Khóa luận tốt nghiệp Lịch sử - Vai trò của chúa Nguyễn Hoàng đối với vùng đất Quảng Nam - Pdf 23

Khóa luận Tốt nghiệp: Vai trò của chúa Nguyễn Hoàng….
Võ Thị Hiền _ Lớp 07SLS (ĐHSP Đà Nẵng) 1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mỗi vùng đất đều có lịch sử và quá trình hình thành phát triển tương ứng mà
toàn bộ quá trình lịch sử ấy luôn gắn liền với công tạo lập xây đắp của con người.
Trong lịch sử nước ta đã có biết bao bậc tiền nhân gắn bó, cống hiến sức mình giúp cho
các vùng đất khởi sắc, phồn thịnh, yên bình và ấm no. Chính vì vậy Dương Văn An khi
viết lời tựa cho “Ô châu cận lục” đã khẳng định rằng: “Có trời đất này mới có núi sông
này và nhân vật này nếu không có núi sông thì lấy gì để thấy rõ công tạo lập của trời
đất. Nếu không có nhân vật thì lấy gì để thấy rõ khí hun đúc tốt đẹp của núi sông”
[1,tr.15]. Qua đó có thể thấy được mối liên hệ chặt chẽ, mật thiết gắn bó tương hỗ với
nhau giữa con người và vùng đất.
Tên gọi Quảng Nam ra đời từ năm 1471 như một khát vọng của tiền nhân
vươn xa về vùng đất phương Nam hoang sơ nhưng giàu tiềm năng để tìm kế lâu bền
cho đất nước. Năm 1570, chúa Nguyễn Hoàng được cử làm trấn thủ Quảng Nam,
nhận thấy vị trí chiến lược của Quảng Nam là “đất yết hầu của miền Thuận Quảng”,
chúa Nguyễn Hoàng đã tiến hành các chính sách khai phá, di dân đến lập nghiệp để
mở mang bờ cõi. Từ mảnh đất “Ô châu ác địa” các thế hệ cha ông đã đổ không ít mồ
hôi và xương máu, trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, cho đến hôm nay đất Quảng
Nam đã có bề dày lịch sử rạng ngời và trở thành một trong các tỉnh lớn tràn đầy tiềm
năng. Sự kiện Nguyễn Hoàng vào trấn thủ xứ Thuận - Quảng mở đầu cho dòng dõi 9
chúa Nguyễn cai trị xứ Đàng Trong, đánh dấu bước ngoặt lớn quan trọng trong lịch
sử Quảng Nam. Các đời chúa Nguyễn từ Nguyễn Hoàng (1558-1613) đến Nguyễn
Phúc Nguyên (1613-1635), Nguyễn Phúc Lan (1635-1648), Nguyễn Phúc Tần (1648-
1687), Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691), Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), Nguyễn
Phúc Thụ (1725-1739), Nguyễn Phúc Khoát (1739-1765), Nguyễn Phúc Thuần
(1765-1777) kế tiếp nhau xây dựng, củng cố địa vị thống trị, bảo vệ, phát triển vùng
đất trong bối cảnh đất nước có nhiều biến động nhạy cảm.
Khóa luận Tốt nghiệp: Vai trò của chúa Nguyễn Hoàng….

Võ Thị Hiền _ Lớp 07SLS (ĐHSP Đà Nẵng) 3

Xuất phát từ nhận thức đó cũng như muốn tiếp tục rèn luyện kỹ năng nghiên
cứu lịch sử, tôi đã chọn đề tài “Vai trò của chúa Nguyễn Hoàng đối với vùng đất
Quảng Nam (1570-1613)” làm đề tài khóa luận của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Vai trò của chúa Nguyễn Hoàng đối với Quảng Nam là một trong nhiều đề tài
được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm tìm hiểu. Tuy nhiên, cho đến
nay chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào. Các tác phẩm chỉ mới ở mức độ đề cập,
liệt kê chứ chưa thực sự đi sâu. Dưới đây tôi xin đề cập một số công trình có liên quan:
Cuốn “Đại Nam thực lục tiền biên” do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn,
ghi chép về sự nghiệp của 9 chúa Nguyễn, bắt đầu từ Nguyễn Hoàng (Thái tổ Gia Dụ
hoàng đế) vào trấn thủ Thuận Hóa (1558) đến hết đời Nguyễn Phúc Thuần (Duệ tông
Hiếu định hoàng đế), tức là đến năm Nguyễn Phúc Thuần mất (1777) đã có đề cập đến
tầm nhìn chiến lược của chúa Nguyễn Hoàng đối với Quảng Nam, là nguồn tài liệu quý
giá khi nghiên cứu đề tài này.
Cuốn “Việt sử xứ Đàng Trong 1558-1777 ” của tác giả Phan Khoang, xuất bản
năm 1970, hay còn gọi là “Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam” là một công trình
khảo sát khá toàn diện về cuộc Nam tiến của tiền nhân bắt đầu từ khi các chúa Nguyễn
trong công cuộc mở nước, khai hoang lập ấp ở miền Nam. Cuốn sách đề cập nhiều mặt
từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của xứ Thuận Hóa, xứ Quảng Nam, phủ Gia Định
trong thời kỳ các chúa Nguyễn làm chủ và mở mang đất đai từ nửa sau thế kỷ XVI đến
hết thế kỷ XVIII.
Hay cuốn “Xứ Đàng Trong - Lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam thế kỷ XVII và
XVIII” của Li Tana, xuất bản năm 1999, cho thấy một cái nhìn tổng quát về tình hình
kinh tế, xã hội vùng Thuận Quảng từ thế kỷ XVII đến XVIII, trong đó có vài nét dưới
thời Nguyễn Hoàng.
Cuốn “Kỷ yếu hội thảo Tam Kỳ về vai trò lịch sử dinh trấn Quảng Nam”, của
nhà Văn hóa thông tin Quảng Nam, xuất bản tháng 9/2002, đề cập đến một số vấn đề
về lịch sử, địa lý, văn hóa, con người Quảng Nam. Đặc biệt, cuốn sách tập trung làm rõ

