Khoá luận tốt nghiệp thế giới nhân vật trong một tổ quý tộc của i s turgenev - Pdf 30

NGÔ THỊ THẢO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
MỘT TỎ QUÝ TỘC

THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG

I.S.TURGENEV

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC


•••

Chuyên ngành: Văn học nước ngoàỉ

HÀ NỘI, 2015
NGÔ THỊ THẢO

CỦA


THỂ GIỚI NHÂN VẬT TRONG MỘT TÓ QUÝ TỘC CỦA
I.S.TURGENEV
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC



tác giả khác. Neu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 05 năm 2015 Sinh viên
Ngô Thị Thảo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỤC LỤC


MỞ ĐÀU
1. Lý do chọn đề tài
Văn học Nga thế kỉ XIX là một trong những giai đoạn văn học tiên tiến
nhất của nhân loại. Chuyến tiếp nhanh chóng từ chủ nghĩa lãng mạn sang chủ
nghĩa hiện thực, văn học thời kì này đã đạt được những thành tựu to lớn và có
nhiều đóng góp tích cực cho nền văn học thế giới.
Đi vào tiếp cận các tác phẩm khác nhau và tìm hiểu ở nhiều thể loại văn
học thời kì này, chúng tôi thấy rằng nền văn học Nga giai đoạn này như dòng
Volga, mà mỗi khúc sông nhỏ mang một nét đẹp riêng. Tất cả đã tạo nên những
giá trị vượt thời đại trong nhiều tác phẩm. Đặc biệt là những sáng tác của
Turgenev - những hạt cát vàng của cuộc đời. Turgenev không phải là người có
đóng góp lớn nhất cho nền văn học Nga cũng như thế giới, nhưng nhũng giá trị ở
con người và tác phấm của ông là không thể phủ nhận và không thể không nhắc
đến.
Với tài năng phong phú dồi dào, I.S.Turgenev là nhà văn Nga đầu tiên
sống ở Pari được thế giới văn hóa nghệ thuật châu Âu công nhận là “nhà tiểu
thuyết vĩ đại”. Một tạp chí văn học ở Anh đã viết: “Toàn châu Âu nhất trí tôn
Turgenev lên đứng hàng đầu trong văn học hiện đại”.
Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất và bộc lộ tài năng rõ rệt nhất cho
Turgenev là tiểu thuyết Một tổ quỷ tộc, viết xong cuối năm 1858, xuất bản vào
đầu năm 1859, đăng trên số 1 tạp chí “Người cùng thời”. Theo dư luận đương


Hoàng Xuân Nhị là người đầu tiên mở cánh cửa dẫn bạn đọc đến với
Turgenev qua bộ giáo trình Lịch sử văn học nga thế kỉ XIX mà ông soạn và được
và xuất bản năm 1960. Với hơn 100 trang in có thế gọi đó là chuyên luận đầu
tiên bằng tiếng Việt về Turgenev. Sau khi đưa ra những thông tin cụ thể về cuộc


đời Turgenev, Hoàng Xuân Nhị đi giới thiệu các tác phẩm Bút kí người đi săn và
các tiếu thuyết Rudin, Một tố quý tộc, Đêm trước, Cha và con... nhận xét về bản
chất con người cũng như sáng tác nhà văn, Hoàng Xuân Nhị viết: “Trong một thời

