Khoá luận tốt nghiệp thế giới nghệ thuật thơ thanh thảo qua hai tập dấu chân qua trảng cỏ và khối vuông rubic - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

ĐOÀN VĂN Sĩ

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ
THANH THẢO QUA HAI TẬP
DẤU CHÂN QUA TRẢNG CỎ
VÀ KHÓI VUÔNG RUBIC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC








Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học
ThS. D Ư ƠN G THỊ THỦY HẰNG

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô
giáo: ThS. Dương Thị Thúy Hằng - người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo


MỞ Đ Ầ U ......................................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề t à i ...................................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đ ề ....................................................................................................................... 1
3. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên c ứ u ....................................................................................3
4. Phương pháp nghiên c ứ u ...................................................................................................3
5. Cấu trúc khóa lu ậ n .............................................................................................................. 3
NỘI D U N G ................................................................................................................................... 4
CHƯƠNG 1: GIỚI THUYẾT C H U N G ................................................................................. 4
1.1. Thế giới nghệ thuật th ơ .................................................................................................. 4
1.2. Thơ Việt Nam thời hậu chiến (19 75-19 85 )...............................................................5
1.3. Thanh Thảo: Tiểu sử - Hành trình sáng tác - Quan niệm nghệ thuật................. 7
1.3.1. Tiếu s ử .........................................................................................................................7
1.3.2. Hành trình sáng tá c ..................................................................................................8
1.3.3. Quan niệm nghệ th u ậ t........................................................................................... 19
1.4. Hai tập thơ Dấu chân qua trảng cỏ và Khối vuông R ubic..................................18
1.4.1. Dấu chân qua trảng cỏ (1 978)............................................................................ 18
1.4.2. Khối vuông Rubic ( Ị 9 8 5 ) ..................................................................................... 19
CHƯƠNG 2: CẢM HỨNG NGHỆ THẬT CHỦ ĐẠO TRONG DẤU CHẤN QUA
TRẢNG CỎ VÀ KHÔI VUÔNG R U B Ỉ C ............................................................................. 21
2.1. Cảm hứng sử thi............................................................................................................. 21
2.1.1. Cảm hứng về chiến tranh bi

tráng.................................................................. 22

2.1.2. Cảm hứng về cái tôi thê h ệ .................................................................................. 23
2.2. Cảm hứng thế sự - đời t ư .............................................................................................30
2.2.1. Triết luận về đời sổng (đời thường, tình yêu và hạnh p h ú c . .. ) ...................31
2.2.2. Đổi thoại với quá k h ứ ............................................................................................34
CHƯƠNG 3: M ỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC NGHỆ TH U ẬT TRONG

Điều này được thế hiện rõ nét trong thế giới nghệ thuật thơ Thanh Thảo. Việc tìm
hiếu thế giới nghệ thuật thơ Thanh Thảo chính là việc tìm hiếu sự sáng tạo nghệ
thuật, quan niệm về nghệ thuật, các phương diện hình thức nghệ thuật... của tác giả.
Không chỉ là tác giả thơ định hình phong cách sáng tác khá rõ nét, sáng tác
của Thanh Thảo còn hiện diện trong chương trình giáo dục phổ thông, với thi phẩm
Đàn g h i ta của Lorca. Điều này có thể xem là một bằng chứng về sự ghi nhận
những đóng góp của Thanh Thảo đối với nền thơ hiện đại Việt Nam.
Trong hệ thống tác phẩm khá bề thế của Thanh Thảo, hai tập Dấu chân qua
tràng cỏ và K h ối vuông Rubỉc được xem là hai tập thơ tiêu biểu hơn cả. Chúng tôi
cho rằng, việc tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong hai tập thơ này sẽ góp phần quan
trọng trong việc hình dung rõ nét về phong cách nghệ thuật thơ Thanh Thảo.
Trên cơ sở đó, chúng tôi lựa chọn đề tài: “T h ế giới n g h ệ th u ậ t th ơ Thanh
Thảo qua h ai tập D ấu chân qua trảng cỏ và Khối vuông R ubỉc
2. Lịch sử vấn đề
Cho đến nay, đã có rất nhiều các ý kiến, bài viết, chuyên luận, luận văn, luận
án... bàn về thơ Thanh Thảo. Đa số các nhà nghiên cứu khi đánh giá về Thanh Thảo

