vang chống ngoại xâm đó, thời Trần là một trong những
thời đại tiêu biểu cho tinh thần hòa hợp, đoàn kết dân tộc, tinh thần quyết chiến chống giặc
ngoại xâm giành những thắng lợi vĩ đại. Những quốc sách về dựng nước và giữ nước tiến bộ
đã giúp cho nhà Trần đạt tới những đỉnh cao cả về võ công và văn trị, tạo nên cái hào khí
Đông A của nước Đại Việt trong gần hai thế kỷ.
Trong sự nghiệp hiển hách của nhà Trần, Trần Quốc Tuấn có vai trò đặc biệt quan
trọng. Ông là người có đạo đức tiêu biểu của một vị tướng, luôn nêu cao tấm gương sáng
ngời về lòng trung nghĩa, biết gạt bỏ hiềm khích riêng tư, luôn lấy đại nghĩa làm trọng để
đoàn kết tôn thất, triều đình, đoàn kết tướng sĩ, quân dân, nêu cao tinh thần “quyết chiến
không sợ kẻ thù hung bạo”.
Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Quốc Tuấn gắn liền với cuộc kháng chiến chống
giặc Mông - Nguyên, gắn với những chiến công vĩ đại của dân tộc ta hồi thế kỷ XIII. Bằng
tài năng chính trị - quân sự kiệt xuất và tấm lòng tận trung với nước, Trần Quốc Tuấn đã chỉ
huy quân đội và triều đình nhà Trần bảo vệ vững chắc nền độc lập, đưa nước Đại Việt tiếp
1
tục phát triển phồn thịnh và có uy tín lớn trong khu vực. Công lao to lớn này đã đưa Trần
2
Trong hào khí Đông A của buổi phục hưng, nước Đại Việt nhỏ bé chỉ chừng năm
triệu dân đã đương đầu thắng lợi trước những cuộc xâm lăng quy mô lớn của đế chế Mông -
Nguyên đến từ phương Bắc, lập nên những võ công hiển hách, giữ vững nền độc lập. Nếu
như Lý Thường Kiệt là linh hồn của cuộc kháng chiến chống Tống kiên cường thời Lý, thì
Trần Hưng Đạo là trụ cột của triều đình nhà Trần trong ba lần kháng chiến thần thánh chống
Mông - Nguyên hung bạo, giúp nhà Trần tồn tại và phát triển từ nửa sau thế kỷ XIII và đầu
thế kỷ XIV. Với vai trò to lớn như vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về những
đóng góp, công lao to lớn của Trần Hưng Đạo trong ba lần kháng chiến chống Mông -
Nguyên.
Qua quá trình tìm hiểu các công trình nghiên cứu về Trần Hưng Đạo, trên cơ sở các
nguồn tài liệu thu thập được, chúng tôi tiến hành thống kê, tập hợp và sắp xếp phân loại như
sau:
Nhóm thứ nhất gồm các tác giả nghiên cứu khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của
Trần Hưng Đạo. Có thể kể đến các tác giả như Hoàng Thúc Trâm với tác phẩm “Trần Hưng
Đạo”, Nxb. Vĩnh Bảo, Sài Gòn, hay “Trần Hưng Đạo- Tiểu sử, sự nghiệp, tác phẩm” của
Nguyễn Khắc Thuần, Nxb. Trẻ Thành Phố Hồ Chí Minh, 1987. Ngoài ra, còn có rất nhiều
sách, tạp chí đề cập đến Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn ở nhiều lĩnh vực khác nhau như:
“Anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn tức Trần Hưng Đạo và Di tích lịch sử Kiếp Bạc”, Sở
Văn hóa - Thông tin Hải Hưng, xuất bản năm 1978; “Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn”
của Trịnh Quang Khanh, Sở Văn hóa - Thông tin Nam Định, xuất bản năm 1999; “Việt
Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng” của Nguyễn Lương Bích, Nxb Quân đội nhân dân,
Hà Nội, 1981; “Đánh bại giặc Nguyên” của Hoàng Lê, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1979;
“Đại việt sử ký toàn thư”, tập 2 của Ngô Sĩ Liên, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1967.
Sử gia Nguyễn Khắc Thuần trong bài phỏng vấn “Trần Hưng Đạo – tinh hoa quân
sự Việt Nam” đăng trên báo Đất Việt và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bài viết của mình
nhân dịp kỷ niệm 700 năm ngày mất của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, ngày
16/9/2000 cũng đã một lần nữa khái quát một cách toàn diện tài năng quân sự - chính trị của
người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo.
