TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỬVĂN
NGUYỄN THỊ HẠNH
KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN
NGHỆ THUẬT TRONG CÓ ĐÔ
CỦA YASUNARY KAWABATA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
••••
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
HÀ NỘI- 2015
NGUYỄN THỊ HẠNH
KHÔNG GIAN YÀ THỜI GIAN
NGHỆ THUẬT TRONG CÓ ĐÔ
CỦA YASUNARY KAWABATA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Ngưòi hướng dẫn khoa học
TS. NGUYỀN THỊ BÍCH DUNG
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp của mình, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của
các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn- Trường ĐHSP Hà Nội 2, trong tổ bộ môn Văn học nước ngoài.
1. Lí do chon đề tài
*
1.1. Lí do khoa học
•
Yasunary Kawabata (1899- 1972) là một nhà văn lớn của Nhật Bản,
người Châu Á thứ hai sau R. Tagore nhận giải thưởng Nobel văn chưong vào
năm 1968, đúng 100 năm sau cuộc Duy tân Minh Trị (1968) khởi đầu. Những
sáng tác của Y. Kawabata phản ánh và khẳng định những nét đẹp truyền thống
của con người và thiên nhiên Nhật Bản bằng “nghệ thuật viết văn tuyệt vời và
tình cảm lớn lao, thể hiện được bản chất và cách tư duy Nhật Bản”(Đánh giá
của Viện Hàn lâm khoa học Thụy Điển khi trao giải).
Y. Kawabata được các nhà nghiên cứu tôn vinh như người “Mở cánh cửa
tâm hồn Nhật Bản”. Ông là nhà văn Nhật Bản đầu tiên nhận giải Nobel văn học
vào năm 1968 với bộ ba tiểu thuyết: Xứ tuyết (1947), Ngàn cánh hạc (1951),
Cổ đô (1962).
Cố đô là một trong ba bộ tiểu thuyết tiêu biểu, đặc sắc làm nên tên tuổi
của Y. Kawabata. Mỗi tác phẩm của Y. Kawabata đều cho thấy nghệ thuật viết
văn tuyệt vời và tình cảm lớn lao, thể hiện được bản chất của cách tư duy Nhật
Bản qua bút pháp sáng tác bậc thầy - một kiểu sáng tác lãng mạn mà không
gian và thòi gian nghệ thuật là một yếu tố rất quan trọng trong đó.
Không gian và thời gian là sản phẩm sáng tạo để nhà văn thể hiện quan
niệm nhất định về con người, cuộc sống. Vì vậy, việc tìm hiểu về không gian
và thòi gian nghệ thuật là điều thú vị, là sự quan tâm của nhiều người.
Đối với Y. Kavvabata, từ lâu “Không gian và thời gian nghệ thuật” trong
sáng tác của ông vẫn được coi là một đề tài mới mẻ và hấp dẫn đối với những
người say mê văn chương Nhật Bản - say mê dòng văn học xứ Phù Tang.
5
6
Một tác phẩm văn chương sinh động, hấp dẫn được thể hiện qua rất nhiều
phương diện nghệ thuật, trong đó “Không gian và thời gian nghệ thuật” là đề
tài độc đáo và đặc sắc. Khi nghiên cứu đề tài này người viết không chỉ nắm
được nội dung tư tưởng của tác phẩm mà còn là dấu hiệu nhận biết phong cách
của nhà văn.
Từ những lí do đó chúng tôi chọn đề tài Không gian và thời gian nghệ
thuật trong cố đô của Y. Kawabata với hi vọng sẽ khám phá được phần nào
đóng góp của tác giả làm nên giá trị nghệ thuật cho tác phẩm.
2. Lich sử vấn đề
•
Nói tới không gian và thời gian nghệ thuật là là nhắc tói một trong những
vấn đề cơ bản của khoa nghiên cứu văn học hiện đại. Ngày nay không gian và
thời gian nghệ thuật rất được giói nghiên cứu chú trọng. Tuy nhiên trước thế kỷ
XX, khái niệm này dường như chưa được quan tâm một cách đúng mức.
Y. Kawabata là một trong những nhà văn góp phần làm phong phú các
giá trị văn chương của nhân loại trong thế kỉ XX. Sáng tác của ông luôn thu hút
được sự quan tâm của giói nghiên cứu trong và ngoài nước:
Tạp chí văn học số 16 (tháng 9/ 1999) tác giả E.G.Sheidensticker nhận
xét: “Tôi cho rằng nên xếp Y. Kawabata vào dòng văn chương mà ta có thể dò
đến tận bậc thầy Haikư của thế kỉ XVII”. Trong bài viết này tác giả chủ yếu tìm
hiểu nghệ thuật Chân không trong sáng tác của Y. Kavvabata.