gian Quảng Nam tại thời điểm đó bao gồm 3 phủ, 9 huyện:

Khóa luận Tốt nghiệp: Vai trò của chúa Nguyễn Hoàng….
Võ Thị Hiền _ Lớp 07SLS (ĐHSP Đà Nẵng) 5

l Thăng Hoa: gồm 3 huyện là Lê Giang, Hà Đông, Hy Giang
l Tư Nghĩa: gồm 3 huyện Bình Sơn, Mộ Hoa, Nghĩa Giang
l Hoài Nhơn: gồm 3 huyện Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn
(3 phủ tương đương với Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên ngày
nay). Ngoài ra, đề tài còn tập trung khảo sát bối cảnh chung của đất nước, của Quảng
Nam trước và sau khoảng thời gian 1570 - 1613 để thấy rõ hơn những chính sách của
chúa Nguyễn Hoàng và hiệu quả của nó đồng thời đề tài mở rộng ra sự ảnh hưởng đó
đến các chúa đời sau.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề này chúng tôi đứng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin, quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam để xem xét sự kiện, hiện tượng. Hai
phương pháp chủ yếu được chúng tôi sử dụng chủ yếu trong quá trình nghiên cứu đề tài
này là phương pháp lôgic, phương pháp lịch sử. Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng một số
phương pháp khác như: pháp thống kê, phân tích, tổng hợp… Vận dụng các phương
pháp đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài theo 3 bước:
- Bước một: Tìm hiểu sưu tầm, tập hợp những tài liệu cần thiết cho quá trình
nghiên cứu đề tài. Tôi tìm kiếm và sử dụng những tài liệu có tại trường Đại học sư
phạm (ĐHĐN), thư viện Tổng hợp Đà Nẵng, thư viện Quân khu V, thư viện trường
Đại học sư phạm Huế, trường Đại học khoa học Huế, sở Văn hóa thông tin Quảng
Nam, Thư viện Hội An… Ngoài ra tôi còn tìm kiếm tư liệu qua thầy cô, bạn bè và
người thân.
- Bước hai: Sau khi có tài liệu tôi tiến hành phân tích tài liệu, thống kê các tài
liệu đã sưu tầm, tập hợp được.
- Bước ba: Tiến hành tổng hợp và nghiên cứu
5. Nguồn tài liệu

NỘI DUNG
Chương 1. VÀI NÉT VỀ CHÚA NGUYỄN HOÀNG VÀ TÌNH HÌNH
QUẢNG NAM TRƯỚC NĂM 1570
1.1. Bối cảnh lịch sử Đại Việt trong các thế kỷ XVI-XVII
Trong các thế kỷ XVI - XVII, nhà nước phong kiến Đại Việt có nhiều biến
chuyển sâu sắc tác động mạnh và làm lay chuyển lịch sử suốt cả những thế kỷ sau.
Ngay từ cuối thế kỷ XV, trong khi nhiều quốc gia - dân tộc ở châu Âu đang dần chuyển
sang chủ nghĩa tư bản, thì ở Đại Việt chế độ phong kiến với tư tưởng Nho giáo vẫn tồn
tại dai dẳng, bộc lộ sự lạc hậu, bắt đầu suy yếu rồi bị chìm đắm trong nội chiến và chia
cắt. Triều Lê sơ sau một thế kỷ phát triển thịnh đạt đã bắt đầu bước vào thời kỳ suy
sụp, khủng hoảng: mô hình tổ chức nhà nước cũng như các chính sách của các vua sau
Lê Thánh Tông dần bộc lộ những hạn chế và mâu thuẫn, hệ thống quan lại vốn là công
cụ quản lý nhà nước sắc bén dần dần trở thành bộ máy quan liêu cồng kềnh, “ỷ vào
phép nước là thói tệ của bọn quan lại…trước đây, lựa chọn không công bằng, bọn lại
quá nhiều rất nhũng tạp” [44,tr.15]. Sang đầu thế kỷ XVI, tình hình chính trị xã hội
nước Đại Việt lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, nhất là vào thời vua Lê Uy
Mục và Lê Tương Dực. Vua quan ăn chơi sa đọa không quan tâm đến triều chính do đó
tình hình triều chính hết sức rối ren, phức tạp. Chỉ trong vòng hơn 20 năm cuối cùng
của triều hậu Lê (từ 1504 - 1527), đã có 4 vị vua được lập lên rồi lại bị phế bỏ: vua Lê
Uy Mục (1504-1508), Lê Tương Dực (1509-1515), Lê Chiêu Tông (1516-1521), và
Lê Cung Hoàng (1522-1526). Trong hoàn cảnh đó, địa chủ ra sức chiếm đoạt ruộng
đất nông dân, nền kinh tế bị suy sụp nhanh chóng, thiên tai, dịch bệnh, loạn lạc, giặc dã
nổi lên khắp nơi khiến cho đời sống nhân dân hết sức cực khổ. Xã hội mâu thuẫn gay
gắt, tất yếu bùng nổ phong trào đấu tranh của nhân dân rầm rộ ở nhiều nơi tiêu biểu
như khởi nghĩa Thân Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng (Bắc Ninh), Trần Tuân (Hà Tây).
Nhân cơ hội đó, các thế lực phong kiến nổi dậy tranh chấp quyền lực như
Nguyễn Nghiêm, Trần Công Ninh, Phùng Chương, Trần Cao… Trong số này mạnh
nhất là thế lực của Mạc Đăng Dung. Năm 1527, sau khi nắm trọn quyền hành trong
Khóa luận Tốt nghiệp: Vai trò của chúa Nguyễn Hoàng….
Võ Thị Hiền _ Lớp 07SLS (ĐHSP Đà Nẵng) 8