Nhóm thứ hai gồm các tác giả nghiên cứu một cách chuyên sâu về cuộc đời và đặc
Thứ nhất, khóa luận nghiên cứu những nét khái quát về nước Đại Việt thời nhà Trần
(1226 – 1400) và cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên ở thế kỷ XIII.
4
Thứ hai, tìm hiểu thân thế và sự nghiệp của Trần Hưng Đạo.
Thứ ba, khóa luận tập trung làm rõ vị trí và đóng góp của Trần Hưng Đạo trong ba
lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên.
Thứ tư, từ việc phân tích đóng góp của Trần Hưng Đạo, khóa luận làm rõ nghệ thuật
quân sự của ông.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng
- Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của đế quốc Mông – Nguyên.
- Nghiên cứu tình hình lịch sử Việt Nam thế kỷ XIII và cuộc kháng chiến chống quân
xâm lược Mông - Nguyên của Đại Việt dưới sự lãnh đạo của nhà Trần.
- Nghiên cứu khái quát thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của Trần Hưng Đạo.
- Đặc biệt khóa luận đi sâu làm rõ vị trí và công lao của Trần Hưng Đạo trong ba lần
kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên.
4.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Về không gian
Khóa luận chủ yếu tập trung nghiên cứu những diễn biến lịch sử ở Việt Nam, đồng
thời có mở rộng tìm hiểu thêm các diễn biến lịch sử ở Trung Quốc và Mông Cổ.
4.2.2. Về thời gian
Khóa luận tập trung nghiên cứu vai trò của Trần Hưng Đạo trong khoảng thời gian
diễn ra ba lần kháng chiến chống Mông – Nguyên (1258- 1288), tuy nhiên để có một cái
nhìn khoa học và khách quan, khóa luận mở rộng nghiên cứu thời gian từ khi nhà Trần
thành lập đến khi cuộc kháng chiến chống Mông Cổ diễn ra (1226 - 1257) và cả thời gian
sau khi kết thúc cuộc kháng chiến lần thứ ba tới lúc Trần Quốc Tuấn qua đời (1289 – 1300).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5
5.1. Phương pháp luận
Thực hiện khóa luận, tác giả đứng trên cơ sở quan điểm phương pháp luận Mác xít-
Nguyên.
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NƯỚC ĐẠI VIỆT Ở THẾ KỶ XIII VÀ CUỘC CHIẾN TRANH XÂM
LƯỢC CỦA ĐẾ QUỐC MÔNG - NGUYÊN
7
1.1. Nhà Trần thế kỷ XIII
Đầu thế kỷ XIII, nhà Lý lâm vào khủng hoảng, suy sụp; Trần Thủ Độ thâu tóm được
quyền lực và đạo diễn một cuộc chính biến cung đình khéo léo bằng màn kịch vua Lý Chiêu
Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Năm 1226, vương triều Trần được thành lập, nhà Trần
ra sức khôi phục và phát triển kinh tế, củng cố bộ máy nhà nước, xây dựng quốc gia thống
nhất, thịnh vượng, có quân đội chính quy hùng mạnh.
Chế độ quân chủ quý tộc được khôi phục và tăng cường về mọi mặt. Nhiều chính sách
và biện pháp quan trọng nhằm củng cố bộ máy nhà nước được nhà Trần áp dụng như định
ra luật lệ “Quốc triều thông chế” (quy định tổ chức hành chính); “Quốc triều hình luật”
xây dựng chính quyền, ưu đãi các quý tộc và hoàng tộc. Quý tộc thời Trần có quyền to lớn
về chính trị, kinh tế, quân sự. Từ năm 1258, vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho con là
Trần Hoảng để lên làm Thái Thượng hoàng, chế độ nhường ngôi để lên làm Thượng hoàng
chính thức bắt đầu từ đó.
Triều Trần hết sức coi trọng việc phục hồi và phát triển kinh tế. Để khôi phục lại sức
sản xuất bị đình đốn cuối thời Lý, nhà Trần đã tổ chức khai khẩn đất hoang, mở rộng diện
tích sản xuất nông nghiệp. Ở mỗi lộ, có hai viên đồn điền chánh sứ và phó sứ đôn đốc việc
khai khẩn đất đai, lập đồn điền của nhà nước. Năm 1226, vua Trần xuống chiếu cho các
vương hầu, công chúa, phò mã, cung phi chiêu mộ những người dân nghèo đói, phiêu tán
làm nô tỳ, khai khẩn ruộng hoang, lập thành các điền trang. Bọn quý tộc sai các nô tỳ đến
những vùng ven biển đắp đê ngăn nước mặn. Qua hai, ba năm, đất khai phá trở thành đồng
ruộng, đó là những điền trang của quý tộc.