Tạp chí văn học số 9 năm 1999: Tác giả Lưu Đức Trung có bài viết bàn
về “Thi pháp tiểu thuyết Y. Kavvabata- Nhà văn lớn của Nhật Bản”. Thể hiện
rõ thi pháp đặc trưng trong sáng tác của Y. Kavvabata là thi pháp Chân không
(nói ít, gợi nhiều, ý được thoát ra từ khoảng trống của câu chữ).
Tạp chí văn học số 2 năm 2002, tác giả Nhật Chiêu có bài “Thế giới
không gian tĩnh hay động.về hình tượng thời gian có thời gian trần thuật, thòi
gian tâm lí. Tác giả cũng nhấn mạnh “hình tượng thời gian cũng đồng thời biểu
8
lộ cách nhìn của con người về thế giới”[9; tr 183],
Không gian và thời gian là hai khía cạnh của sự vật, là kích thước của sự
sống, là một hiện tượng của thế giói khách quan. Nghệ thuật biểu hiện sự sống,
tái hiện sự sống làm sao không dựng cái khung không gian và thời gian lên
được để chứa đựng vật, để cho sự vật có chỗ sống, sinh sôi nảy nở” (Huy Cận).
Trong khóa luận này, ngưòi viết muốn tìm hiểu, khám phá sâu hơn phương
diện “Không gian và thời gian nghệ thuật trong cố đô của Y. Kawabata”.
Cố đô là là một trong ba tác phẩm đạt giải Nobel của Y. Kawabata. Tác
phẩm nói tới vẻ đẹp của thành phố Kyoto và các truyền thống cổ, cũng từ đó
thể hiện tâm lí của con ngưòi - đặc biệt là nói tới cặp chị em song sinh đã bị
chia cách từ lúc mới chào đời. Không gian và thời gian trong tác phẩm được Y.
Kawabata thể hiện rất độc đáo, sinh động khiến độc giả cảm nhận mới mẻ
không dễ gì nắm bắt được ngay mà phải bằng cả tâm hồn, sự hứng thú của
mình để tìm hiểu sâu sắc vấn đề này.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm mục đích khám phá không gian và thời gian nghệ thuật trong
Cố đô của Y. Kawabata. Qua đó thấy được tài năng của nhà văn và những đóng
góp lớn lao của ông cho nền văn học Nhật Bản nói riêng và cho nhân loại nói
chung.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này người nghiên cứu hệ thống các khoảng không gian và thời
gian khác nhau trong tác phẩm, sau đó tiến hành phân tích, so sánh, đối chiếu
giúp người đọc thấy được những đóng góp, sáng tạo mới mẻ của Y. Kavvabata
về vấn đề đang cần bàn.
hai chương:
Chương 1: Không gian nghệ thuật trong cố đô Chương 2: Thời gian
nghệ thuật trong cố đô
1
0
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG CÓ ĐÔ
1.1.
Khái niệm về không gian nghệ thuật
Không gian là hình thức cơ bản của thế giới. Trong đó, các vật thể có độ
dài và độ lớn khác nhau nhưng đó chưa phải là không gian nghệ thuật. Không
gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật. Không có hình
tượng nghệ thuật nào không có không gian.
Nếu thế giới nghệ thuật là thế giới của cách nhìn và mang ý nghĩa khái
quát thì không gian nghệ thuật là trường nhìn mở ra từ một điểm nhìn, cách
nhìn. Không gian ấy có thể rất rộng có thể là rất hẹp. Nó cũng có viễn cảnh, có
giá trị tình cảm. Tình cảm có thể làm cho không gian bao la thêm hay gò bó
chật chội hơn. Không gian nghệ thuật không đồng nhất với không gian hiện
thực. Đây là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong việc hình thành thế giới
nghệ thuật, góp phần thể hiện thế giới quan tư tưởng của người nghệ sĩ trước
hiện thực và xã hội, phụ thuộc vào cách phản ánh thế giới của nhà văn vì nó
mang tính chủ quan.