đời của chúa Nguyễn Hoàng, của dòng họ Nguyễn mà còn mở ra một bước ngoặt vĩ đại
Khóa luận Tốt nghiệp: Vai trò của chúa Nguyễn Hoàng….
Võ Thị Hiền _ Lớp 07SLS (ĐHSP Đà Nẵng) 9

đối với lịch sử Việt Nam nói chung và với vùng đất Quảng Nam nói riêng. Có trong tay
quyền cai quản hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam, chúa Nguyễn Hoàng vẫn tiếp tục giữ
vẻ bề ngoài hòa hiếu với chính quyền Lê - Trịnh, góp sức với Nam triều trong cuộc
chiến tranh chống nhà Mạc, nhưng vẫn hết sức chú trọng phát triển kinh tế, tăng cường
tiềm lực về mọi mặt. Khi cục diện Nam - Bắc triều kết thúc cũng là lúc mâu thuẫn giữa
hai tập đoàn Trịnh - Nguyễn đến giai đoạn không thể dung hòa. Đến năm 1627, chiến
tranh Trịnh - Nguyễn bùng nổ. Cuộc chiến Trịnh - Nguyễn thực sự diễn ra từ năm 1627
nhưng đó là chỉ tính về mặt quân sự nếu tính cả trên mặt trận ngoại giao, xung đột giữa
hai bên đã nổ ra từ nhiều năm trước. Kết cục sau bảy lần giao chiến không phân thắng
bại, năm 1672 hai bên giảng hòa và lấy sông Gianh làm giới tuyến chia đất nước làm
hai Đàng: Đàng Ngoài từ sông Gianh trở ra Bắc (vua Lê - chúa Trịnh) và Đàng Trong
từ sông Gianh trở vào (chúa Nguyễn).
Như vậy, từ thế kỷ XVI – XVII, nhà nước phong kiến Đại Việt có nhiều biến
đổi quan trọng và nhạy cảm, đất nước chìm đắm trong chia cắt, tình hình chính trị khá
rối ren phức tạp: hết cuộc chiến giữa tập đoàn phong kiến Lê, Trịnh - Mạc cho đến
cuộc đối đầu triền miên giữa dòng họ Trịnh - Nguyễn. Cuối thế kỷ XVII, cục diện
Đàng Trong, Đàng Ngoài chính thức hình thành và kéo dài mãi từ đó đến gần hai thế
kỷ sau. Bối cảnh lịch sử đầy phức tạp của giai đoạn này đã để lại cho lịch sử dân tộc
những hệ quả lớn lao nhưng cũng lắm hậu quả nặng nề.
1.2. Vài nét về chúa Nguyễn Hoàng
1.2.1. Thân thế
Nguyễn Hoàng sinh ngày 13 tháng 8 năm 1525, là con trai thứ hai của Nguyễn
Kim và bà Nguyễn Thị Mai. Ông là người Gia Miêu, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung,
trấn Thanh Hoá. Tổ tiên họ Nguyễn được biết đến là một danh gia vọng tộc ở Thanh
Hoá vừa có nhiều công lao vừa có uy tín lớn. Đức Định Quốc Công huý là Nguyễn Bặc
(924 - 979) được xem là thuỷ tổ của dòng họ Nguyễn. Ông là bạn chí thân từ thuở hàn

là Nguyễn Hoàng và con gái là Nguyễn Thị Ngọc Bảo.
Khóa luận Tốt nghiệp: Vai trò của chúa Nguyễn Hoàng….
Võ Thị Hiền _ Lớp 07SLS (ĐHSP Đà Nẵng) 11

