LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Th.S Nguyễn Thị Quế Thanh
người đã hướng dẫn tận tình giúp tôi thực hiện và hoàn thành khoá luận này.
Xin bày tỏ lòng biết ơn quý thầy cô đã giảng dạy và đóng góp những ý
kiến quý báu cho tôi trong quá trình học tập.
Xin chân thành cảm ơn khoa Khoa học xã hội, phòng đào tạo, Trường
Đại học Quảng Bình tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập nghiên cứu.
Cảm ơn những người thân yêu trong gia đình bạn bè đã động viên,
giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện khoá luận.
Tôi xin tri ân tất cả!
Quảng Bình, Tháng 5 năm 2014
Người viết
Phan Thị Hoa Lài
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn
của Th.S Nguyễn Thị Quế Thanh. Các tài liệu, những ghi nhận trong khoá
luận là hoàn toàn trung thực. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung
khoa học của công trình này.
Tác giả
Phan Thị Hoa Lài
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử dân tộc Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX là một thời
kì lịch sử đau thương với những biến động và thăng trầm. Sự tiếp mặt trước
một kẻ thù mới với dã tâm và trang bị hoàn toàn khác trước đã đẩy các cuộc
đấu tranh yêu nước của dân tộc vào thất bại liên tiếp. Chủ nghĩa yêu nước của
dân tộc đặt trong hoàn cảnh mới đòi hỏi phải có thêm những phẩm chất mới.
Bởi nguy cơ mất nước đã quá rõ ràng và bởi con đường cứu nước không thể
trở về với những bài học, những kinh nghiệm cũ như cha ông trước đây. Cần
kíp phải tìm một con đường mới với những người mở đường mới. Trong tư
tải, đồng thời thấy được nét đặc trưng của con người Việt Nam tại trạm trung
chuyển cận hiện đại. Từ đây, thấy được sự kế thừa của Phan Bội Châu đối với
giai đoạn trước và cả những đóng góp, những thành quả đối với các giai đoạn
sau việc định hướng con người yêu nước lí tưởng. Trở về với nhân vật trong
Trùng Quang tâm sử, chúng ta hôm nay và mãi mãi về sau, có cách nhìn toàn
vẹn và sinh động nỗi trăn trở duy nhất của các bậc tiền bối trước thử thách
cam go của lịch sử để vươn lên bảo vệ Tổ quốc.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tầm cao về tư tưởng yêu nước trong sự nghiệp “vị quốc” của Phan Bội
Châu là lãnh địa lí thú được nhiều nhà nghiên cứu phê bình chọn làm điểm
đặt chân cho hành trình khám phá của mình. Song hành cùng tư tưởng yêu
nước, văn thơ yêu nước của Phan Bội Châu cũng là một miếng đất đông
khách tới lui. Số lượng bài viết về nhà cách mạng Phan Bội Châu nói chung,
về tư tưởng yêu nước trong tác phẩm văn học của ông nói riêng, đạt một dung
lượng đồ sộ. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Nhà yêu nước và
văn Phan Bội Châu (Viện văn học, NXB Khoa học và xã hội, 1967), Phan
Bội Châu về tác giả và tác phẩm của Chương Thâu, Trần Ngọc Vương (NXB
Giáo dục, 2011), Phan Bội Châu toàn tập (10 tập) của Chương Thâu (Trung
2
tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây- NXB Thuận Hoá, Huế 2001), Nghiên cứu
Phan Bội Châu của Chương Thâu (NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004),
Phan Bội Châu trong dòng thời đại của Chương Thâu (NXB Nghệ An, trung
tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2007). Theo dòng chảy lịch sử, các
tập sách dung chứa những bài nghiên cứu của Phan Bội Châu và tư tưởng yêu
nước của ông ngày một đầy đủ và hoàn thiện.