Nhà Trần cũng rất chú ý tới việc đắp đê phòng lụt. Năm 1248, Thái Tông hạ lệnh cho
các lộ đắp đê từ đầu nguồn đến bãi biển để đề phòng nước sông dâng to, gọi là đê “đỉnh
nhĩ” (quai vạc), đặt chức Hà đê chánh sứ và phó sứ để trông coi việc đắp đê. Đê “đỉnh nhĩ”
ra đời thể hiện một bước tiến toàn diện về sức mạnh nhà nước, về tổ chức xã hội, có tác
cơ bị kẻ thù lớn xâm lược, để kết hợp cả hai mặt kinh tế và quân sự, giữa xây dựng và chiến
đấu, để có một đội quân thường trực tinh nhuệ, có số lượng hợp lý lúc hòa bình, nhưng lại
có một lực lượng dự bị hùng hậu khi chiến tranh xảy ra có thể huy động được đông đảo số
lượng binh sĩ, triều Trần đã kế thừa và vận dụng thành công chính sách “ngụ binh ư nông”.
“Ngụ binh ư nông” là gửi binh lính làm nông nghiệp thời hòa bình bằng cách chia quân đội
làm năm phiên, trong đó bốn phiên được cho phép về quê làm ruộng, chỉ giữ lại một phiên
vừa huấn luyện vừa làm nhiệm vụ thường trực bảo vệ triều đình và chiến đấu đột xuất. Cứ
9
thế các phiên thay nhau huấn luyện. Khi có chiến tranh thì huy động tất cả năm phiên về
thành chủ lực của triều đình. Chính sách này đã giúp nhà nước giải quyết hài hòa được hai
nhân tố chất lượng và số lượng, bảo đảm cân đối giữa quân thường trực và quân dự bị; khi
hòa bình vẫn đủ sức canh phòng, thời chiến huy động được đông đảo quân đội, thực hiện
chiến tranh nhân dân, toàn dân là lính. Như vậy có thể xem đây là sự kết hợp giữa xây dựng
kinh tế và quốc phòng của thời Trần. Về lý luận quân sự, “Binh thư yếu lược” của Trần
Quốc Tuấn có giá trị cao về lý luận lẫn thực tiễn được dùng vào huấn luyện cho tướng sĩ.
Như trong tác phẩm “Lịch sử nước ta”, Bác Hồ đã viết:
“Đời Trần văn giỏi võ nhiều
Ngoài dân thịnh vượng, trong triều hiển minh”
Tuy nhiên, bấy giờ khoa học quân sự của Đại Việt chưa phát triển nhiều, nền kinh tế
vẫn đơn thuần là kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc là chủ yếu, nước Đại Việt đất không rộng,
người không đông. Thế nhưng, với vị trí chiến lược trọng yếu, quốc gia Đại Việt đã trở
thành mục tiêu xâm lược của đế quốc Mông - Nguyên - một kẻ thù xâm lược hùng mạnh và
tàn bạo. Bấy giờ, đế quốc Mông Cổ chẳng khác gì một con ác thú khổng lồ, mình phủ kín cả
một vùng rộng lớn, kéo dài từ Hắc Hải đến Thái Bình Dương. Đất đai, dân số và tiềm lực
kinh tế to lớn gấp hàng trăm lần so với Đại Việt. Trong khi đó, đất Đại Việt mới khoảng từ
phía bắc tỉnh Quảng Trị ngày nay trở ra đến biên giới Việt - Trung, dân số Đại Việt ước tính
khoảng hơn ba triệu người. Đã thế, Đại Việt lại vừa thoát khỏi cuộc khủng hoảng trầm
trọng. Nhờ chính sách đoàn kết quân dân đúng đắn, nhờ chính sách cai trị khoan hòa, có
nhiều nhân tài mà Đại Việt đã vượt qua được thử thách đầy cam go ở thế kỷ XIII. Bởi vậy,
trong ba lần kháng chiến chống Mông - Nguyên, Đại Việt đã chiến thắng. Trần Hưng Đạo
Trinhhít Khan (Thành Cát Tư Hãn). Từ đó, một nhà nước quân sự độc tài chuyên chế mang
tư tưởng bành trướng và thôn tính mạnh mẽ đã ra đời.