BẢNG PHỔ HỆ NGUYỄN TỘC (Nguồn dẫn theo: 24,tr.12) Họ và tên Chức vụ
Nguyễn Đức
Trung

Dưới triều vua Tước
Điện tiền chỉ
huy s


Bổng thần vệ
t
ướ
ng quân

Nguyễn Thị
Ngọc Bảo
Nguyễn Kim
Nguyễn Hoằng
Dụ


(Hạ Khê hầu)
Nguyễn Uông
(Lãng Xuyên hầu)
Nguyễn Công
Du
ẩn

Khóa luận Tốt nghiệp: Vai trò của chúa Nguyễn Hoàng….
Võ Thị Hiền _ Lớp 07SLS (ĐHSP Đà Nẵng) 12

Khi Nguyễn Kim sang Ai Lao thì Nguyễn Hoàng mới lên 2 tuổi, ông được Thái
phó Nguyễn Ư Dĩ là cậu ruột nuôi dạy nên người. Lớn lên Nguyễn Hoàng làm quan
cho triều Lê tước phong đến Hạ Khê hầu từng đem quân đánh Mạc Phúc Hải, lập được
công lớn được nhà Lê phong cho chức Thái úy Đoan quận công. Theo quy định của
nhà Lê thì các Quốc công lấy tên một phủ, các quận công lấy tên một huyện nhưng chỉ
dùng một chữ đầu. Ví dụ như phủ Tuyên Quang tạo nên tước Tuyên Quốc công, huyện
Sùng An tạo nên tước Sùng quận công. Riêng tước hầu và tước bá lấy tên một làng và
dùng cả hai chữ ví dụ làng Nam Xương tạo nên tước Nam Xương hầu. Chiếu theo quy
định đó để hiểu thêm về chức tước của Nguyễn Hoàng như trên [50,tr.14]. Vào thế kỷ
XVI dòng họ Nguyễn lót thêm chữ “Phúc”, từ đó có dòng họ Nguyễn Phúc.
Như vậy, dòng họ Nguyễn từ bao đời có rất nhiều người tài giỏi, từng giữ nhiều
chức tước quan trọng, có uy tín và có nhiều công lao đối với triều đình. Nguyễn Hoàng
cũng là người con xuất chúng tiêu biểu của dòng họ Nguyễn ngay từ sớm đã bộc lộ là
người văn võ song toàn nhất là trong điều kiện đất nước có nhiều biến động càng tạo
điều kiện cho ông thể hiện bản lĩnh phi thường. Thân thế không chỉ giúp ông có động
lực, điều kiện để thể hiện bản lĩnh mà còn giúp ông có tiếng nói, uy tín vững chắc đối
với mọi người. Nguyễn Hoàng được biết đến là vị chúa đầu tiên có công mở cõi xứ
Đàng Trong trù phú, là người có công đặt nền móng vững chắc đầu tiên để các vị chúa
sau tiếp nối xây dựng cơ nghiệp ở miền “Ô châu ác địa”.
1.2.2. Sự nghiệp

vào trấn áp đất ấy, gây thế ỷ dốc với Trấn Quận Công Bùi Tá Hán ở Quảng Nam, ngõ
hầu không có cái lo phải đoái hoài đến miền Nam” [48,tr.81]. Vua Lê nghe theo và
trao quyền cho Nguyễn Hoàng làm trấn thủ Thuận Hoá, toàn quyền xử lý mọi việc,
hằng năm phải nộp cống và phú thuế.
Năm 1558, khi tròn 34 tuổi, Nguyễn Hoàng đem người nhà và quân bản hộ vào
Thuận Hóa. Cùng đi còn có nhiều đồng hương Tống Sơn và nghĩa dũng Thanh Hoá.
Thuở đầu, Nguyễn Hoàng dựng dinh trại ở xã Ái Tử, huyện Đăng Xương (Triệu
Phong, Quảng Trị). Sau hơn 10 năm làm Trấn thủ Thuận Hóa, năm 1570, Nguyễn
Hoàng được tin cậy giao cho kiêm lãnh trấn thủ cả xứ Quảng Nam. Khoảng 40 năm
đầu vào vùng đất mới, Nguyễn Hoàng chú trọng khai hoang lập ấp, phát triển kinh tế,
gây nuôi lực lượng, tính kế lâu dài, bên ngoài vẫn giữ quan hệ bình thường và hoàn
thành tốt nghĩa vụ đối với vua Lê chúa Trịnh ngoài Bắc. Công cuộc khẩn hoang và
chính sự rộng rãi của Nguyễn Hoàng đã đem lại hiệu quả rõ rệt về mọi mặt, vừa yên
Khóa luận Tốt nghiệp: Vai trò của chúa Nguyễn Hoàng….
Võ Thị Hiền _ Lớp 07SLS (ĐHSP Đà Nẵng) 14