gian có những cuộc va chạm giai cấp quyết liệt, vì mình vân cồ thủ cái “chủ
nghĩa tự do theo sảo cũ” của mình, nên nhiều khỉ Tuocghenhep đã đứng giữa
những luồng đạn do từ cả hai phía bắn vào. Đấy là nguồn gốc của những nôi
dao động của văn sĩ về mặt tư tưởng; nhưng tuyệt nhiên không thế đánh giả thấp
văn sĩ về sự dũng cảm của trí tuệ, về sự sâu sắc trong nội dung cảm nghĩ, về tầm
rộng lớn của tầm mắt: chính những nhân tố ưu việt này trong bản thân văn sĩ,
kết hợp với sự kích thích của những cao trào của cách mạng ở trong và ngoài
nước đã giải thoát văn sĩ khỏi xiềng xích của thói ích kỉ giai cấp ” [8, 300].
Tiếp sau cuốn giáo trình đầu tiên về lịch sử văn học Nga của Hoàng Xuân
Nhị, tập thể các tác giả thuộc hai trường Đại học Sư phạm và Đại học tống họp
Hà Nội đã biên soạn thêm hai bộ giáo trình nữa, mà ở đó luôn có phần giới thiệu
về Turgenev. Các tác giả nhấn mạnh: tác phẩm của ông... phản ánh sinh động và
kịp thời những hiện tượng mới nảy sinh trong cuộc sống đáp ứng yêu cầu thời
đại, thấm sâu lòng đồng cảm với nhân dân và tràn đầy một niềm tin vào tương lai
của tố quốc, vì thế nó đã có ý nghĩa nhận thức, giáo dục tư tưởng, thẩm mỹ rất
lớn đối với nhiều thế hệ.
Như chúng ta đã biết, ở trong nước, tuy mới chỉ có một nghiên cứu riêng
biệt về sáng tác của Turgenev nhưng đó là công trình nghiên cứu toàn bộ tiểu
thuyết của Turgenev nói chung, chứ chưa có một công trình nào nghiên cứu một

3. Mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.

Mục đích nghiên cứu
Khóa luận tìm hiếu về thế giới nhân vật và một số thủ pháp, biện pháp

nghệ thuật trong tiểu thuyết Một tố quỷ tộc của Turgenev để thấy được sự độc đáo


trong thế giới nhân vật của Turgenev cũng như tài năng nghệ thuật của tác giả
trong việc xây dựng nhân vật.
3.2.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của khóa luận là tiếu thuyết Một tố quý tộc của

nhà văn Turgenev, đặc biệt là những nhân vật trong tiểu thuyết. Văn bản sử dụng
là bản dịch của Trương Thị Tỉnh (2006), Nhà xuất bản Hội nhà văn.
4. Phương pháp nghiên cún
-

Phương pháp hệ thống

-

Phương pháp so sánh

-

Phương pháp phân tích, kháo sát thống kê

Trong cuốn giáo trình Lý luận văn học do Giáo sư Hà Minh Đức chủ biên:

“Nhân vật là một hiện tượĩĩg nghệ thuật mang tỉnh ước lệ, đó không phải là sự
sao chụp đẩy đủ mọi chỉ tiết biếu hiện của con người mà chỉ là sự thế hên con
người qua những đặc điếm về đỉến hình, về tiếu sử, sự nghiệp, tính cách...và cần
phải chú ý thêm một điêu: thực ra khái niệm “nhân vật” thường được quan niệm
với một phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ ỉà con người mà có thế là những
sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách của con người, được
dùng như những phương thức khác nhau đế biếu hiện con người” [4, 126].
Từ điến thuật ngữ văn học do nhóm tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi chủ biên định nghĩa: “ Nhân vật văn học là con người cụ thê
được miêu tả trong tác phâm văn học. Nhân vật văn học có thê có tên riêng: Tấm,
Cám, chị Dậu, anh Pha...cũng có thế không có tên riêng...Khái niệm nhân vật văn
học có khỉ đước sử dụng như một ấn dụ không chỉ một con người cụ thế nào cả, mà
chỉ một hiện tượng nối bật nào đó trong tác phấm...Nhân vật văn học là một đơn vị
nghệ thuật đẩy tỉnh ước lệ, không thế đòng nhất nó với con người có thật trong đời
sống” [5, 202].