1


đều đánh giá thơ ông “mớ/” và “lạ”, một bản lĩnh thơ luôn táo bạo, quyết liệt với sự
cách tân thơ ca rõ rệt.
Trong bài Tha nh Thảo - nghĩa k h í và cách tân {2004), TS. Chu Văn Sơn
khẳng định: “ Fđ đến nay, dấu ẩn mạnh m ẽ anh gieo vào lòng người đọc cũng là
những táo bạo của một bản lĩnh dám dấn thân, dám tiên phong. Đó không p hả i là
những dấu chân thảm cỏ thời gian hiền lành mà những dấu chân m ở loi giữa chông
gai nhiều khi rớm m á u”.
Ớ T ha nh Thảo - g ư ơ n g m ặt tiêu biếu sau 1975, nhà nghiên cứu PGS.TS.
Bích Thu đã đưa ra ý kiến sắc sảo: “Thanh Thảo đã đem đên cho người đọc một
thực đơn tỉnh thân mới mẻ và độc đáo, làm p hong p h ủ tiêng nói của thơ hôm nay”.

Do hạn chế về thời gian cũng như khả năng của người bước đầu tập làm
nghiên cứu khoa học, nên ở khóa luận này, chúng tôi đi sâu vào việc tìm hiểu thế
giới nghệ thuật thơ Thanh Thảo qua hai tập Dấu chân qua trảng cỏ và K hối vuông
Rubỉc trên các phương diện: cảm hứng nghệ thuật và hình thức nghệ thuật (thể thơ,
biểu tượng thơ, ngôn ngữ thơ).
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tiến hành so sánh với các sáng tác của
ông bên cạnh các tập thơ, tập trường ca khác đê khóa luận được chuyên sâu hơn.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đe thực hiện đề tài, khóa luận kết hợp, vận dụng các phương pháp nghiên
cứu:
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
5. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần M ở đầu và Ket luận, khóa luận được tổ chức theo ba chương là:
Chương 1: Giới thuyết chung.
Chương 2: Cảm hứng nghệ thuật chủ đạo trong Dấu chân qua tráng cỏ và
Khối vuông R ubỉc.
Chương 3: Một số phương diện hình thức nghệ thuật trong D ấu chân qua
trảng cỏ và K hối vuông Rubic.
Cuối cùng là Tài liệu tham khảo.

3


NỘI DUNG

CHƯƠNG I: GIỚI THUYÉT CHUNG

1.1. Thế giới nghệ thuật thơ

nhà v ă n ”(1996), GS. Trần Đình Sử với “N h ữ n g th ế giới n gh ệ th u ậ t t h ơ ”( l 997) ...
Chúng tôi nhận thấy đây là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều yếu tố, nên
việc tìm hiếu kĩ trong khóa luận này là rất khó. Vì thế, trong khóa luận này, chúng
tôi chỉ khái quát các yếu tố cơ bản của khái niệm thế giới nghệ thuật trên cơ sở tập
trung làm rõ một số vấn đề như: Cảm hứng nghệ thuật, thế thơ, ngôn ngữ thơ, biếu
tượng thơ... từ đó sẽ vận dụng vào việc tìm hiếu thế giới nghệ thuật thơ Thanh
Thảo qua hai tập D ấu chân qua trảng cỏ và K hối vu ôn g Rubic.
1.2. Tho’ Việt Nam thời hậu chiến (1975-1985)
Năm 1975, cuộc kháng chiến chống M ĩ kết thúc, lịch sử dân tộc Việt Nam
mở sang trang mới đồng nghĩa với việc một nền văn học mới cũng ra đời và có
những biến đổi sâu sắc, toàn diện với những đặc điểm, quy luật vận động của nó.
Những năm đầu của thời kỳ hậu chiến, dư âm của cuộc chiến tranh trường kỳ vẫn
còn in đậm trong sáng tác của các nhà thơ chiến sĩ nên văn học giai đoạn này vẫn
mang màu sắc, âm hưởng của văn học thời kỳ chống Mĩ. Càng về sau, những
người cầm bút đã có sự thay đổi trong tư duy, có cái nhìn và cách tiếp cận hiện
thực đời sống mới mẻ. Cái tôi sử thi dần chuyển sang cái tôi thế sự, đời tư. Sự vận
động của các thế loại văn học như: thơ, văn xuôi, kịch đã góp phần tạo nên những
thành công bước đầu, tạo đà cho bước nhảy vọt của văn học sau 1986.
Mười năm sau chiến tranh, thơ ca Việt Nam được viết theo cảm hứng mới,
hình thức mới. Tiêu biểu cho kiểu sáng tác này là D ấu chân qua trảng cỏ và Khối
vuông R u b ỉc của Thanh Thảo, Đ ư ờ n g đến th à n h p h ố của Hữu Thỉnh, B à i th ơ
k h ô n g năm thá ng của Lâm Thị M ỹ Dạ, T ự h á t của Xuân Quỳnh, Á n h trăng của
Nguyễn Duy, N g ư ờ i đàn bà ngồi đan của Ý Nhi, N g ôi n hà có ngọn lửa ẩm của
Nguyễn Khoa Đ iềm ... Như vậy, đề tài thơ ca thời kì này đã có sự thay đổi, từ đề
tài cuộc chiến tranh, đề tài về nhân dân anh hùng, quật khởi đã được chuyến dần
sang đề tài cuộc sống đời thường, đi sâu phản ánh những vấn đề nhân sinh, tâm
trạng của cái tôi cá nhân sau cuộc chiến với nhiều tìm tòi phong phú, thể hiện