dân, vừa ổn định tình hình. Miền đất Thuận Quảng dưới bàn tay của Nguyễn Hoàng
được khơi dậy mọi tiềm năng, nơi “lòng người hãy còn phản trắc”đã được vỗ về, thu
phục. Tháng 2 năm 1573, vua Lê sắc phong Nguyễn Hoàng là Thái phó, đồng thời yêu
cầu cần tích trữ thóc lúa ở biên giới, hàng năm nộp thuế 400 cân bằng bạc, 500 tấn lụa.
Thời gian này, vua Lê hằng năm phải đem quân đánh Mạc, quân dụng thiếu thốn, đất
Thuận - Quảng lại "liền mấy năm được mùa, trăm họ giàu thịnh", Nguyễn Hoàng
không ngần ngại đem tiền thóc ra giúp vua Lê. Tháng 5 năm 1593, biết Lê - Trịnh đã
đánh tan quân Mạc, lấy lại được Đông Đô, Nguyễn Hoàng liền đem quân ra yết kiến
chúc mừng vua Lê. Chúa Nguyễn Hoàng được vua Lê khen ngợi công lao trấn thủ đất
phía Nam, tấn phong ông làm Trung quân đô đốc phủ tả đô đốc chưởng phủ sự thái uý
Đoan Quốc công. Chúa Nguyễn Hoàng từng phải lui lại ở miền Bắc với nhà Lê đến 7
năm, nhiều lần đem quân đánh dẹp nhà Mạc ở Thái Bình và Hải Dương, lập được công
lớn. Người con trai thứ hai của Nguyễn Hoàng tên là Hán được vua phong tả đô đốc Lỵ
quận công, lúc theo Nguyễn Hoàng đánh Mạc ở Sơn Nam bị tử trận. Thời gian ở lại

tạo nên bước đột phá cho lịch sử dân tộc. Việc ra đi của Nguyễn Hoàng, như lịch sử đã
cho thấy không phải hoàn toàn chỉ để bảo toàn tính mạng mà đằng sau đó còn có
những toan tính về chính trị, ra đi để thực hiện bước mở đầu cho một chiến lược lâu
dài: xây dựng lực lượng chống lại họ Trịnh và gây dựng khoảng trời riêng. Sự ra đi dứt
khoát của Nguyễn Hoàng vừa chính là cơ hội vừa chính là lối thoát gần như tối ưu nhất
để ươm mầm thế lực mới ở vùng đất lạ. Đất Thuận Hóa và Quảng Nam được coi là
chốn dung thân trở thành nơi dấy nghiệp của họ Nguyễn như một cơ duyên được định
sẵn, mảnh đất Thuận - Quảng nói chung và Quảng Nam nói riêng thế kỷ XVI - XVII có
điều kiện khởi sắc và chuyển mình thành vùng đất trù phú, yên ổn gắn với vai trò to lớn
của chúa Tiên Nguyễn Hoàng.
1.3. Sơ lược về lịch sử vùng đất, con người Quảng Nam
1.3.1. Sơ lược về lịch sử vùng đất
Quảng Nam là địa bàn cư trú từ xa xưa của con người và là một trong những
trung tâm quan trọng của vương quốc Champa. Trải qua thời gian dài, cùng với quá
trình Nam tiến, tên gọi Quảng Nam ra đời thể hiện khát khao của bậc tiền nhân về
khoảng trời phía Nam màu mỡ, rộng lớn. Nếu như tên gọi của một vùng đất thể hiện
khát vọng, ước muốn của con người thì khi cho ra đời tên gọi Quảng Nam, vua Lê
Thánh Tông đã gửi gắm hi vọng vào vùng đất “đất đai mở rộng về phương Nam, vâng
Khóa luận Tốt nghiệp: Vai trò của chúa Nguyễn Hoàng….
Võ Thị Hiền _ Lớp 07SLS (ĐHSP Đà Nẵng) 16

mệnh vua để tuyên dương đức hóa rồi trở thành tên một vùng lãnh thổ rộng lớn”
[14,tr.12]. Tên gọi Quảng Nam ra đời như thế mang ý nghĩa là vùng đất rộng lớn về
phương Nam (Quảng nghĩa là rộng, Nam là chỉ vùng đất phương Nam).
Theo ghi chép trong Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn,
Quảng Nam thời Bắc thuộc “đời Tần thuộc về Tượng Quận; đời Hán thuộc về quận
Nhật Nam; sang đời Đường thì thuộc Lâm Ấp; đời Tống thuộc Chiêm Thành.”
[50,tr.18]. Nhật Nam lúc này là từ Đèo Ngang trở vào đến Quảng Ngãi gồm 5 huyện là
huyện Lư Dung, Tỵ Cảnh, Châu Ngô, Tây Quyển và Tượng Lâm. Năm 192, Khu Liên
đứng lên khởi nghĩa lập ra nước Lâm Ấp, hay còn có tên gọi khác là Chiêm Bà