Trong “7w- điển thuật ngữ văn học” các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình
Sử, Nguyễn Khắc Phi đã định nghĩa về không gian nghệ thuật như sau: “Không
Tiểu thuyết Cố đô kể về cô gái trẻ Chieko, một đứa trẻ bị cha mẹ nghèo
xơ xác bỏ rơi và được gia đình thương gia Takichiro nhận nuôi, ở đây cô được
nuôi nấng dạy dỗ theo những nguyên tắc truyền thống của Nhật Bản. Chieko là
một cô bé nhạy cảm, trung thành, nhưng thường ấp ủ về thân thế của mình. Ở
Nhật bản người ta cho rằng một đứa trẻ bị bỏ rơi sẽ khổ ải với tai ương suốt
đời, thêm vào đó theo một quan niệm hết sức lạ lùng của Nhật Bản, trẻ sinh đôi
còn chịu sự nhục nhã đáng xấu hổ. Một ngày tình cờ cô gặp một cô gái lao
động xinh đẹp trong rừng tuyết tùng gần thành phố và phát hiện ra rằng cô là
người em song sinh của mình. Họ gắn kết sâu sắc với nhau vượt qua hàng rào
giai cấp xã hội - cô gái thô kệch, làm việc nặng nhọc Naeko và cô gái thanh
nhã, luôn được bảo vệ cẩn mật Chieko, nhưng sự giống nhau lạ lùng giữa họ đã
mau chóng làm phát sinh rắc rối, phiền toái. Toàn bộ câu chuyện được đặt
trong bối cảnh năm lễ hội tôn giáo ở Kyoto từ mùa xuân anh đào nở rộ đến mùa
đông lấp lánh tuyết.
Bản thân thành phố thật sự là một nhân vật quan trọng, thủ đô của vương
quốc xưa, từng là nơi đóng đô của Thiên hoàng và triều đình, sau hàng ngàn
năm vẫn là một thánh địa lãng mạn, quê hương mỹ thuật và hàng thủ công
trang nhã, ngày nay tuy bị khai thác cho du lịch nhưng vẫn là địa điểm thăm
viếng được ưa chuộng. Với các chùa chiền phật giáo và các đền thờ Thần đạo,
khu thủ công xưa và vườn thực vật, nơi này mang trong nó chất thơ mà Y.
Kawabata thể hiện bằng một phong cách dịu dàng, nhã nhặn, không ủy mị mà
tự nhiên như một sự hấp dẫn đầy xúc động. Ông đã sống trong thất bại nặng nề
của đất nước và nhận thức chắc chắn rằng tương lai đòi hỏi những gì về tinh
thần cầu tiến, nhịp điệu và sức sống công nghiệp. Nhưng trong làn sóng hậu
chiến của sự Mỹ hóa mạnh mẽ, tiểu thuyết của ông là lời nhắc nhở nhẹ nhàng
về sự cần thiết cứu lấy một cái gì đó trong vẻ đẹp và cá tính của Nhật Bản xưa
cho một nước Nhật Bản mới. Ông mô tả những lễ nghi, tôn giáo ở Kyoto một
cách tỉ mỉ như thể chọn mẫu hoa văn trên thắt lưng truyền thống trong trang
Không gian của lễ hội
5 lần (13,16%)
2. Không gian sinh hoạt
Không gian ngôi nhà
5 lần (13,16%)
Không gian thành phố Kimono
3 lần (7,89%)
Không gian vùng Bắc Sơn
5 lần (13,16%)
3. Không gian tâm lý
6 lần (15 ,79%)
Qua kết quả khảo sát cho ta thấy kiểu không gian chủ đạo trong cố đô là
không gian của tâm linh. Sau đây là các kiểu không gian xuất hiện trong tiểu
thuyết Cố đô của Y. Kavvabata:
1.2.1.
1.2.1.1.
Không gian chùa chiền, ni viện
Không gian của nghệ thuật
trên Bắc Sơn cũng khiến người ta thán phục”. Chính cảnh đẹp tuyệt vời này đã
thu hút du khách thập phương tụ họp về đây trong những ngày lễ hội và cũng là
nơi hai chị em song sinh Naeko và Chieko tình cờ tìm ra nhau sau mấy chục
năm lưu lạc.
Nhìn tổng thể, ngoài không gian thiên nhên, cây cỏ, không gian trong cố
đô được Kawabata xây dựng đồng hiện gồm có: không gian phố phường cố đô,
không gian cửa hiệu của gia đình Xada, không gian chùa chiền, không gian
làng, rừng - thông liễu ở Bắc Sơn, không gian Thất Lâu Thượng Quận. Không
gian phố cổ ở Kyoto: những ngôi chùa cổ, thành phố ngập tràn trong màu xanh
tươi trẻ của cây cối. Chieko và Xinichi đã hứng khỏi có một lượt đi dạo không
gian khu vườn cây phong lớn để ngắm cảnh thiên nhiên. Không gian phố
phường Kyoto cũng là nơi diễn ra các lễ hội mà lễ hội nào cũng nhắc Chieko
liên tưởng về quá khứ.
1.2.1.2.