Để công việc nghiên cứu được dễ dàng và hiệu quả, tôi tạo lập một bố
cục lịch sử nghiên cứu theo trục dọc thời gian như sau:
* Trước năm 1975
Trong giai đoạn này, chúng tôi tìm thấy rất nhiều bài nghiên cứu về sự
nghiệp và tư tưởng yêu nước của Phan Bội Châu được ấn hành trong các tập
hợp được những công trình tiêu biểu sau đây: Phan Bội Châu trong đời sống
tinh thần dân tộc Việt Nam thế kỷ XX của tác giả Trần Ngọc Vương (Phan Bội
Châu về tác giả và tác phẩm; Chương Thâu, Trần Ngọc Vương, NXB giáo
dục, 2001), Mấy vấn đề trong quan niệm con người của văn học Việt Nam thế
kỷ XX của Trần Đình Sử (tạp chí văn học Hà Nội, 2001), Tầm vóc Phan Bội
Châu trong lịch sử và lịch sử văn chương Việt Nam đầu thế kỷ XX của Phong
Lê (tạp chí nghiên cứu văn học, Hà Nội, số 4, 2008)
Nhìn một cách tổng quát các công trình nghiên cứu trên đây, chúng ta
thấy mặc dù số lượng bài viết khá nhiều, sự quan tâm của các nhà lí luận càng
rất tích cực, hứng thú nhưng tập trung lại ít có công trình nghiên cứu chuyên
biệt xuyên suốt về sự nghiệp và tư tưởng yêu nước tiến bộ của Phan Bội
Châu. Đến gần hơn với hình tượng con người yêu nước trong sáng tác của
Phan Bội Châu có công trình: Bàn thêm về quan niệm anh hùng của Phan Bội
Châu của Nguyễn Đổng Chi (Nghiên cứu lịch sử số 111, tháng 6 năm 1968)
công trình này đã nói lên được quan niệm xây dựng thế giới nhân vật trong
sáng tác của Phan Bội Châu. Đặc biệt là đã đi sâu làm rõ từng giai đoạn
chuyển biến trong tư tưởng yêu nước của cụ Phan theo các sáng tác thơ văn
rất cụ thể. Trong bài viết của mình Nguyễn Đổng Chi đã đưa ra nhận định:
4
Phan Bội Châu đã chuyển mạnh từ chủ nghĩa anh hùng yêu nước kiểu phong
kiến sang chủ nghĩa anh hùng yêu nước kiểu nông dân kết hợp với chủ nghĩa anh
hùng yêu nước kiểu tư sản. Mặc dù Nguyễn Đổng Chi đã tiến gần hơn với chủ
nghĩa yêu nước của Phan Bội Châu qua các nhân vật văn học, nhưng để thực sự
đi sâu và làm rõ quan niệm về con người yêu nước trong sáng tác của Phan Bội
Châu thì công trình này cũng chưa được triển khai một cách thấu đáo.
Đại đa số các nghiên cứu này đều thống nhất với nhau ở chỗ, ghi nhận
nội dung yêu nước tràn đầy và hình thức nghệ thuật cách tân “thoát lốt” nhà
nho trong các tác phẩm của Phan Bội Châu. Song, với độ sâu và chiều cao tư
tưởng yêu nước của nhà đại ái quốc, thì việc nghiên cứu cần thiết nhiều hơn
nữa một công trình chuyên sâu.
Chương II: Thế giới nhân vật xét từ nội dung yêu nước.
Chương III: Thế giới nhân vật xét từ phương thức thể hiện.
6
NỘI DUNG
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
1.1. Hình tượng nhân vật, hình tượng nghệ thuật
1.1.1. Hình tượng nhân vật
Nhân vật là linh hồn của tác phẩm, là hình ảnh trung tâm, là nơi thể hiện
tập trung lí tưởng đạo đức thẩm mĩ của tác giả. Nhân vật văn học được miêu
tả, thể hiện trong tác phẩm văn học bằng phượng tiện văn học. Nhân vật trong
tác phẩm văn học có thể là những nhân vật được định danh rõ ràng như Thuý
Kiều, Kim Trọng, Tôn Ngộ Không, Gia Cát Lượng, Trương Phi Đó cũng
có thể là những nhân vật không tên như thằng bán tơ, người đàn bà làng chài,
chàng trai, những kẻ đưa tin, lính hầu thường thấy trong kịch. Đó là những
nhân vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại bao gồm cả quái vật lẫn
thần linh, ma quỷ, những con vật mang nội dung và ý nghĩa con người. Nhân
vật có thể là những con người được miêu tả cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính
cách, tiểu sử như thường thấy trong tác phẩm tự sự, kịch. Đó cũng có thể là
những con người thiếu hẳn những nét đó, nhưng lại có tiếng nói, giọng điệu,
cái nhìn như nhân vật người trần thuật, hoặc chỉ có cảm xúc nỗi niềm, ý
nghĩa, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình. Khái niệm nhân vật
có khi được sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào mà
chỉ là một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm. Nhưng chủ yếu nhất vẫn là hình
tượng con người trong tác phẩm.
Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi vì đó là hình thức cơ bản để qua
đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng. Văn học vốn có mối quan
hệ đối với đời sống. Và chỉ tái hiện được đời sống qua những chủ thể nhất
định, đóng vai trò như những tấm gương của cuộc đời.
Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật ước lệ, có những dấu
đều là hình tượng nghệ thuật. Thông thường quan trọng nhất là hình tượng
8
con người. Ở hình tượng nghệ thuật có sự hoà trộn nhân tố nhận thức khách
thể và nhân tố sáng tạo chủ thể. Hình tượng nghệ thuật là một khách thể tinh
thần. Mọi phương tiện biểu hiện chỉ có ý nghĩa khi làm sống lại các khách thể
đó, và người đọc tác phẩm, chỉ khi nào thâm nhập vào thế giới tinh thần đó
mới có thể nảy sinh được sự thưởng thức, đồng cảm.
Hình tượng nghệ thuật là cái được sáng tạo, được khái quát, không phải
là sao chép cái có sẵn mà là đứa con tinh thần của nghệ sĩ trong quá trình
nhận thức về hiện thực cuộc sống, đồng thời là con đẻ của hiện thực khách
quan. Hình tượng nghệ thuật thể hiện quan hệ giữa thế giới nghệ thuật và thực
tại mà nó phản ánh, giữa tác giả với người đọc. Quan hệ giữa tác giả đối với
cuộc sống trong tác phẩm, cuối cùng là quan hệ giữa các yếu tố của bức tranh
đời sống. Nam Cao quan niệm: nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối mà
nghệ thuật phải thoát ra từ tiếng kêu đau khổ của những kiếp lầm than. Dấu
chân của người nghệ sĩ phải xuyên thấm từ cách tiếp cận hiện thực, cách phát
hiện vấn đề và phương thức chuyển tải tư tưởng tình cảm qua hình tượng.
Beelin khẳng định: “tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó mô tả cuộc sống chỉ
để miêu tả, nếu nó không có sự thôi thúc chủ quan mạnh mẽ nào đó có nguồn
gốc trong tư tưởng bao trùm thời đại nếu nó không phải là tiếng thét đau khổ
hoặc lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời
những câu hỏi đó”.
Tóm lại hình tượng nghệ thuật là nơi kết tinh của các yếu tố về con
người, đời sống xã hội, tư chất nhà văn, mà nhà văn là người giữ một vai trò
quan trọng trong việc chuyển từ thế giới vật chất sang thế giới tinh thần,
hướng người đọc tới cái nhìn sâu sắc hơn về tác phẩm.
1.2. Phan Bội Châu - cuộc đời, văn nghiệp
Trong sâu thẳm tâm hồn con người Việt Nam, nhớ đến cái tên Phan Bội
Châu là nhớ đến người anh hùng cứu quốc, đồng thời nhớ đến nhà văn, nhà
thơ lớn của Quốc gia, dân tộc.
đầu làng với mong muốn bày tỏ chí đánh giặc của mình. Năm lên 19 tuổi, khi nghe vua
Hàm Nghi phát hịch Cần Vương, Phan Bội Châu cùng người bạn thân là Trần Văn Lương
thành lập nên “Sĩ tử Cần Vương đội” bị giặc Pháp khủng bố nên đã tan rã. Tuy sớm có tinh
thần cứu nước nhưng hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ mất sớm, cha già không có ai chăm
sóc nên mãi đến năm 1900, sau khi đậu giải Nguyên và cụ thân sinh cũng mất, Phan Bội
10
Châu muốn hoàn toàn dành trọn vẹn cuộc đời mình để tìm đường cứu nước. Năm 1901
Phan Bội Châu ấp ủ âm mưu chiếm thành Vinh nhân ngày Quốc Khánh của Pháp (14 tháng
7) nhưng không thành. Năm 1904 Phan Bội Châu tích cực vận động thành lập Duy Tân
Hội. Năm 1905, ông bí mật sang Trung Hoa, Nhật Bản phát động phong trào Đông Du.