Têmugin ra sức xây dựng lực lượng vũ trang, tuyển lựa tướng sĩ, luyện tập quân đội.
Từ những đội quân thân binh trong cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc trước đó, các Hoàng đế
Mông Cổ đã phát triển thành những đội kỵ binh cơ động, thiện chiến với một nghệ thuật
quân sự độc đáo.
Quân đội của người Mông Cổ được tổ chức đơn giản mà hiệu quả; không giống
những chiến binh du mục khác, chỉ biết di chuyển như người Hung nô; người Mông Cổ rất
giỏi trong nghệ thuật bao vây.
Người Mông Cổ nổi tiếng với những chiến thuật chiến đấu hiệu quả và vô cùng đáng
sợ. Để có được thành quả này, họ đã phải rèn luyện, huấn luyện khả năng chiến đấu của
11
người chiến binh qua những trận đánh lớn nhỏ. Những thành tích chiến đấu của những chỉ
huy nổi tiếng như Alexander Đại Đế hay Hannibal Barca vẫn bị đánh giá thấp hơn đội quân
Mông Cổ trong thời kì đỉnh cao do Thành Cát Tư Hãn thống lĩnh.
Người Mông Cổ có hai lối đánh nổi bật đó là bất ngờ đánh nhanh thắng nhanh và giả
vờ thua trận, rút chạy rồi bất ngờ quay lại phản công. Cả hai chiến thuật này đều làm cho
hàng ngũ địch bị mất tinh thần, rối loạn. Nhiều tướng lĩnh Đông Âu đã bị thất trận trước
chiến thuật thứ hai. Người Mông Cổ cũng là bậc tiền bối trong lĩnh vực bao vây và bắt giữ
con tin. Sự kết hợp giữa đội quân tinh nhuệ và chiến thuật thông minh đã làm nên nhiều
chiến thắng huy hoàng.
Người Mông Cổ sống rong ruổi trên các thảo nguyên rộng lớn nên bạn đồng hành
không thể thiếu của họ là những con ngựa. Họ trở nên vô cùng mạnh mẽ khi chiến đấu trên
lưng ngựa. Ngựa cũng được coi là một chiến binh, một trong những thứ vũ khí không thể
thiếu của người Mông Cổ.
Người Mông Cổ cũng sử dụng nhiều loại vũ khí khác như lưỡi kiếm cong giúp họ
chiến đấu thuận lợi ngay cả khi đang trên lưng ngựa hay trên mặt đất. Chùy, búa, dao găm
cũng là những vũ khí đánh gần phổ biến của quân đội Mông Cổ. Vũ khí tấn công từ xa phổ
biến nhất chính là cung tên. Trong sử sách, khả năng dùng cung tên của người Mông Cổ
cũng đã được công nhận. Họ sử dụng nhiều loại tên nổi tiếng, đặc biệt là tên còi (một loại
chinh xâm lược nước Kim. Năm 1232, quân Mông Cổ tiến công vào Hà Nam, chiếm đóng
Thái Châu. Thôn tính xong nước Kim (năm 1234), quân Mông Cổ chuẩn bị ráo riết cho
cuộc xâm chiếm Nam Tống.
Năm 1236, Ôgôđây huy động ba đạo quân đánh Tống. Đạo thứ nhất vượt qua Tứ
Xuyên, đánh vào Thành Đô; đạo thứ hai đánh vào Hồ Bắc chiếm Tương Dương; đạo thứ ba
tiến đánh vùng Hán Khẩu. Cuộc chiến tranh xâm lược Nam Tống phải kéo dài hơn 40 năm
mới chấm dứt.
Để thực hiện tham vọng mở rộng lãnh thổ của đế quốc Mông Cổ, từ năm 1236,
Ôgôđây đã huy động một lực lượng mạnh gồm 15 vạn quân đặt dưới quyền thống soái của
Ba Tu (cháu nội của Tringhít Khan) ồ ạt tiến sang phía tây, lần lượt chiếm đóng vương quốc
Vlađimia (năm 1238), Kiép và toàn bộ vùng Ucraina (năm 1240), Caracốp (Ba Lan). Năm
1241, quân Mông Cổ đánh tan liên quân Ba Lan- Tiệp, chiếm Hunggari vào năm 1242.
Năm 1241, Ôgôđây chết, nội bộ quý tộc Mông Cổ mâu thuẫn gay gắt, ngôi Hãn bỏ
trống cho đến năm 1246, Guyúc (em trai Ôgôđây) được cử làm Đại Hãn, nhưng Ba Tu
không thừa nhận. Năm 1248, Guyúc chết trên đường đem quân đánh Ba Tư. Từ đó, Môngke
giữ ngôi Đại Hãn và các cuộc chinh phạt của đế quốc Mông Cổ vẫn tiếp diễn. Từ đây, quân
Mông Cổ đẩy mạnh bành trướng xuống phía nam.