nhường đất Chiêm Động (tức phủ Thăng Bình thuộc Quảng Nam) và Cổ Lũy (tức
Quảng Ngãi) cho nhà Hồ. Hồ Quý Ly chia ra làm bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa và
đặt An Phủ Sứ để điều hành công việc hành chính. Lấy đất miền thượng của lộ ấy đặt
làm trấn Tân Ninh tương đương với Chiên Đàn, Ô Da, Thu Bồn [3,tr.222]. Khi quân
Minh sang xâm lược, bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa bị Chiêm Thành lấy lại. Cho
đến năm 1471, vua Lê Thánh Tông đích thân chinh phạt, chiếm vùng đất phía Nam
Thuận Hóa cho đến đèo Cù Mông, lấy lại vùng đất Thăng Hoa. Vua Lê Thánh Tông
lập thêm đơn vị hành chính thứ 13 - đạo Thừa Tuyên Quảng Nam gồm 3 phủ, 9 huyện:
l Thăng Hoa: gồm 3 huyện là Lê Giang, Hà Đông, Hy Giang
l Tư Nghĩa: gồm 3 huyện Bình Sơn, Mộ Hoa, Nghĩa Giang
l Hoài Nhơn: gồm 3 huyện Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn
(3 phủ tương ứng với Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên ngày nay). Qua
các triều đại Lý, Trần, Lê lãnh thổ Đại Việt được mở dần từ Hoành Sơn tới đèo Hải
Vân, đèo Cù Mông.
Cùng với việc mở mang lãnh thổ, các triều đại đưa nhân dân vào khai khẩn đất
đai, bổ nhiệm các chức quan trấn giữ vùng đất mới. Tuy nhiên, gần như đây vẫn chỉ là
vùng đất Champa dưới sự cai trị của người Việt. Vào cuối thời Lê sơ, tình hình chính
sự Đại Việt rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, nội tình hai họ Trịnh - Nguyễn
có dấu hiệu rạn nứt mà nguyên nhân sâu xa vì vấn đề tranh chấp quyền lực. Trong hoàn
cảnh đó, Nguyễn Hoàng xin được vào trấn thủ Thuận Hóa (1558) và sau đó kiêm luôn
cả Quảng Nam (1570). Quảng Nam bấy giờ rộng lớn kéo dài từ nam Thuận Hóa đến
núi Thạch Bi, nằm ở giữa chính trục Bắc - Nam, trục đường bộ, đường biển Bắc -
Nam, dựa lưng vào dãy Trường Sơn vững chãi và hướng ra biển Đông với đủ các loại
địa hình như: vùng núi cao, vùng thượng du, trung du, đồng bằng, ven biển, vùng biển,
đảo, quần đảo, là ngã tư đường của các tộc người, các cư dân, các nền văn minh…
Khóa luận Tốt nghiệp: Vai trò của chúa Nguyễn Hoàng….
Võ Thị Hiền _ Lớp 07SLS (ĐHSP Đà Nẵng) 18

Về vùng đất Quảng Nam, Phan Huy Chú từng nhận xét: “Đây là một vùng non
nước xanh tươi, đất đai màu mỡ, ấy là một xung yếu của phương Nam vậy. Đất đai ở

Nam Bộ ngày nay. Họ là chủ nhân nền văn hóa Sa Huỳnh gồm bộ lạc Cau (cư trú ở
phía Nam tương đương với vùng đất từ Phú Yên đến Bình Thuận đến ngày nay) và
Dừa (ở phía Bắc, chiếm giữ địa bàn chủ yếu ở vùng Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng
Ngãi và Bình Định ngày nay). Từ sớm người Việt và người Chăm đã chịu sự bành
trướng thế lực, đặt ách đô hộ của phong kiến Trung Hoa thời Tần Hán. Năm 111 TCN,
phong kiến Trung Hoa thống trị Champa, lập nên Giao Chỉ bộ chia làm 9 quận, trong
đó hai quận là Giao Chỉ và Cửu Chân nay thuộc Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, quận Nhật
Nam từ Hoành Sơn trở vào thuộc địa bàn bộ lạc Dừa cư trú. Quận Nhật Nam lúc này
“có khoảng 15.460 hộ và 69.485 nhân khẩu” [44,tr.64]. Người Việt và người Chăm đã
nhiều lần bắt tay đoàn kết chống lại các các triều đại phong kiến phương Bắc. Tiêu
biểu là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào các năm 40 - 43, cuộc nổi dậy của người
Nhật Nam vào các năm 137 - 144, khởi nghĩa ở Cửu Chân năm 157. Năm 192 (đời vua
Hiến đế nhà Hán) Khu Liên cầm đầu nhân dân Tượng Lâm (một quận của Nhật Nam)
tương ứng với vùng đất Quảng Nam ngày nay, nổi dậy giết chết quan lại nhà Hán,
xưng làm vua lập ra nước Lâm Ấp - mở đầu cho sự ra đời của vương quốc Champa tồn
tại cho đến cuối thế kỷ XVII. Người Chăm và người Việt cùng bắt tay nhau chống lại
các triều đại phong kiến phương Bắc, nhưng thực chất quan hệ giữa họ không được
thuận hòa. Người Chăm một mặt có quan hệ thần phục phong kiến Trung Hoa, mặt
khác thường đem quân đánh phá người Việt. Trong điều kiện lịch sử đó để tồn tại và
phát triển, các nhà nước quân chủ của nước Đại Cồ Việt, Đại Việt dù muốn hay không
cũng phải tính đến chuyện đối phó với nạn xâm lược và uy hiếp từ hai đầu phía Nam -
Bắc.
Việc di cư của người Việt về phía Nam nói chung và vào vùng Quảng Nam nói
riêng ở thời kỳ này diễn ra trong bối cảnh đó. Để rồi từ chính hoàn cảnh lịch sử đó
cùng với những điều kiện vùng đất đã cơ bản xây bồi nên những đặc điểm và tính cách
của người xứ Quảng rất riêng. Sau khi đánh vào đất Chiêm Thành chiếm lấy đất Chiêm
Động và Cổ Lũy, năm 1403 Hồ Hán Thương “đem người không có ruộng nhưng có
của dời đến Thăng Hoa, biên chế thành quân ngũ. Quan lại ở các bộ, phủ, châu, huyện
Khóa luận Tốt nghiệp: Vai trò của chúa Nguyễn Hoàng….
Võ Thị Hiền _ Lớp 07SLS (ĐHSP Đà Nẵng) 20