Năm 1908, phong trào Đông Du bị giải tán. Kế đó, Phan Bội Châu bị trục xuất khỏi Nhật
Bản, phải trở lại Trung Hoa, rồi tới Thái Lan xây dựng căn cứ đợi thời cơ. Năm 1912, sau
cách mạng Tân Hợi (1911) Phan Bội Châu trở lại Trung Hoa thành lập Việt Nam quang
phục hội và Hội chấn Hoa hưng Á. Từ năm 1913 – 1916 (có chỗ nói 1917) ông bị chính
quyền Quảng Châu bắt giam. Tuy bị giam trong ngục nhưng nhà cách mạng vẫn không
ngừng tìm cách liên hệ với các đồng chí mình và chủ trương lợi dụng việc Đức hất cẳng
Pháp khỏi Đông Dương để vùng lên đuổi Pháp cứu nước. Nhưng đại chiến thứ nhất kết
thúc và Pháp là phe thắng trận. Năm 1922, Phan Bội Châu bắt tay cải tổ Việt Nam quang
phục hội thành Đảng Việt Nam Quốc dân. Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc từ nước Nga đến
Trung Hoa làm ủy viên Đông Phương bộ. Được Nguyễn Ái Quốc góp ý, Phan Bội Châu
sẵn sàng thay đổi đường lối, chưa kịp bàn bạc cụ thể thì đến năm 1925, ông bị Pháp bắt cóc
giải về nước, chúng định thủ tiêu kín nhưng bị bại lộ đành đưa xử ông công khai, kết án tù
chung thân (từ năm 1922, ông đã bị thực dân Pháp kết hợp với Nam triều kết án tử hình
vắng mặt). Nhân dân cả nước đấu tranh đòi ân xá cho Phan Bội Châu; Varen (varenne)
sang Đông Dương thay thế Meclanh (Merlin) làm toàn quyền, ra lệnh ân xá, nhưng thực tế
đưa cụ về giam lỏng tại Huế (Bến Ngự) cho đến khi qua đời (1940).
Con đường cứu nước của cụ Phan cũng gắn chặt với cuộc đời của cụ.
Trải qua nhiều khuynh hướng chính trị, từ chỗ chịu ảnh hưởng của phong trào
Cần Vương, chuyển sang chủ trương quân chủ lập hiến, rồi đi đến chủ trương
cách mạng dân chủ tư sản, tư tưởng yêu nước của Phan Bội Châu luôn vận
cái hào sảng của đấng nam nhi chí khí:
Ngã vị đăng sơ thì,
Chúng sơn dữ ngã tề.
Ngã kí đăng sơn thì,
Ngã thi chúng sơn đê.
( Ta chưa lên đỉnh núi kia,
Núi non bao bọc từ ngang vai.
Ta lên trên đỉnh kia rồi,
Non xanh trăm ngọn gió xuôi lè tè.)
Hay tâm thế xông pha để làm nên đại nghiệp, tâm trạng bức bối mong
cứu vong cứu tồn cho quốc gia thì rất rõ ràng.
Nay có kẻ: dọc ngang vũ trụ, chế nhạo hồng trần.
12
Rửa bụng bằng tám chín đầm Vân Mộng, làm nhà dưới muôn vạn hác
tùng quân.