13
Năm 1241, quân Mông Cổ đánh vào Hunggari, đuổi vua của Hunggari đến tận biên
giới của nước Ý. Bấy giờ, cả Châu Âu bị chấn động dữ dội bởi vó ngựa hung hãn của quân
Mông Cổ. Nỗi lo sợ bao trùm lên mọi quốc gia.
Năm 1252, ngay khi cuộc thôn tính Trung Quốc còn đang dở dang, Môngke đã ra
lệnh cho em của hắn là Hốt Tất Liệt (Khubilai) đánh xuống Vân Nam. Cùng đi với Hốt Tất
Liệt còn có tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uyrăngkhađai). Bấy giờ, đất Vân Nam thuộc lãnh
thổ của nước Đại Lý và vua của nước Đại Lý lúc ấy là Đoàn Hưng Trí. Chỉ trong vòng một
thời gian ngắn, nước Đại Lý bị tiêu diệt. Hốt Tất Liệt trở về Mông Cổ, giao quyền quản lí
đất nước cho Ngột Lương Hợp Thai. Năm 1258, sau khi cho sứ giả chiêu dụ vua Trần bất
thành, Ngột Lương Hợp Thai đã đưa quân tấn công xâm lược Đại Việt để mở rộng lãnh thổ,
đồng thời lấy Đại Việt làm bàn đạp để tấn công Nam Tống từ phía nam. Tuy nhiên, cuộc tấn
công này của quân Mông Cổ đã bị quân dân Đại Việt đánh bại.
con sông nào không tràn đầy nước mắt của chúng ta, không một ngọn núi, một cánh đồng
nào không bị quân Tácta giày xéo…” [14; 38]. Các Mác cũng đã viết về tội ác của quân
Mông Cổ khi xâm lược Trung Á: “Nghệ thuật, những thư viện phong phú, nền nông nghiệp
ưu việt, cung điện và giáo đường - tất cả sạch không”.
Nước Đại Việt của nhà Trần với một vị trí địa lý đặc biệt quan trọng, là cửa ngõ giữa
Đông Nam Á đất liền và hải đảo, nằm ở Đông Nam của đại lục châu Á, nhìn ra Thái Bình
Dương, ở trên con đường giao thông thủy bộ thuận lợi từ nam lên bắc, từ đông sang tây
Mặt khác nước ta vốn từ xưa đã nổi tiếng là nơi có “rừng vàng biển bạc”. Với vị trí trọng
yếu và những nguồn tài nguyên phong phú, Đại Việt là nơi giao lưu nhiều luồng văn hóa
Đông- Tây và cũng là địa bàn chiến lược mà nhiều thế lực ngoại xâm nhòm ngó, thèm khát.
Mặt khác, kẻ thù muốn đánh chiếm nước ta không chỉ để bóc lột nhân dân, vơ vét của cải,
khai thác nguồn tài nguyên phong phú, mà còn muốn biến nước ta thành một đầu cầu chiến
lược để bành trướng khắp vùng Đông Nam Á. Vì thế, sau khi hoàn tất việc thôn tính đất đai
Trung Quốc, Hốt Tất Liệt bắt đầu huy động những đạo quân thiện chiến và khổng lồ để tiến
đánh nước ta. Đây quả thật là cuộc đối đầu có một không hai trong lịch sử Đại Việt, đặt
quân dân Đại Việt đứng trước thách thức nghiêm trọng mất còn.