5


6


Cùng với cảm hứng ngợi ca đó, trong thơ bắt đầy xuất hiện những giọng
trầm có dư vang, mang cảm hứng thế sự. Thơ chuyển từ hiện thực cách mạng,
hiên thực chiến tranh sang những vấn đề riêng tư thường nhật: cô đơn, sự suy tư,
triết lí về thân phận cá nhân, cuộc đời. Chế Lan Viên đã sớm nhận ra sự thay đổi
cảm hứng, sự thay đổi đối tượng mà cất lên:
“Những nhà thơ bỏ các đề tài khoáng đạt

về trong phòng con ngột ngạt
Như con hổ đại ngàn
Hoá chú mèo con ”
(Đe tài)
Neu như các bài thơ khác mang cảm hứng ngợi ca, con người được nhìn
nhận nghiêng về bề nổi thì cảm hứng thế sự, thơ chú ý phân tích, lí giải con người
trên nhiều bình diện, cả bề nối lẫn bề chìm. Các tác giả đã viết lên những vần thơ
khao khát tìm lại mình, tìm lại những giá trị đích thực trong cuộc đời, trong tình
yêu bằng những rung động chân thành:
“Em trở về đủng nghĩa trái tim em
Biêt khao khát những điều anh mơ ước
Biết xúc động qua nhiều nhận thức
Biêt yêu anh và biêt được anh yêu ”
( T ự há t - X u â n Q uỳnh)
Qua khảo sát thơ mười năm thời hậu chiến, mặc dù cảm hứng ngợi ca vẫn
là nổi trội nhưng mạch ngầm ẩn sâu trong đó là cảm hứng thế sự đời tư, giai đoạn
khởi động để chuân bị cho những bứt phá mạnh mẽ sau 1985.
Tìm hiểu thơ Việt Nam thời kỳ hậu chiến không chỉ có ý nghĩa khoa học mà
còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc nghiên cứu, giảng dạy về tác giả và tác phẩm thơ
thời kỳ hiện đại.

Khi “ cả đât nước dàn hàng gánh đât nước trên vaV\ Thanh Thảo cùng bạn
bè của mình gác bút nghiên, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc, tham gia
chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Vào chiến trường, người chiến sĩ ấy đã đến với
thơ văn bằng không khí sục sôi của cuộc chiến ác liệt, bằng cả bầu nhiệt huyết của
một người thanh niên cộng sản. Bên cạnh nhiệm vụ chiến đấu, Thanh Thảo đã cho
ra đời những “quả đầu mứa” đã chinh phục được đông đảo độc giả lúc bấy giờ.
Đúng như Thiếu Mai nhận xét trong “T h anh Thảo, th ơ và trường ca”: “Thanh