Không gian của tâm linh
Chùa Heian Dgingu, nơi có hoa anh đào đang kì nở rộ, chùa này được coi
là không cổ lắm. Chieko nhận được lời mời của Xinichi Midzuki, đi xem anh
đào nở ở chùa này. Hơn nữa chùa Heian nổi danh với ngày lễ Kỷ Nguyên.
“Người ta dựng ngôi chùa này vào năm 1895 để tưởng niệm thiên hoàng
Kammu, người hơn ngàn năm trước đã hạ chiếu thiên đô về chỗ bây giờ là
Kyoto. Cổng tam quan và chùa ngoài giống y như cổng Otemmon và cung
Daigokuden ở Heian”. Không gian vườn chùa Heian “Vườn chùa ở Heian
Dgingu thành ra một trong các địa điểm ưa dùng nhất để tổ chức hôn lễ”.
Chieko thả hồn mình vào rặng anh đào rủ, tâm trang vô cùng thoải mái, “tâm
hồn nàng tràn đầy niềm rạo rực thiêng liêng”. Ngoài những cây anh đào đồ sộ,
tốt lạ thường, nơi đây còn có “bao nhiêu là thông - không to lắm nhưng dáng
nghiêm vừa thể hiện tinh thần đoàn kết. Kawabata đã kì công miêu tả những
công đoạn chuẩn bị và cách thức tiến hành nghi lễ ở các lễ hội, cách bài trí và
sắp xếp không gian trong chùa cho mỗi dịp nghi lễ. Chùa chiền và lễ hội gắn
kết các nhân vật theo một sự tác họp rất ngẫu nhiên nhưng đầy xúc cảm. Một
trong những lễ hội để lại nhiều ấn tượng đối với Chieko là lễ hội Ghion. Hiện
tại, lễ Ghion năm nay, Chieko trở nên ưu tư vì biết cha mẹ ruột không may mất
sớm. Đó là nỗi buồn đau đối với nàng. Một lễ Ghion xa xăm, khi Chieko còn
trong sáng, ngây thơ đã dần trôi sâu hơn vào quá khứ nhưng lại vẫn cứ hiển
hiện rõ như in trong kí ức Chieko. Hằng năm, các nghi thức chuẩn bị cho lễ hội
vẫn không thay đổi, nhạc công và những chiếc kiệu được trang hoàng hoa dây
kết bằng đèn lồng vẫn cứ rực rỡ như thế. Tuy những chi tiết bài trí ở chùa xưa
và nay có sự thay đổi theo thời gian lịch sử. Và chúng gợi nhắc hồi ức tươi đẹp
khi Chieko và Xinichi mới chừng bảy, tám tuổi. Là một cậu bé có nét đẹp xinh
xắn, Xinichi ngày nhỏ đã được chọn làm chú tiểu có nhiệm vụ rước lễ. Hình
ảnh cậu bé Midzuki Xinichi “mặc quần áo chú tiểu, lông mày kẻ, bôi môi son
đỏ thắm, mặt xoa phấn trắng, đi cỗ xe đẩy trong ngày lễ Ghion” cách đó hàng
chục năm không thể nào phai nhòa trong tâm trí của Chieko. Có hẳn những
nghi thức quan trọng dành riêng cho chú tiểu làm nhiệm vụ rước lễ. Vì vậy vai
trò của chú tiểu cũng trở nên thiêng liêng hơn và hình ảnh chú tiểu Xinichi bé
bỏng trở thành ấn tượng khó phai trong kí ức nhiều người. Đối với Chieko, đó
là kí ức đẹp về tuổi thơ ngây thơ, vô tư lự trong sự bảo bọc bằng tình thương
yêu của cha mẹ. Lúc đó Chieko say mê đi theo chú tiểu khắp chốn và nhớ như
in đến cả chi tiết “hai người bạn đồng lứa tóc cắt ngắn” đến chúc mừng Xinichi.