Như vậy nhân vật chính là đối tượng mà văn học miêu tả, thể hiện bằng
những phương tiện văn học. Nhân vật là những con người hoặc những con vật,
đồ vật, sự vật, hiện tượng mang linh hồn con người, là hình ảnh ẩn dụ của con


người. Nhân vật là đối tượng mang tính ước lệ và có cách điệu so với đời sống
hiện thực,bởi nó đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nhà văn.
Văn học không thể thiếu nhân vật, vì đó là phương tiện cơ bản để nhà văn
khái quát hiện thực một cách hình tượng. Nhà văn sáng tạo ra nhân vật đế thể
hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một loại người nào đó hoặc
về một vấn đề nào đó của hiện thực. Tức nhân vật nói lên tư tưởng, tình cảm của


1.2.1.

Nhân vật “con người thừa”

Đen đầu thế kỷ XIX, các nhà văn Nga đã xây dựng nên một kiểu nhân vật
mới: “kiểu con người thừa” (hình tượng con người thừa). Đen nay chưa có một
định nghĩa nào thật đầy đủ và chính xác về kiếu loại nhân vật này. Tuy nhiên, tác
giả của các sách giáo trình Lịch sử văn học Nga, Lý luận văn học và các bài viết
đăng trên các tạp chí văn học của các nhà nghiên cứu phê bình trong và ngoài
nước đã khái quát được những nét cơ bản, đặc trưng điển hình về tâm lý, tính
cách của hình tượng nhân vật này. Họ đều thống nhất khi cho rằng “con người
thừa” là khái niệm đế chỉ những con người có ý thức về bản thân và có lòng tự
trọng rất cao nhưng đôi khi vì quá tự tin kiêu hãnh về bản thân nên trở thành
những con người vị kỉ. Họ có lối sống tự do, bất tuân thủ sự ràng buộc của những
nguyên tắc xã hội và đạo lý của một cộng đồng giai cấp mà mình là một thành
viên. Vì vậy hệ quả tất yếu là họ phải chịu một bi kịch tinh thần đó là bi kịch của
một kẻ “tự tách mình” ra khỏi cộng đồng, bị cộng đồng mồng bỏ dẫn đến những
hành động phá phách vô bổ và ngày càng lún sâu vào bi kịch ấy.
Với việc xây dựng hình tượng nhân vật Epghênhi Ônhêghin trong tiểu
thuyết cùng tên của mình, Puskin là nhà văn Nga đầu tiên phác dựng lên bức
chân dung về “con người thừa” hay nói cách khác Epghênhi Ồnhêghin - hình
tượng con người thừa lần đầu tiên xuất hiện trong văn học Nga nửa đầu thế kỷ
XIX. Nối tiếp Puskin có các nhà văn như: Ghecxen, Turgenev, Lermontov... thậm
chí cả những cây đại thụ như Chekhov, Gorki... Turgenev là một trong những nhà
văn đã kế thừa một cách xuất sắc thành tựu của văn học hiện thực quá khứ, trên


nền chung của hiện thực xã hội Nga đương thời, đưa hình tượng “con người
thừa” trở thành hình tượng điển hình của văn học Nga nói riêng và văn học thế

bình thường: không một ai quan tâm đến cậu bé Fedia ngoài người mẹ, mà mẹ thì
cậu lại không được gặp, rồi người mẹ đáng thương cũng qua đời để anh lại cho
một bà bác già khó tính và những ngày tiếp theo của cậu trôi đi trong “căn buồng
nhỏ thấp sặc mùi phong lữ thảo, cây đèn nến tỏa ánh sảng mờ mờ, con dế mèn nhắc
đi nhắc lại tiếng kêu nỉ non đơn điệu. Trên tường chiếc đồng hồ treo nhỏ bé tích tắc
từng giây” [13, 272], từ nhỏ Lavresky đã không yêu một ai trong những người

quanh mình: “Thật là tội nghiệp cho kẻ nào không biết thương yêu từ thuở còn thơ
ấu” [13, 273]. Lavresky lớn lên trở thành một chàng trai cường tráng về thể lực,