8


Thảo đã đem đến cho độc giả một thực đơn tinh thần mới mẻ và độc đáo”, “Thơ
Thanh Thảo có dáng riêng” đã làm phong phú thêm cho tiếng nói chung của thi đàn
thời chống Mĩ.
Sự mới mẻ, độc đáo của thơ Thanh Thảo trước 1975 không phải ở đề tài hay
cảm hứng, mà các sáng tác của ông giai đoạn này vẫn hướng về vùng hiện thực mà
văn học của cả thời đại này quan tâm: hiện thực chiến tranh cùng với những vấn đề
nhân sinh mới mẻ. Cái riêng của Thanh Thảo là ông đã phản ánh hiện thực với điểm
nhìn, giọng điệu riêng, không hoà lẫn. Là một người trung thực, có nghĩa khí, có
lòng yêu mến quê hương, đất nước, nhân dân, nhà thơ Thanh Thảo đã chọn cho
mình giọng thơ trữ tình đằm thắm, giàu “hiện thực” và “c/za/ n g h ĩ ’ (Chu Văn Sơn).
Nhiều vần thơ của Thanh Thảo đậm chất suy tư và trăn trở: “Chúng tôi không muốn
chêt về hư danh/ Không thế chết vì tiền bạc/ Chứng tôi xa lạ với những tin tưởng
điên cuồng/ Những liều thân vô ích/ Đất nước đẹp mênh m ang/ Đất nước thẩm tự
nhiên đên tận cùng máu thịt/ Chỉ riêng cho Người chúng tôi dám chêtỉ/ Đêm nay ai
cẩm tay nhau vào tiệc cưới/ Ai thức trắng lội sình ai trầm ngâm viêt những câu thơ
thông m inh/ A i trả nghĩa đời mình bằng máu ” ịThủ' nói về hạ n h p h ú c )
Giai đoạn này chính là bước chuẩn bị quan trọng cho những giai đoạn sáng
tác sau này của nhà thơ.
• Thơ Thanh Thảo từ 1975 - 1985

So với giai đoạn trước, giai đoạn này, thơ ông có phần dịu lắng, nhưng ông
vẫn âm thầm đổi mới cho thơ ca. Với năm tập thơ được xuất bản (gồm cả một số
sáng tác trước 1975): Tàu sắp vào ga (1986), B ạ ch đàn gởi bạch dư ơ ng (1987), T ừ
m ộ t đến m ộ t trăm (1988), T ha nh Thảo 1 2 3 (2007), T han h Thảo 70 (2008) và
một trường ca viết về Trường Sơn vừa ra mắt bạn đọc - trường ca Mêtrô (2009),
Thanh Thảo tiếp tục có những đóng góp quan trọng cho nền văn học của dân tộc.
Ngoài thơ ca, ở giai đoạn này Thanh Thảo còn viêt tiêu luận, phê bình văn học. Ba
tập tiểu luận phê bình: N gón th ứ sáu của bàn tay (1995), M ã i m ãi là b í m ậ t (2004),
Trò chuyện với dòng sông (2009) là minh chứng hùng hồn cho quá trình lao động
nghệ thuật không biết mệt mỏi của Thanh Thảo... Người chiến sĩ khí tiết ấy đã,
đang và sẽ cống hiến hết mình cho sự nghiệp văn học nước nhà.
1.3.3. Quan niệm nghệ thuật
* Quan niệm về thơ
Thanh Thảo đã không ít lần phát biểu quan niệm của mình về thơ trong các
bài trả lời phỏng vấn, các bài tản văn, tiểu luận - phê bình... Nỗ lực định nghĩa thơ,
gọi tên thơ Thanh Thảo cũng là khát khao chính đáng của bất kỳ người cầm bút nào.

10


Biết bao thế hệ thi sĩ tự cố chí kim đã không ngừng dằn vặt suốt cuộc đời mình để
đi tìm chân dung đích thực của nàng thơ, mà muôn đời đó vẫn là một bí mật lớn
không dễ gì hoá giải. Với Thanh Thảo, nói về thơ cũng là một cách đế giãi bày
nguồn năng lượng sáng tạo chưa kịp chuyến hoá thành thơ, là con đường đế người
nghệ sĩ tỏ bày những suy tư của mình lên trang giấy một cách trực diện nhất.
Theo Thanh Thảo, thơ là một thế giới bí ẩn. Đó là “tiếng nổi của tâm linh,
tiếng nói của sự chiêm nghiêm nhiều khi là cả đời người, của nhiều đời người
(T hanh Thảo), là “Ấ:m/z thánh của tâm hổn”, là “thứ không thê mua và không thê
bán” [25, 233]. Thơ “cao hơn bản năng. Đó là tiêng gọi từ một thiên năng” [25,
299], do đó không phải lúc nào cũng nằm trong tầm nắm bắt của con người: “Thơ

thi nhân với những thân phận khác người trong cuộc đời.