Hay Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời
Trong khoảng trăm năm cần có tới
Sau này muôn thủa há không ai
Non sông đã mất sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài
Muốn vượt biển đông theo cánh gió
Muôn trùng sống bạc tiễn ra khơi
(Xuất dương lưu biệt, bản dịch của Tôn Quang Phiệt)
Giai đoạn thứ hai (từ năm 1905 đến 1925), trên con đường bôn ba hải
ngoại, nhà cách mạng Phan Bội Châu thường lấy bút danh Sào Nam Tử, Thị
Hán… Với khí thế tung hoành, hào sảng, một số tác phẩm như: Việt Nam
vong quốc sử (1905), Khuyến quốc dân tư trợ du học văn (bài văn khuyến
quốc dân giúp đỡ phong trào du học (1905), Hải ngoại huyết thư (1906), Kính
cáo toàn quốc phụ lão thư (Thư kính báo phụ lão toàn quốc, 1907) thư gửi
học đăng (1953). Ngoài ra còn nhiều văn thơ khác được tập hợp lại trong các
quyển: Phan sắc nam văn tập, Phan sắc nam quốc văn thi tập. Tư tưởng
truyền tải ở đây vẫn chứa chan tấm lòng yêu nước, thương dân thiết tha với
nét độc lập tự do của quốc thể, đồng bào. Phan Bội Châu tham gia chú giải
kinh dịch cũng trong giai đoạn này.
Trong văn nghiệp của Phan Bội Châu có 2 cuốn hồi kí tự thuật đó là:
Ngục Trung thư (1914) ngay sau khi bị giặc bắt giam tại nhà ngục Quảng
Châu, và cuốn Phan Bội Châu niêu biểu viết trong những năm cuối đời. Qua
14
hai cuốn hồi kí có thể thấy rõ toàn bộ cuộc đời cách mạng, con người và nhân
cách cao cả của Phan. Nếu trên đường chính trị Phan là một chính khách, nhà
tuyên truyền không mệt mỏi thì trọn vẹn văn chương ông cũng là ngòi bút
xông pha bền bỉ. Nhưng “dù làm thơ, viết tuồng hay viết tiểu thuyết có thể
đến hàng nghìn tác phẩm, Phan Bội Châu cũng chỉ có đáng kể những cái gì
đã góp phần vào mục đích thức tỉnh đồng bào đang mê ngủ” (Trần Đình
Hượu).
Văn nghiệp Phan Bội Châu là sự biểu hiện tròn đầy những biến hóa tích
cực về đường lối cảm nghĩ và hành động của nhà đạo đức cách mạng Việt
Nam. Qua văn chương của ông, những thước phim cận cảnh về ý chí dân tộc,
về đất nước giống nòi, về đồng bào đồng chí như còn hiện diện một cách sống
động trước nhãn tiền của người xem. Cũng từ trong trang văn, trang thơ của
cụ, vang vọng những tiếng thét căm hờn dữ dội, những bản cáo trạng hùng
hồn, đanh thép về tội ác của quân thù. Ở đó ta thấm thía lẽ sống và tiếng nói
giục giã cứu nước thương nòi trong thời đại mới.
Phan Bội Châu vẫn tiếp tục sự tồn tại của mình trong tư cách nhà yêu
nước, nhà văn, xuất hiện thêm trong ông một nhà khảo cứu triết học và văn
hóa. Cuộc đời ông gắn liền với những thăng trầm, thành bại, vinh nhục của số
phận dân tộc trên nhiều bình diện, nhiều chiều kích khác nhau. Hiểu đúng ông
là một đòi hỏi quan trọng để hiểu đúng dân tộc Việt Nam trong cả một chặng
lớn của lịch sử.
ngôn”. Pháp luật thực dân lợi dụng bọn phong kiến làm nanh vuốt, thanh trừ
loại văn đó, truy tố, hãm hại những người đã viết tập sách này.
Dưới chế độ thực dân Pháp và chính quyền phát xít của chủ nghĩa tư
bản, sự khủng bố được tiến hành với một tinh thần ghê gớm, quỷ quyệt hơn
bao giờ hết. Tuy vậy, tất cả thủ đoạn áp bức, khủng bố đó vẫn không thể tiêu
diệt được tinh thần nhân đạo của những tác phẩm ưu tú. Và chính vì có một
nội dung lành mạnh cho nên tập sách đã được người ta chép lấy và giữ lại cho
đến ngày nay, để được phiên dịch ra tiếng Việt và giới thiệu với độc giả .