nhưng lại rất còi cọc về tình cảm. Ngày cha anh mất, anh cũng có mặt tại đó
“anh không nói gì, đứng dựa vào bờ bao lơn thật lâu, ỉm lặng ngắm cảnh vườn
thơm ngát mùi hoa, cỏ cây xanh biếc đang lóng lảnh dưới những tia nắng vàng của
mặt trời ngày xuân” [13, 277]. Anh ra nước ngoài, và ngày đó cũng là ngày anh

bắt đầu cuộc đời “con người thừa” theo một nghĩa nào đó của mình, dồi dào về
sức khỏe và trí tuệ nhưng sức mạnh đó không được anh dùng đúng chỗ.
Anh đã nhận thấy những thiếu sót về giáo dục của mình và tự nguyện cố gắng bố
khuyết được chừng nào hay chừng đó, “anh không biết cách giao thiệp với bạn bè
và mặc dù trái tỉm nhút nhát của tuốỉ hai mươi ba rất khao khát yêu đương, anh
chưa bao giờ dám nhìn tận mặt một người đàn bà” [13, 278]. Có lẽ vì chưa bao giờ

biết thế nào là tình yêu nên khi gặp Vacvara tưởng đó chính là người con gái anh
cần. Khi mới gặp Vacvara “anh mới hiếu tại sao anh đảng sống trên đời; những
hoài bão của anh, những quyết tâm của anh, tất cả các cái dại dột ấy, tất cả các cái


vô nghĩa ấy đều không còn nữa, con người anh biến thành một cảm giác, thành một
ước muốn duy nhất, ước muốn hạnh phúc lứa đôi, tình ải - mối tình đầm ấm của một
người đàn bà” [13, 285-286]. Một suy nghĩ thể hiện rõ nhất sự ích kỉ chỉ nghĩ đến


cho hạnh phúc riêng của mình nữa, buộc phải quy phục theo ý niệm tôn giáo của
Lida. Chúng ta chú ý đến chi tiết không ít lần tác giả để Lavresky định phản bác
lại Lida nhưng không được (chương XXIX và XL). Thất bại của Lavresky trong
mối tình “chưa bắt đầu đã vội kết thúc” với Lida cho thấy thất bại của anh cả trên
cương vị là một con người xã hội. Cho đến cuối tác phẩm Lavresky vẫn như một
con người thừa, một kẻ không nhà, như chính anh nhận mình như thế: “Lavresky
trở ra ngoài vườn và ngồi trên ghế dài nhỏ, từ cải chô thân yêu hơn tất cả mọi chồ
khác nào, quay mặt nhìn về ngôi nhà kia, nơi mà anh đã dang tay ra một lần cuối
cùng, một cách vô ích đế với lấy chiếc bình thiêng liêng, trong đó chất rượu ánh
vàng của lạc thủ đang nhảy múa và lóng lảnh - anh ta, gã hành hương cô độc, vô
gia đình, đang ngâm lại cuộc đời của mình, trong lúc đó những tiếng reo vui của
một thế hệ mới đã thay thế anh, đang vang vọng đến tai anh” [13, 494-495].

Con người thừa Lavresky còn được biếu hiện khi nhà văn đặt nhân vật
trong mối liên hệ với anh bạn Mikhalevich lãng mạn và hùng biện. So với
Mikhalevich, Lavresky lại bộc lộ là một kẻ luôn ngờ vực, một “con người thừa”
đúng như bản chất của nó. Ở chương XXV, Mikhalevich khi tranh luận cùng
Lavresky đã nói: “cậu chỉ là một người ích kỉ mà thôi! Cậu đi tìm ỉạc thủ cả
nhân, cậu muốn sung sướng, sống cho một mình cậu [13, 339], “cậu không có
lòng tin, không có nhiệt tình trong tâm hồn, cậu chỉ có trí thông minh, cải thông
minh thảm hại” [13, 340], “cậu chỉ là người lười biếng, người ỉườỉ biếng cố
tình, lười biếng có ỷ thức, chứ không phải người lười biếng ngây thơ. Một người
lười biếng ngây thơ chỉ ngủ cả ngày trên lò sưởi và không làm gì hết vì họ không
biết đường làm. Họ cũng không nghĩ đến điều gì cả, nhưng còn cậu, một người
biết suy nghĩ, cậu lại ngồi rói, không làm việc gỉ, cậu có thế làm được việc lắm