thơ từ xưa tới giờ

luôn là kinh cẩu nguyện cho tâm hồn con người, nơi con người có thế sám hối, có
thê khăc khoải, có thê khao khát và công khai bày tỏ những khát khao thầm kín
nhât, nơi bât cứ một ảnh nhìn nào cũng đêu được “trong trẻo hoá ”, đêu thăng hoa,
hưởng thượng” (Ở giữa m ù a trăng). Theo đó, thơ không chỉ giải toả mà còn phản
ánh, không chỉ phản ánh mà còn thanh lọc. Thơ vừa mang hơi hướng độc thoại, vừa
có thế động đến những khoảng nhỏ rất riêng của tâm hồn mình. Sự đồng điệu không
chỉ đến từ những bài ca tập thể, nó là giai đoạn ngây thơ hồn nhiên ban đầu.
Mặt khác, thơ trong quan niệm của Thanh Thảo còn được nhấn mạnh ở khả
năng thức tỉnh. Trước hết đó là sự thức tỉnh của bản thân người cầm bút trước một
hình ảnh nào đó trong đời sống gọi dậy một tứ thơ đã ấp ủ. Sự thức tỉnh ấy không
phải là một tình trạng, mà là một trạng thái tinh thần đột hiện có nguồn gốc sâu xa
từ quá trình chiêm nghiệm lâu dài của nhà thơ về đời sống. Nói như Thanh Thảo:
“Con đường tới với thơ không phải là con đường phân tích, mà là con đường cảm
nhận, con đường của sự đột nhiên, của một bức thư tình từ một hình ảnh ít gặp,
hoặc chưa gặp nào đ ó Cái đột nhiên mà Thanh Thảo đề cập ở đây rất gần với sự
bừng ngộ của thiền gia. Kinh nghiệm tâm linh mà con người tích luỹ từ hành trình
tu chứng lâu dài đến khi chín muồi, chỉ cần bắt gặp một hình tượng ngẫu nhiên nào
đó cũng đều có thể khơi dẫn đến cảnh giới giác ngộ. Tương tự, những suy tư chất
chứa trong tâm tưởng nhà thơ bắt gặp một hình ảnh nào đưa đẩy, gợi nhắc, sẽ bùng
phát thành cảm hứng sáng tạo. Điều này Chu Quang Tiềm từng gọi là “sự phát sinh
của lỉnh cảm ’'': “Linh cảm phát sinh do sự uân nhưỡng của tiềm thức nên nó xuất

12


hiện bât thình lình, nhưng không phải là không có sự chuân bị (...) Gọi là linh cảm,



Với Thanh Thảo, thơ vừa là nơi gửi gắm niềm vui hứng sáng tạo, đồng thời
cũng là chỗ dựa tinh thần cho con người, mà trước hết là cho chính bản thân người
làm thơ:

thơ lại hay được “đ ẻ ” ra trong những thời điếm khó khăn như vậy, bởi

nó vừa là ngôn chí vừa là cánh cửa giải thoát. Những khi đó, người bạn thân thiêt
nhất của nhà thơ chính là... thơ của mình” “Nơi nào thiệt thòi nhất, lặng thầm nhất,
đẳng cay nhất, nơi ấy cổ thơ như bạn đường, như đồng đội, như những hạt dẻ vô tư
và vô danh” (M iễn là dám bước qua giới hạn của m ình). Một câu thơ hay, một bài
thơ hay là cứu cánh của nghệ thuật, một phần vì nó thoả mãn nhu cầu bức bách của
tình cảm và năng lực sáng tạo, mặt khác vì nó tạo nên sức mạnh tinh thần cho con
người, đưa con người ra khỏi những cái buồn tẻ, tầm thường trong đời sống
“trong phút lâm lôi vô tận
những câu thơ chủng ta
rách tả tơi đói kém xanh xao
gượng dậy sau bao lần mệt lả ”
( n h ớ H .Đ và V.H.Đ)
Một đặc điểm quan trọng nữa của thơ ca theo Thanh Thảo là tính độc đáo.
Mỗi thế giới nghệ thuật thơ phải là một thế giới riêng biệt, mới mẻ, sống động.
“Thơ chăng ai giong ai, chăng ai mong giong ai, và khống có loi đi nào chung cho
cả hai nhà thơ cả. Đó là thách thức, và cũng là cải làm nên sức quyển rũ của thơ”
(M ười năm cõng th ơ leo núi). Phấm chất ấy góp phần quan trọng làm nên sức sống
bền bỉ của thơ ca vượt qua những giới hạn của đời người; ngược lại, nếu thiếu nó,
thơ sẽ không thể nào tồn tại. Đó là cái khắc nghiệt mà nhà thơ phải đối diện trong
hành trình sáng tạo của mình.
* Quan niệm về nhà thơ
Lev Tolestoi từng có một câu nói: “Thân phận nhà thơ cao hơn thân phận