16
Với sức mạnh trường tồn mãnh liệt của tinh thần yêu nước, tiểu thuyết
Trùng Quang tâm sử đã định vị giữa nền văn học dân tộc với vai trò là tác
phẩm quan trọng trong bước chuyển mình “nhạy cảm” của lịch sử tư tưởng
yêu nước trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX.
1.3.2. Nội dung của tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử
Qua hai mươi chương hồi với ngót hai mươi nhân vật, Trùng Quang
tâm sử, đã dựng lại bức tranh sinh động về thảm cảnh của một dân tộc đang
quằn quại dưới gót giày của đế chế Trung Hoa với những âm mưu thủ đoạn
thâm độc của bọn dị tộc cướp nước. Nhưng nổi bật nhất vẫn là cao trào giải
phóng dân tộc với sức vùng dậy quật cường của các tầng lớp nhân dân Việt
Nam, trong khoảng cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV.
Trùng Quang tâm sử là một cuốn tiểu thuyết mà trong đó yếu tố tưởng
tượng có một tác dụng, một địa vị rõ rệt. Nhưng đây không phải là một bộ
tiểu thuyết lịch sử, nhằm mục đích kêu gọi hay xây dựng lại cuộc sống xã hội
của một thời kỳ đã qua, đây cũng không phải là một tập phiêu lưu kí với
những đoạn lạc bất ngờ, những tình huống hồi hộp, lại càng không phải là
một tập tiểu thuyết tâm lý với những tình tiết ly kì, những tâm trạng phức tạp
trong một khung cảnh về không gian, về thời gian. Trái lại trong động tác,
trong lời nói, trong thái độ sống, trong quan niệm nhân sinh của các nhân vật
và ngay địa điểm, thời gian hoạt động của bấy nhiêu con người bạn đọc sẽ
luôn vấp phải những tình tiết phản lịch sử khá nghộ nghĩnh.
với nhân dân ta hồi bấy giờ, đó cũng là một câu chuyện lạ lùng, khủng kiếp,
nhưng đối với Phan Bội Châu nguyên tắc đó là cơ sở lý luận được nêu ra ngay
từ đầu cuốn tiểu thuyết. Ông Xí cũng như các bác nông dân, các chị phụ nữ
các bác thợ rèn đều cảm thấy một nỗi chua cay, đau khổ của những người mất
nước. Vì đất họ cày, nghề nghiệp họ làm đã bị người khác cướp đoạt. Anh
Phúc, anh Thắng, hai ngụy binh đi về với hàng ngũ cách mạng vì họ đã mắt
nhìn thấy rằng: cái cách mạng người An Nam không bằng con ngựa của tên
18
quan cai trị. Những đoạn đối thoại giữa các nhân vật đều là những lời lẽ cảm
động để củng cố lòng yêu nước và niềm tin đối với tiền đồ cách mạng.
Công việc cứu nước là công việc của toàn dân. Con người cứu quốc là
con người anh hùng. Anh hùng ở đây không hoàn toàn thuộc dòng dõi quý tộc
mà phần lớn là những anh hùng thảo dã. Họ đã có gan đảm đương lấy công
việc cứu quốc với ý chí nghị lực sắt đá, kiên trung.
Công cuộc dẹp giặc giành lại nước nhà, khi chúng ta khép lại tập sách,
vẫn còn bỏ dở, chưa phải đã tới thắng lợi. Tác giả còn nhắc đến kết cục thất
bại của vua Trùng Quang, nhưng cũng phải nói rằng tác giả tập sách đã tin
tưởng hơn ai hết vào tiền đồ của Tổ quốc. Sau này, từ ngày cụ Phan bị bắt về
nước, sau hơn hai mươi năm bôn ba, những người đã gặp cụ vẫn được nghe
cụ nhắc đến câu châm ngôn “thất bại là mẹ thành công” thì ở đây ông Xí, ông
Kiên cũng sẽ là những vị danh tướng của nhà Lê và tập sách này cũng không
phải chỉ là tập tiểu sử của những anh hùng thất bại. Nói cho đúng hơn, đây là
câu chuyện của những người “anh hùng vô danh”. Mục đích của tác giả chỉ là
cất tiếng gọi to để thức tỉnh đồng bào.