vậy mà cậu không làm gì hết, cậu được no bụng, cậu nằm dài cả ngày ’ [13, 340341]. Mikhalevich đã dũng cảm vạch trần cái bản chất “con người thừa” trong
Lavresky được biểu hiện như thế nào. Số phận của Lavresky là một minh chứng cho

thành đạt trong cuộc sống xã hội, họ bất lực cả trong tình yêu và trong tố chức
đời sống, họ không còn chỗ đứng trong xã hội, nói một cách khác, về mặt tinh
thần, họ đã chết cùng với quá trình suy tàn của giai cấp quý tộc.
1.2.2.

Những người phụ nữ bi kịch
Các nhà nghiên cứu đã viết rất nhiều về bi kịch: bi kịch con người, bi kịch

nhân vật, bi kịch cuộc đời, bi kịch lịch sử,... Và trên thực tế, như chúng ta đã thấy
có bao nhiêu con người thì sẽ có bấy nhiêu dạng bi kịch: bi kịch lớn, bi kịch nhỏ,
bi kịch xảy ra với cả người tốt, kẻ xấu...
Một nét tiêu biểu trong sáng tác của Turgenev: phụ nữ bao giờ cũng chiếm
một vị trí đặc biệt trong bố cục tác phẩm và bao giờ ông cũng dành cho nhân vật
nữ yêu mến của ông cái quyền nhận xét nam giới, vì bản tính của nữ giới là mãnh
liệt, không khoan nhượng, toàn vẹn, nhạy bén và mơ mộng. Nhưng theo ông tình
yêu không những là niềm hạnh phúc lớn lao nhất mà còn là tấn bi kịch của đời
người. Cái bi của Turgenev là cái bi làm tôn cái đẹp và được ông nâng niu như
một “vật kỷ niệm thiêng liêng”.
Trong dạng thức kiểu nhân vật bi kịch, chúng tôi soi chiếu vào tiểu thuyết
Một tố quỷ tộc của Turgenev và nhận thấy có hai nhân vật nữ mang bi kịch, đó là

Lida và Vacvara. Trong đó, Lida - tiêu biểu cho những người con gái Nga xưa, ý
thức mạnh mẽ về cuộc sống, với khát khao mãnh liệt về tình yêu, hạnh phúc.
Nhưng nhân vật đã gặp phải rào cản gì? Ở Lida cùng một lúc tồn tại cả bi kịch
bốn phận và cả bi kịch tình yêu.


Trong Một to quỷ tộc, chúng tôi xếp Lida vào kiểu nhân vật bi kịch. Bởi
gắn với Lida là xung đột đạo đức tác phấm, xung đột giữa hạnh phúc và bổn
phận. Đó là mối tình dở dang, người phụ nữ yêu chân thành và say đắm, luôn