nhất”. Đen với thơ người nghệ sĩ phải dấn thân vào cuộc chơi đầy hứng thú nhưng
cũng đầy thách thức:

Một nghệ s ĩ đích thực là người thường phải “đi trên

d â y ’’trong những tác phâm của mình. Sự chênh vênh bập bềnh của ngôn ngữ được
thê hiện trong tác phâm lại là cùng một thước đo đê người ta đánh giá tài năng của
một nghệ s ĩ ngôn từ” (Đọc lại X u â n Diệu). Nhà thơ lúc nào cũng đi trên ranh giới
giữa sự sống và cái chết, giữa cái đẹp và sự tầm thường, giữa nỗi đau tinh thần và
niềm vui hứng sáng tạo:

15


“Có bao nhiêu con đường dân về minh triêt
Anh đã chọn con đường nguy hiêm nhât
Dang tay đi giữa đỉnh cao và vực sâu ”
{Người m ãi võ Sơn Đông)
Nhưng chính ở trạng thái chênh vênh đó mới là thời điểm những áng thơ hay
ra đời: “Không phải trên đỉnh núi hay đáy vực làm nên thơ hay, mà chính là lúc
đang rơi, lúc lơ lửng giữa đỉnh và vực là lúc mà nhà thơ cỏ được những thỉ phâm
xuất thần” (Ba khúc ca ngan về Bích Khê).
Theo Thanh Thảo, thi nhân chỉ có thể sáng tạo trong sự xuất thần, tức là lúc
niềm phấn khích thi ca trở nên bức bách, “đưa người làm thơ vào cách đi của người
mộng du, đi trong mơ với cặp măt m ở to, mở to nhưng như không thây gì, nghe tât
cả mà cuối cùng chỉ là những tiêng văng văng. Thân thê người làm thơ là một bộ
lọc, chỉ khi nào đế yên cho thân thê mình lọc lại đời sông, rồi bất chợt nó bật ra cái
gì, thì đó mới là thơ” [25, 300].
Nội lực tự ngã mạnh mẽ khiến nhà thơ có khả năng “đi trước” về trực giác.
Sự sáng tạo của nhà thơ không chỉ có ý nghĩa như một kiểu phát tiến cảm xúc hay

phóng nguồn năng lượng tinh thần của nhà thơ, mở đường cho những liên tưởng,
tưởng tượng không biên giới, đồng thời nuôi dưỡng khát khao của người nghệ sĩ đối
với cái đẹp. M à cái khát đầu tiên phải là khát vẻ đẹp của thơ, khát cái tuyệt mỹ của
từng câu thơ, từng phần thơ, từng bài thơ, khát cái sức mạnh có được đế thơ đến với
người đọc, khát cái sức sống của bài thơ ngay khoảnh khắc người ta đọc nó.
Một phẩm chất quan trọng khác của nhà thơ, theo Thanh Thảo, là sự chân
thành. Điều này có ý nghĩa như một sự định hướng về mặt tinh thần, rằng những tác
phẩm của người nghệ sĩ dù đi ngược về xuôi thế nào, trước sau vẫn phải chân thành
và trung thực với con người và đời sống. Người viết phải sống hết mình, yêu
thương và căm giận hết cỡ, và tuyệt đối chân thành với chính mình, cũng là chân
thành với cuộc đời. Cứ như thế, cộng với cái “trời cho” là tài năng, nhà văn sẽ có
tác phẩm, dù không “ngang tầm thời đại” gì đó như người ta hay nói một cách sáo
rỗng, thì đơn giản nhất, cũng khiến người viết không phải ngượng với chính mình.
* Q uan niệm về việc sáng tạo
Quan niệm của Thanh Thảo về việc sáng tạo gắn liền với quan niệm thơ và
nhà thơ. Theo ông, sáng tạo là biểu hiện của sự sống, nghệ thuật bắt nguồn từ nội tại
cuộc sống. Sự ra đời của thơ ca không nằm trong chủ ý của thi nhân nhằm đạt đến
sự bất tử về tên tuổi, nó trước hết là một kiếu phản ứng của nhà thơ đối với những
rung động tình cảm trong tâm hồn mình và thế giới. Thơ ra đời vì nhu cầu của nhà