CHƯƠNG 2: VỊ TRÍ CỦA TRẦN HƯNG ĐẠO TRONG BA LẦN KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MÔNG - NGUYÊN
2.1. Tiểu sử Trần Hưng Đạo
Trần Hưng Đạo sinh ra tại làng Kiếp Bạc, xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải
Dương; nguyên quán của ông là làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Năm lên 4-5
tuổi, Trần Quốc Tuấn theo cha là An Sinh Vương Trần Liễu (lúc đó là Khâm Minh Thái
15
Vương) bị đày đến Ái Châu, nơi giam cầm trọng tội. Trưởng công chúa là Thụy Bà thương
anh cả mình vô tội bị đầy, bèn năn nỉ anh kế là vua Trần Thái Tông nhận Trần Quốc Tuấn
làm con đem về Thăng Long nuôi dạy. Để tránh sự soi mói của triều đình, Trần Quốc Tuấn
được công chúa Thụy Bà gửi tại chùa Phật Quang làng Khúc Thủy, xã Cự Khê, huyện
Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, nhờ sư trụ trì chùa này dạy dỗ cho tới năm ông lên 10 tuổi. Khi lớn
lên, Trần Quốc Tuấn có dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, học thông hiểu rộng,
văn võ song toàn. Một người coi tướng thấy ông nói rằng: “Người này ngày sau có tài kinh
Trần Hưng Đạo sớm bộc lộ tài mưu lược, anh hùng, là người trung nghĩa nên đã giữ
được những nhân tài chung quanh ông. Ví dụ như khi vua Trần Thánh Tông ướm hỏi Trần
Quốc Tuấn rằng: “Thế giặc như vậy, ta phải hàng thôi”. Trần Quốc Tuấn đã khẳng khái trả
lời: “Bệ hạ chém đầu thần trước rồi hãy hàng”. Tiếng vang đến giặc phương Bắc, chúng
thường gọi Trần Quốc Tuấn là An Nam Hưng Đạo Vương mà không dám gọi bằng tên.
Nhân dân Việt Nam vô cùng kính trọng ông và tôn ông là vị anh hùng dân tộc có
công trạng lớn vào hàng bậc nhất đối với Tổ quốc và là tấm gương sáng ngời cho các thế hệ
sau học tập.
Ngoài tài dụng người, dụng binh, ông là nhà lý luận quân sự Việt Nam tầm cỡ đã
từng soạn các binh thư như “Binh gia diệu lý yếu lược” (còn gọi là “Binh thư yếu lược”) và
“Vạn kiếp tông bí truyền thư” để dạy các tể tướng quân sĩ. Ông còn soạn Hịch để khích lệ
tướng sĩ dưới quyền.
Trần Hưng Đạo là người thông minh đĩnh ngộ, văn võ song toàn; chí biết dẹp thù
nhà, thân biết đoàn kết anh em dòng họ cùng lo toan việc nước. Ông nghiên cứu binh thư,
biết dùng người hiền tài, coi binh sĩ như tay chân. Ông là hiện thân của một vị tướng có đủ:
Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Tín. Cả ba lần chống quân Mông - Nguyên, ông đều lập được
nhiều công, đặc biệt là lần thứ hai và lần thứ ba. Sau khi cuộc kháng chiến chống quân
Nguyên lần thứ ba thành công, ông về ẩn thân ở trang viên của mình tại Vạn Kiếp. Tuy
nhiên, các vua Trần vẫn thường xuyên đến phủ đệ của ông để vấn kế sách giữ nước. Trước
khi mất, ông đã để lại lời di huấn nổi tiếng về kế sách giữ nước cho vua Trần Anh Tông là:
“khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”.
Là nhân vật lịch sử lớn, nhà quân sự thiên tài, nhưng rất tiếc, do những biến thiên của
lịch sử, ngày tháng năm sinh của ông vẫn chưa được xác định. Người ta chỉ mới biết vào
17
mùa thu năm 1300 (nhằm ngày 20 tháng 8 âm lịch năm Canh Tý) Thượng quốc công, Bắc
bình đại nguyên soái Trần Quốc Tuấn qua đời. Sau khi ông mất, vua đã phong cho ông tước
Hưng Đạo Đại vương. Triều đình và nhân dân lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp - Hải Dương,
Bảo Lộc - Nam Định và nhiều nơi khác. Công lao và sự nghiệp đánh giặc của ông sống mãi
với dân tộc Việt Nam. Ông xứng đáng được các vua Trần coi là bậc Thượng phụ, trăm họ
kính trọng gọi ông là Đức Thánh Trần.
này là cần có một vị anh hùng đứng ra đảm đương sứ mệnh lịch sử giao phó: tổ chức lãnh
đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thắng lợi. Trong hoàn
cảnh lịch sử đó, Trần Hưng Đạo đã xuất hiện, bằng tài năng kiệt xuất với một lòng yêu nước
nồng nàn và quyết tâm giữ nước, ông đã đứng ra gánh vác trách nhiệm lịch sử, trở thành
người lãnh đạo quân và dân tiến hành kháng chiến chống xâm lược. Ông là vị tướng rường
cột của quốc gia, được giao quyền Tiết chế, thống đốc quân đội của cả triều đình và tất cả
các vương hầu, tôn thất.