“Dậy ! Dậy ! Dậy!”
Ba chữ mở đầu cho tập sách, và cũng là ba chữ kết thúc không thể nói
là tập tiểu thuyết đã thực hiện được mục đích đó, bởi một lẽ rất rõ rệt là từ
ngày diễn ra mãi cho đến ngày cụ Phan từ trần, tập sách chưa được phổ biến,
nhưng cái mà tập sách này chưa thực hiện được, tư tưởng và hoạt động của cụ
và của các đồng chí, mấy năm sau sẽ gây được những tiếng vang lớn hơn
gọi An Nam nhất thống chí, Hậu Lê thống chí, Lê quý ngoại sử. Tác phẩm tiếp
theo Hoàng Việt Long hưng chí được hoàn thành vào năm 1899 do Ngô Giáp
Đậu, người làng Tả Thanh Oai, con cháu của Ngô Gia Văn phái soạn.
Một tác phẩm dùng thể loại này là Việt Lam xuân Thu, còn gọi là Việt
Nam tiểu sử hoặc Hoàng Việt xuân thu do Vũ Xuân Mai khởi thảo, Lê Hoan
nhuận sắc in vào năm 1908. Có một tác phẩm ít được nhắc đến trong hệ thống
20
tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam là Tây Dương Gia Tô bí lục, do các
tác giả Phạm Ngô Hiên – Nguyễn Hoà Đường - Nguyễn Bá An - Trần Trình
Hiên soạn vào những năm cuối của thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Cuối cùng
là tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu, tác phẩm được đăng
tải nhiều kỳ trên Binh Sự tạp chí, ở Hoàng Châu thuộc cơ quan quân sự tỉnh
Triết Giang Trung Quốc từ năm 1921- 1925.
Trùng Quang tâm sử là tác phẩm ra đời muộn nhất trong hệ thống thể
loại tiểu thuyết chữ hán Việt Nam. Với lối viết đặc trưng của tiểu thuyết
chương hồi cổ điển và vượt sang địa hạt của bút pháp tiểu thuyết hiện đại khi
giới thiệu nhân vật không còn thấy lối “gây bất ngờ” hoặc giới thiệu lai lịch
một cách dài dòng, gắn với một sự kiện lịch sử có ngày tháng rõ ràng như
trong các tiểu thuyết chương hồi kiểu như “Mọi người đều reo mừng hưởng
ứng và cùng nhìn về phía kẻ mới nói, thì ra đó là viên biên lại của đội tiếp.
Bảo tên là Vũ Bằng, Vũ Bằng là người huyện ”[5, 542] “lại nói năm ấy
Thanh Đô Vương Trịnh Tráng xuống mở khoa thi chọn học trò. Bây giớ học
trò ở quê xã Hoa Trai, Huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia là Đào Duy Từ, tên
hiệu ”[5, 221]. Tất cả các nhân vật đều được giới thiệu đầy đủ lai lịch như
cách kể của của liệt truyện và cũng giống như nghệ thuật trì hoãn của sử thi,
khiến cho câu chuyện trở nên rườm rà bởi lời giới thiệu của tác giả khác hẳn
với cách giới thiệu của Trùng Quang tâm sử. Phan Bội Châu đã mượn lời kể
của một nhân vật để giới thiệu về nhân vật mới, kiểu như phần giới thiệu cô
Chí bằng câu chuyện lí giải cho cô có mặt trong buổi họp mặt các Đảng viên
tại sơn trại. Nói chung là không có một công thức nhất định như các tác phẩm
quyền trách phạt” [2,30], hoặc nhân vật Phấn nói “nhưng theo ý kiến riêng
của tôi thì hai chữ anh hùng e rằng không phải chỉ dành riêng cho anh em
nam giới”[2,33] hay Lực nói “xin mời vào Đảng! xin mời vào Đảng! bọn ta
kết giao với nhau chỉ cốt thần hồn, không phải vì nhan tướng. Nếu ai tán
thành việc giết giặc thì đều là anh em rất yêu, rất kính của ta” [2,42] chúng ta
có cảm tưởng những con người này đều thấm nhuần tư tưởng dân chủ.
22