thấu đáo bổn phận của mình, chú V không làm mất lòng ai, thương yêu tất cả mọi
người, vậy mà ở chương XXVIII, vì Lavresky nàng đã xúc phạm Pansin, cãi
nhau với mẹ và nhất là với bà cô Macfa Timofeepna. Tình yêu mang đến cho
nàng khát vọng hạnh phúc, nhưng đồng thời cũng kéo nàng ra khỏi cuộc sống
khép kín đầy lí tưởng. Tình yêu đã làm thay đổi cuộc đời và cái tôi của Lida, nó
khiến cho nàng chốc lát không còn là nàng trước kia nữa. Mâu thuẫn diễn ra giữa
những gì có trong cuộc đời thực và lí tưởng tuyệt đối đã dẫn nhân vật Lida tới
điểm bi kịch cuối cùng. Đúng! Turgenev với một dụng ý nghệ thuật nào đó đã thử
thách nhân vật của mình. Quyết định vào tu viện của Lida không chỉ có nguyên
nhân từ tình yêu bất hạnh (nỗi đau đó chỉ là giọt nước cuối cùng, cho dù là nặng
nhất, làm tràn ly nước đã đầy). Tình yêu với Lavresky giống như thử nghiệm cuối
cùng để nàng càng thêm tin rằng nàng không thể có hạnh phúc khi mang trong
mình tội lỗi và đau khố của người khác. Nàng giã từ cuộc sống trần tục trong đau
khổ, thậm chí nỗi đau đó vẫn chưa nguôi ngoai sau tám năm trời (hãy quan sát
Lida khi Lavresky gặp cô ở tu viện: “cỡ không nhìn anh nhưng đôi mỉ hơi rung
động nhè nhẹ, khuôn mặt hốc hác của cô củi xuống hơn nữa và hai tay chắp lại,
vòng quanh chuỗi hột, càng xiết chặt thêm”), nhưng đối với nàng đó là cách duy

nhất để chuộc lỗi cho mình, cho cha, cho mọi người... Nàng nói với bà: “cháu
sinh ra không phải đế hưởng hạnh phúc; ngay cả lúc cháu đang có thế ước mong
hạnh phúc mà cháu cũng đã thấy lòng cháu se lại rồi. Cháu biết rõ hết, cả tội lôi
của cháu, cả tội lôi của người khác, và cũng biết cha cháu làm giàu bằng cách
nào, cháu biết rõ hết.Phải cầu nguyên, cầu nguyên nữa đế xóa bỏ tất cả những
điều này. Xa bà, xa mẹ cháu, xa Lênôska, cháu buồn lắm, nhưng biết làm thế nào
được? Cháu thấy rõ rằng chô của cháu không phải ở đây, cháu đã vĩnh biệt tất


cả mọi thứ trong nhà, có một tiếng gì gọi cháu, cháu không cưỡng được nữa,
cháu muốn xa lảnh cõi đời mãi mãi” [13, 482].
Với Turgenev, ông cho rằng cuộc sống con người là ngắn ngủi, song trong

không cách gì chống lại: “Lida vân còn sống, nhưng ở xa, sống một cuộc đời ân
khuất, anh (Lavresky) nhớ đến cô như nhớ đến một người còn sống và không thế
nhận ra được người mình đã yêu trong cải bóng ma nhợt nhạt và lờ mờ này trong y
phục của kẻ tu hành, hươĩĩg bao khói phủ” [13, 494]. Lida đã chọn cho mình số

phận của “một phụ nữ vĩ đại” và của nhân vật bi kịch.
Nỗi niềm tan vỡ của Lida bằng mối tình đầu trong trắng đến với Lavresky,
nhà văn còn thể hiện một cách nhìn về tình yêu. Một mặt tác giả nghĩ rằng tình
yêu mang lại hạnh phúc dạt dào cho người đời, mặt khác ông lại nghĩ con người
không bao giờ đạt tới hạnh phúc vẹn toàn. Lida và Lavresky dường như hai minh
chứng đối lập của sự thật tàn nhẫn đó. Ngay trong khi gắn bó hết mình với
Lavresky, nàng vẫn không cảm thấy niềm vui mà cứ linh cảm một nỗi bất hạnh
sẽ xảy đến lúc nào không biết: “hạnh phúc trên đời này không tùy thuộc ở ta!”.
“Nỗi u hoài quyến rũ” đã trở thành một phong cách độc đáo của Turgenev, phải
chăng được khắc họa rõ nét nhất trong Một tổ quỷ tộc. Viết về tình yêu, nhà văn
hầu như bị ám ảnh bởi một tín điều trong quan niệm riêng của mình: hạnh phúc
không thế vẹn tròn đối với những người tốt, mà Lida là một điển hình.
Trong thực tế cuộc sống, bi kịch xảy ra cả với người tốt và kẻ xấu. Neu ở tiểu
thuyết Một tổ quỷ tộc, Lida phải đối mặt với bi kịch về tình yêu, bi kịch phải hy sinh
vì bổn phận thì đối với một người đàn bà gian dối như Vacvara, bi kịch vẫn xảy đến.
Vacvara trong tiếu thuyết hiện lên là một người phụ nữ đẹp, ngay từ lần đầu xuất
hiện cô đã thu hút Lavresky: “Dựa trên lan can bọc nhung, cô gái không nhúc