Thành xưa (Phong Lệ, Trà Kiệu, Mỹ Sơn). Họ là những con người có ý chí và bản lĩnh
Khóa luận Tốt nghiệp: Vai trò của chúa Nguyễn Hoàng….
Võ Thị Hiền _ Lớp 07SLS (ĐHSP Đà Nẵng) 21

chấp nhận những khó khăn của cuộc sống phiêu lưu và khai phá, bộc trực, có tinh thần
phóng khoáng, chân tình, tràn đầy khát vọng, giàu tinh thần đấu tranh, được tôi luyện
trong gian khổ và trưởng thành trong chiến đấu, biết khắc phục những khó khăn từ
thiên nhiên và do lịch sử đem lại. Dù bị xô đẩy hay tự nguyện thì các yếu tố trên là
những tố chất tiêu biểu. Những phẩm chất ấy được hun đúc trong quá trình vật lộn với
thiên nhiên khắc nghiệt nơi vùng “ô châu ác địa” và được hình thành từ cái nhìn
khoáng đạt về biển và được kết tinh qua quá trình mở mang đất đai, tạo lập cuộc sống
mới, văn hóa mới trên vùng đất mới này. Borri đã từng tinh tế nhận xét ấn
tượng“người dân ở đây siêng năng, ưa làm lụng, tránh sự ăn không ngồi rồi. Họ đối
với người nước ngoài rất hòa hợp, ân cần” [8,tr.11]. Chính yếu tố lịch sử, địa lý đã có
vai trò quan trọng hun đúc nên con người Quảng Nam có ý chí, bản lĩnh kiên cường,
tính tình phóng khoáng, bộc trực, ham chuộng tự do, kiên nhẫn, cần cù, chịu khó, ham
học hỏi, cởi mở, khoan hòa, cầu tiến, khả năng tiếp nhận và phát huy cái mới nhạy bén.
1.4. Tình hình Quảng Nam trước năm 1570
1.4.1. Về chính trị
Quảng Nam xưa vốn thuộc Chiêm Thành (Champa) (từ thế kỷ II đến thế kỷ
XIV). Vương quốc Champa không phải là một quốc gia có thể chế chính trị "Trung
ương tập quyền" mà là một dạng nhà nước “liên bang” được kết hợp từ bốn tiểu quốc
là Amaravati, Vijaya, Kauthara và Panduranga. Mỗi Tiểu quốc đều có thể chế chính trị
theo hình thức tự trị và có quyền ly khai khỏi “liên bang” để xây dựng quốc gia riêng
độc lập. Quảng Nam thuộc tiểu quốc Amaravati (Amaravati nay là thành phố Đà
Nẵng, Quảng Nam và Quảng Ngãi) nằm uy nghi trên dòng sông Thu Bồn có địa thế
thuận lợi về kinh tế nên sớm trở thành tiểu quốc hùng mạnh nhất. Địa khu này có hai
trung tâm là thành phố Indrapura nằm ở khu vực Đồng Dương, thuộc địa phận
huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam và thành phố Simhapura nằm ở Trà
Kiệu huyện Duy Xuyên, Quảng Nam ngày nay. Thánh Địa Mỹ Sơn nằm ở cách Trà

Quyết vào trấn thủ Thuận - Quảng, dinh trấn đặt tại xã Chánh Lộ bên bờ sông Trà
Khúc thuộc Quảng Ngãi ngày nay. Dưới thời Lê Trung Hưng (1533-1788), năm 1544
vua Lê Trang Tông cử Bùi Tá Hán làm tổng trấn Quảng Nam, lị sở đóng nơi thành cũ
của quân Mạc. Năm 1568, Bùi Tá Hán mất vua Lê cử quận công Nguyễn Bá Quýnh lên
thay. Cho đến năm 1570, Nguyễn Hoàng được vua Lê giao cho trấn thủ Quảng Nam,
Khóa luận Tốt nghiệp: Vai trò của chúa Nguyễn Hoàng….
Võ Thị Hiền _ Lớp 07SLS (ĐHSP Đà Nẵng) 23