17


thơ cần được giải tỏa khỏi những ẩn ức tinh thần, và trong quá trình tìm cách biểu
hiện những ẩn ức ấy, người nghệ sĩ đã tự lưu dấu mình lại trong thời gian một cách
hồn nhiên nhất. Nói cách khác đi, cùng vì bắt đầu từ sự sống và những năng lượng
sống mà nghệ thuật không bao giờ tàn lụi. Quan điếm này của Thanh Thảo có thể
được liên tưởng tới phát biểu của nhà phê bình Ranicki: “Ai làm thơ, người đó nổi
loạn chong lại cái vô hằng. Ngay cả khi nỏ bảo trước về sự sụp đô, tôn thờ cái chết
và ca ngợi sự suy tàn, thỉ ca - dù nó muốn hay khống - vân bác bỏ sự sụp đô, cái

“Cả thế hệ xoay trần đảnh giặc
Mặc quần đùi, khiêng pháo lội qua b ư n g ”
{N hữ ng ngôi sao của mẹ)
1.4.2. Khối vuông Rubic (1985)
Đây là tập thơ khá độc đáo của Thanh Thảo với ý thức cách tân rõ rệt, gây
được tiếng vang lớn trên văn đàn ngay từ thời điếm nó vừa xuất hiện. Tập thơ này
gồm 9 bài thơ, 1 bài thơ văn xuôi dài Khối vuông Rubỉc (gồm 53 đoạn) và 1 trường
ca Đêm trên cát (viết về M ột đêm của nhà thơ Cao Bả Quát).
Trong 9 bài thơ lẻ, tác giả dành 5 bài thơ đế nói những cảm nghĩ về thơ ca
nghệ thuật và cuộc đời, đó là các bài: Có m ột lần tôi nghe bản giao hưởng số bảy,
Đọc những nhà thơ da đen, Neu Maiakốpxky sống đến tuổi chín mươi, Đàn ghita của Lorca, Ở năm tám m ư ơ i tám của m ộ t con tàu. Ở các bài thơ này đã chứng
minh cho chúng ta thấy sự quan tâm, chú ý đặc biệt của tác giả với nghề làm thơ.
Theo Thanh Thảo, đó chính là nhiệm vụ, sứ mạng của thơ ca và qua đó, đã tạo nên
nguồn cảm hứng vô tận để thi nhân diễn tả quan niệm của cá nhân mình: “các anh là
thợ xây trộn vôi vữa/ cả thiên đàng địa ngục/ qua mặt những tiên tri rao giảng sâm
truyền/ thơ các anh nóng như bánh mới ra lòỉ bùng nô/như bãi mìn vùi dưới đât
nhiều năm ”(Đọc n h ữ n g nhà th ơ da đen)
Trong 4 bài thơ còn lại, có hai bài viết về đề tài chiến tranh: M ộ t ngư ời lính
nói về th ế h ệ m ình, T hị xã L ạ n g Sơn, trong đó bài thơ M ộ t người lính nói về thế
h ệ m ìn h được coi như một lời tuyên ngôn về trách nhiệm của những người trẻ tuổi
về chiến tranh với cách tả trần trụi hiện thực khốc liệt của cuộc chiến: “í/ĩể hệ chúng
tôi trắng từng đêm lội nước/ sình bêt từ chân bêt đên đầu/ nên giọng nói có nhiều
khi ngang dọc/ nên cái nhìn có lắm phen gai góc! vì ngọn lửa chịu sình là lửa thực/

19


đã bùng lên/ dám cháy tận sức m ìn h ” “chúng tôi qua cái khắc nghiệt mùa khô/ qua
mùa mưa mùa mưa dai dăng/ võng mắc cột tràm đêm ướt sũng/ xuồng vượt sông
dưới pháo sáng nhạt nhoà ”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status