2.2.1. Vị trí của Trần Hưng Đạo trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông
Cổ lần thứ nhất (1258)
Ngay từ khi còn là một tướng trẻ, chưa đầy 30 tuổi, nhưng Trần Hưng Đạo đã được
vua Trần lúc đó là Trần Thái Tông (1226 - 1258) tin cậy và giao phó trọng trách làm tướng
tiên phong lên chốt giữ biên giới với 2 nhiệm vụ:
- Củng cố lực lượng phòng giữ, nắm tình hình địch, thông tin cho triều đình.
- Tiến hành phục kích tiêu hao lực lượng địch khi chúng tiến sang.
“Tháng 8 (năm Đinh Tị, 1257), chủ trại Quy Hóa là Hà Khuất sai người chạy trạm về báo
rằng có sứ giả của nhà Nguyên sang. Tháng 9 (nhà vua) xuống chiếu, ra lệnh cho các tướng
tả hữu đem quân thủy và quân bộ ra ngăn giữ ở biên giới. Tất cả đặt dưới sự chỉ huy của
(Trần) Quốc Tuấn. Mùa đông, tháng 11, lệnh truyền cả nước sắm vũ khí” [5; 21b].
Với vị trí là một tướng tiên phong, nắm trong tay một lực lượng không lớn, Trần
Quốc Tuấn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đúc rút được nhiều kinh nghiệm. Trước thế
giặc mạnh, ông đã biết rút lui đúng lúc, đồng thời phối hợp chiến đấu bảo vệ vua Trần ở
Bình Lệ Nguyên.
19
Với những đóng góp tích cực và có ý nghĩa đó, Trần Hưng Đạo đã thể hiện được tài
năng và triển vọng lớn. Đây chính là một trong những cơ sở quan trọng để sau này triều
Trần trao quyền Tổng chỉ huy quân đội cho Trần Hưng Đạo về sau.
2.2.2. Vị trí của Trần Hưng Đạo trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên
năm 1285
Nếu như trước và trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất (1257), Trần Hưng Đạo mới
chỉ là một vị tướng nhỏ chỉ huy lực lượng bảo vệ biên giới phía bắc thì trong cuộc kháng
2.2.3. Vị trí của Trần Hưng Đạo trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên
năm 1288
Sau hai lần xâm lược Đại Việt đều đại bại, Hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt và
cả triều đình của ông ta vô cùng sửng sốt, tức tối và hằn học. Nóng lòng đánh báo thù để rửa
nhục và cũng để thực hiện bằng được giấc mộng biến Đại Việt thành bàn đạp, căn cứ bành
trướng xuống Đông Nam Á để bá chủ thế giới, Hốt Tất Liệt vội vàng ra lệnh đình chỉ cuộc
xâm lược Nhật Bản, tập trung binh lực đánh chiếm Đại Việt.
Trước tình thế đó, vương triều nhà Trần và cả nước ta tích cực, khẩn trương và chủ
động chuẩn bị cho cuộc đụng đầu lịch sử sắp sửa xảy ra.
Ngay từ giữa năm 1286, khi được tin Hốt Tất Liệt sửa soạn xâm lược nước ta, vua
Trần Nhân Tông đã tin tưởng giao cho Trần Quốc Tuấn trọng trách Tiết chế toàn quân “đốc
suất các vương hầu, chiêu mộ binh lính, sắm sửa binh khí”.
Xuất phát từ hoàn cảnh của nước ta lúc bấy giờ, nước nhỏ, dân ít, yêu cầu của nền
kinh tế nông nghiệp đòi hỏi phải có nhân lực; và cũng từ thực tiễn chiến tranh chống quân
Nguyên năm 1285, Trần Quốc Tuấn đã có một chủ trương rất đúng đắn và sáng suốt là:
“Quân quý ở tinh nhuệ, không quý ở số đông. Dẫu đến 100 vạn quân mà như Bồ Kiên thì
làm được gì”. Bởi vậy, trong việc chuẩn bị kháng chiến, ông đặc biệt chú trọng đến việc
huấn luyện quân đội, tăng cường kỷ luật và sức chiến đấu hơn là tuyển nhiều quân.
Với vị trí là Tổng chỉ huy quân đội (Quốc công tiết chế), Trần Quốc Tuấn trở thành
trụ cột quan trọng bậc nhất của nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược
Nguyên lần thứ ba. Với vị trí quan trọng đó, Trần Hưng Đạo là người được cả triều đình nhà
Trần và nhân dân Đại Việt trao gửi trọng trách đầy vinh quang nhưng cũng rất nặng nề, khó
khăn.