chính thức kiêm quản cả 2 xứ Thuận - Quảng. Đây có thể coi là một thắng lợi có ý
nghĩa chiến lược đối với cả chúa Nguyễn Hoàng lẫn vùng đất Quảng Nam.
Như vậy, trước khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ thì Quảng Nam từ một
vùng “đệm” luôn chịu sự tranh chấp giữa hai bên Đại Việt và Chiêm Thành trong suốt
nhiều thế kỷ đã trở thành thành viên chính thức của gia đình Đại Việt. Thừa tuyên
Quảng Nam chính thức được sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt với tư cách là một đơn vị
hành chính ổn định, tổ chức chính quyền được xây dựng khá hoàn chỉnh chịu sự quản
lý chặt chẽ của chính quyền trung ương.
1.4.2. Kinh tế
Quảng Nam từ sớm có nhiều ưu thế để phát triển, là khu vực địa lý đa sinh thái
bao gồm đồng bằng chân núi nói liền rừng phía sau lưng, biển mênh mông có nhiều
vịnh hẹp như Cửa Đại, Tam Thanh, Kỳ Hà đổ ra cửa các dòng sông Thu Bồn, Vu Gia,
Tam Kỳ chứa đựng nhiều sản vật biển, có điều kiện để phát triển kinh tế ven biển kết
hợp với chân núi tạo nguồn lương thực, thực phẩm dồi dào, thuận lợi cho sự phát triển
thương mại đường biển. Quảng Nam thời tiền sơ sử có một cơ tầng kinh tế ổn định ở
thời kỳ văn hóa Sa Huỳnh, sau này các cư dân Chăm đã kế thừa di sản, kinh nghiệm
sản xuất, khai thác tạo nên những thành tựu văn minh rực rỡ. Khi có thêm người Việt
sinh sống thì hoạt động kinh tế vốn đã đa dạng nay nhộn nhịp hơn từ nông nghiệp, thủ
công nghiệp đến thương nghiệp, có sự giao lưu học hỏi lẫn nhau về kỹ thuật, giống,
kinh nghiệm thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển mạnh mẽ hơn.
Đồng bằng ở Quảng Nam có đặc điểm là phì nhiêu nên rất thích hợp cho phát
triển kinh tế trồng trọt, vì điều kiện nên người dân trồng lúa ruộng nước và lúa ruộng

Ngay từ thời tiền sơ sử, địa bàn Quảng Nam là vùng đất mở, cuốn hút nhiều
luồng văn hóa và dân cư. Lịch sử vùng đất bắt đầu khá sớm và có hiện tượng giao lưu
giữa các luồng văn hóa. Điều này cho thấy sự phong phú đa dạng của văn hóa nhưng
đồng thời cũng bộc lộ rõ sự phức tạp của xã hội. Văn hóa Sa Huỳnh có niên đại 2000 -
2500 cách ngày nay giao lưu với nền văn hóa Hòa Bình, Bàu Tró và Đông Sơn ở phía
Bắc. Trước khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Quảng Nam, nơi đây đã trải qua bao
thăng trầm gắn với sự thịnh suy của vương quốc Champa. Là vùng đất thuộc Champa
trước khi chính thức sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt, Quảng Nam từng bị tranh chấp
giành giật qua lại, nơi đây thành phần dân cư phức tạp, “lòng người hãy còn phản
trắc”, khi có sự hiện diện của người Việt, quá trình giao lưu văn hóa Việt - Chăm diễn
Khóa luận Tốt nghiệp: Vai trò của chúa Nguyễn Hoàng….
Võ Thị Hiền _ Lớp 07SLS (ĐHSP Đà Nẵng) 25

ra sôi động, xã hội có sự pha trộn của nhiều lớp người hơn. Văn hóa - xã hội trong điều
kiện đó khá phức tạp.
Như chúng ta được biết từ thế kỷ thứ 4 văn minh Ấn Độ được truyền bá vào xã
hội Chăm. Trước khi bị vua Lê Thánh Tông chinh phục năm 1471, văn minh Ấn Độ
ảnh hưởng sâu sắc trên nhiều mặt đời sống người Chăm. Tôn giáo chính của người
Chăm là Ấn độ giáo nhưng từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 10 bị gián đoạn khi triều đại
Indrapura (Đồng Dương ở tỉnh Quảng Nam ngày nay) theo Phật giáo Đại thừa. Trong
thế kỷ thứ 10 và các thế kỷ sau, Ấn Độ giáo lại trở thành tôn giáo chính của Champa.
Một số nơi vẫn còn lưu giữ những công trình tôn giáo và cũng là các công trình kiến
trúc và nghệ thuật của thời kỳ này như Mỹ Sơn, Khương Mỹ, Trà Kiệu, Chánh Lộ và
Tháp Mẫm. Từ sau thế kỷ thứ 10 Hồi giáo bắt đầu xâm nhập vào Champa nhưng chỉ
sau năm 1471 thì ảnh hưởng của Hồi giáo mới rõ nét. Về cơ bản thì Ấn Độ
giáo và Phật giáo là hai tôn giáo chính của người Chăm, sau này Nguyễn Hoàng đã lựa
chọn Phật giáo để làm chỗ dựa về mặt tâm linh không phải là không có cơ sở hòa hợp
dân tộc hợp lý.
Thế kỷ XV, người Việt từ các vùng Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh vào sinh sống, cộng
cư với các tộc người khác nhau của vương quốc Champa, tạo nên sắc diện văn hóa mới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status