nhích khuôn mặt duyên dáng tròn trịa, nước da ngầm ngãm biếu lộ vẻ trẻ trung
đa cảm, cặp mắt rất đẹp, dịu dàng, chăm chủ dưới hàng lông mỉ thanh tủ, nụ
cười mỉm thoảng qua môi lỉnh động, dáng đầu và tất cả mọi cử động đôi bàn tay,
chiếc cố đều lộ vẻ cực kỳ thông minh” [13, 280]. Vacvara xuất hiện thật đẹp, một
vẻ đẹp thanh thoát, dễ thương ‘Tựa như một thứ nước hoa thanh khiết, tất cả vẻ


muốn ấy của chị đã không thành hiện thực. Sự xuất hiện của chị và đứa con gái
chỉ làm cho Lavresky thêm tức giận, chán nản. Cuối cùng Vacvara cũng đành
phải quay trở về Pari sống nhờ vào khoản lợi tức mà Lavresky cung cấp cho.
Như vậy, một người đàn bà đẹp người, khéo léo như Vacvara cũng đã rơi vào bi
kịch. Đây chính là bi kịch của một kẻ phản bội, một kẻ dối trá.
1.2.3 Những con người tha hóa về đạo đức
Trong tiểu thuyết Một tổ quý tộc, bên cạnh kiểu con người thừa và những
người phụ nữ bi kịch, thì những con người tha hóa về đạo đức cũng được nhà văn
khai thác một cách triệt để. Đó là những kẻ dối trá, ích kỷ, chỉ biết nịnh bợ người
khác. Vladimia Nikolaevich Pansin xuất hiện là một chàng trai mà đi đến bất cứ
“đâu đâu người ta cũng tiếp đãi anh niềm nở, anh dáng người thanh lịch, vui vẻ,
hay đùa, luôn luôn tươm tất và săn sàng làm mọi việc: cung kính khi cẩn thiết, kiêu
căng tùy lúc, tốt với bạn bè^ [13, 223], một chàng trai nhiều tài năng: “anh làm gì
cũng được: hát hay vẽ rất cứng, làm thơ và đóng kịch khả. Mới hai mươi bảy tuốỉ
mà đã làm quan ngự thiện và ở một cấp bậc khả cao” [13, 224]. Những tưởng đây

là một chàng thanh niên tuyệt vời song ta thấy Pansin lại là một kẻ khéo nịnh bợ,
khéo giả tạo. Một kẻ chỉ quen thói làm đẹp lòng người, “một con người lạnh nhạt
và thủ đoạn, ngay cả lúc anh đang tiệc tùng phóng túng nhất, con mắt nâu thông
minh của anh cũng cứ rình mò ghi nhớ tất că” [13, 224]. Ngay khi vừa đến o, được

giới thiệu với gia đình bà Maria Mitriepna, anh ta đã được coi ngay như người
nhà. Bà Maria Mitriepna rất quý chuộng anh ta. Tuy là “một chàng trai rất dễ
thương” song anh ta lại sớm bộc lộ tính ích kỉ của của mình. Anh ta rất thích trêu


ghẹo bác Critopho Fedorovich, một người Đức nghèo nàn, cô độc, gặp bước
đường đời gian truân: ‘Tử khỉ còn bé kia, tôi không thế gặp một người Đức mà lại
không có ỷ muốn trêu ghẹo họ” [13, 236]. Pansin nói với Lida như vậy. Khi biết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status