21
Lãnh đạo thành công hai cuộc kháng chiến, Trần Hưng Đạo đã không phụ lòng tin
tưởng của vua tôi Đại Việt, ghi vào lịch sử dân tộc những trang sử vẻ vang, hào hùng nhất.
Những chiến thắng này thể hiện rõ đóng góp to lớn của Trần Hưng Đạo.
CHƯƠNG 3: ĐÓNG GÓP CỦA TRẦN HƯNG ĐẠO TRONG BA LẦN KHÁNG
CHIẾN CHỐNG MÔNG - NGUYÊN
3.1. Đóng góp của Trần Quốc Tuấn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược
Ngoài ra, trong cuộc kháng chiến này, Trần Hưng Đạo còn là một trong những vị
dũng tướng đã sát cánh chiến đấu bên cạnh nhà vua và đã có công gây cho đội quân của
Ngột Lương Hợp Thai những thiệt hại không nhỏ. Đây chính là một trong những cơ sở quan
23
trọng để sau này triều Trần trao quyền Tổng chỉ huy quân đội cho Trần Hưng Đạo trong các
cuộc chiến tranh lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288). Mặt khác, qua giao chiến với quân
Mông Cổ lần này còn giúp Trần Quốc Tuấn tích lũy được kinh nghiệm cho hai lần sau.
3.2. Đóng góp của Trần Quốc Tuấn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược
Nguyên lần thứ hai và lần thứ ba.
3.2.1. Cùng với triều đình nhà Trần chuẩn bị kháng chiến
Mặc dù giành được thắng lợi trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất, nhưng nhà Trần và
Trần Quốc Tuấn nhận thức được rằng: kẻ thù chưa cam tâm chấp nhận thất bại mà sẽ còn
tiếp tục phục thù bằng cuộc chiến tranh mới. Do đó, một cuộc chiến tranh mới với người
Mông Cổ là không thể tránh khỏi, vì thế mà sau cuộc kháng chiến chống xâm lược lần một,
nhà Trần và Trần Quốc Tuấn đã áp dụng các biện pháp nhằm củng cố quân đội. Năm 1261,
vua xuống chiếu tuyển lựa đinh tráng nhằm bổ sung cho quân đội thường trực. Số còn lại
ghi tên vào danh sách các lực lượng dân binh địa phương. Năm 1262, nhà Trần bắt tay vào
việc chế tạo các loại vũ khí và chiến thuyền mới. Năm 1267, định lại cơ cấu quân thường
trực gọi là “quân ngũ”, tức là năm bộ phận gồm: trung quân, hữu quân, tả quân, tiền quân và
hậu quân. Mỗi quân gồm 30 đô, mỗi đô 80 người. Chỉ huy các quân theo chiếu chỉ của vua
là những người tôn thất giỏi võ nghệ, tinh binh pháp.
Bước vào cuộc kháng chiến lần ba, các công việc chuẩn bị kháng chiến chống xâm
lược cũng được chuẩn bị khẩn trương. Tháng 6 năm 1287, các vương hầu, tôn thất được
lệnh tuyển mộ binh lính, thống lĩnh các thuộc hạ của mình. Sau khi nhận được tin cho biết
rằng, trong cuộc viễn chinh mới này, quân Mông Cổ hy vọng nhiều vào việc phát huy tác
dụng của lực lượng thủy binh, triều đình Đại Việt ra lệnh sửa chữa và đóng mới thêm chiến
thuyền.
Nhà Trần và Trần Quốc Tuấn đặc biệt coi trọng việc đào tạo các võ quan, tướng lĩnh
trên cả hai mặt đức và tài - coi đây là một nhân tố hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng
quân đội. Hình thức bồi dưỡng, rèn luyện đức độ có thể bằng ban chiếu dụ, truyền hịch,
phương pháp bày binh bố trận theo cách riêng, thích hợp với hoàn cảnh đất nước, dựa trên
cơ sở tư tưởng quân sự “dĩ đoản chế trường” mà ông đã tổng kết.
“Binh thư yếu lược” và “Vạn kiếp tông bí truyền thư” là những bộ binh thư, binh
pháp đầu tiên của nước ta, đã được nhà quân sự Trần Quốc Tuấn dày công nghiên cứu, biên
soạn. Việc học tập và giảng dạy quân sự có lúc đã theo phương pháp mới mà có thể gọi là
khoa học, như lời dặn của Trần Quốc Tuấn: “Con cháu và bồi thần của ta có theo bí thuật
25