Cứ mỗi năm lễ hội Ghion diễn ra, hình ảnh của quá khứ lại đồng hiện với hiện
tại trong dòng liên tưởng của cô. Đối vói cô, hình ảnh đó thuộc về những gì
thân thương nhất. Ản tượng về Xinichi khi cậu đã trưởng thành vẫn cứ trong
trẻo và gần gũi như thế trong ý thức của Chieko. Cho dù về sau này thời gian
có trôi qua, hình ảnh cậu bé Xinichi năm nào cũng sẽ mãi tươi mới khi xuất
lễ Ghion, đều do chùa Heian Dginu tổ chức, các đám rước thì đều từ hoàng
cung. Xuyên suốt thời gian lễ hội diễn ra trong năm định mệnh ấy, liên tục
những mối liên hệ mới và những nhầm lẫn nảy sinh. Lễ hội Ghion những ngày
sau cùng không khí vẫn rộn ràng, nô nức, nhất là đêm rước lễ với những tràng
đèn lồng nhỏ trang hoàng kiệu. Chiếc cầu trên Đại lộ thứ tư là không gian
Kawabata sắp đặt để tạo ra sự nhầm lẫn cho Hideo. Hai chị em Chieko và
Naeko lần đầu tiên gặp nhau và nhận ra nhau. Cùng một thời điểm, Hideo đi
xem hội vô tình gặp Naeko. Sự việc này đồng hiện trong trí nhớ Hideo khi
chàng một lần nữa đi ngang qua cây cầu ấy. Việc nhầm lẫn dẫn dắt tới hệ quả
cuối cùng là Hideo có được cuộc hẹn cùng đi dạo với Naeko trong lễ Kỉ
Nguyên. Trong lễ Kỉ Nguyên, Naeko đã diện thắt lưng hình thông liễu do
Hideo tặng, đó là điều kiện để cô thôn nữ chốn Bắc Sơn được lộng lẫy giống
như tiểu thư chốn kinh đô. Xinichi và Riuxuke lại được sắp xếp để thấy khung
cảnh này và đến lượt họ nhầm lẫn. Những mảnh ghép được xâu chuỗi tạo nên
sự logic cho câu chuyện. Lễ hội Ghion diễn ra cũng gợi trong lòng ông
Takichirô và người bạn hoài niệm tiếc nuối về quá khứ vàng son lễ hội khi hai
ông còn nhỏ. Qua câu chuyện của hai người, ở lễ hội của thời xưa mọi chuẩn
mực vẫn còn được duy trì, sự thiêng liêng và niềm háo hức vẫn như còn nguyên
vẹn. Lễ hội và chùa chiền cũng đồng thòi lên ở trong Takichirô một thời quá
khứ của thanh niên trai tráng, những hoạt động mang tính cộng đồng. Cuộc thi
chặt trúc vói những luật lệ quy củ vốn có thời xa xưa vẫn cuốn hút ông
Takiclũro. Không gian cổ kính thiêng liêng chốn chùa chiền cùng những kí ức
đồng hiện kết nối Chieko với bố mẹ mình. Bằng niềm tin tâm linh, ông
Takichirô chọn chùa chiền làm nơi tĩnh tâm, nuôi dưỡng những ý tưởng sáng
tạo bản vẽ. Cũng trên đường thăm cha trở về, khi Chieko đặt những bước chân
xuống chùa, những hình ảnh về lần thỉnh chuông chùa Nembutsu cùng mẹ hồi
nào trở về đồng hiện. Bà Xighe đến chùa cũng là để tìm đến sự thanh tịnh. Chi
tiết câu chuyện đồng hiện được miêu tả cặn kẽ. Sự gắn kết giữa hai người phụ
nơi đây.
Hội Karyobinga, có bơi thuyền rồng trên khúc sông gần Araxiyama và
Kyokuxinoen bên dòng suối chảy qua vườn chùa Kamigamo... Những lễ hội
diễn ra được tổ chức theo những thời điểm cố định trong năm trở thành truyền
thống văn hóa Kyoto. Toàn bộ cố đô, những lễ hội diễn ra trong hệ qui chiếu so
sánh tâm cảnh và ngoại cảnh. Lễ tống hạ vào đêm trước tiết lập thu, sau đó nửa
tháng đống lửa tiễn biệt cháy. Ngày còn nhỏ, Chieko háo hức để ngắm khung
cảnh này. Nhưng hiện tại, khi đối diện với những tình huống quá bất ngờ trong
cuộc sống, nỗi lòng đang rối như tơ vò, Chieko cảm nhận nỗi buồn không dứt,
lễ tống hạ không còn là sự háo hức đối với cô nữa. Lễ Ghion vào mùa hạ của
hiện tại nhắc về một lễ Ghion xa xôi, sống động trong kí ức. Quá khứ vui tươi
đã lùi hẳn, hiện tại gieo vào lòng người những ưu tư không dễ nguôi ngoai, cố
đô luôn có kết thúc mở, rộng lối cho một khoảng mênh mông vô định của xúc
cảm tràn về. Nội tâm nhân vật như một tập phim, trong đó những mảnh ghép
trắng đen là hình ảnh của quá khứ luôn ào ạt song song vói những thước phim
đầy màu sắc của hiện tại. Lấy khung hình này chồng lên khung hình kia, ta phát
hiện có nhiều sự trùng lặp một cách hữu ý. Chính tiêu thức về cái đẹp đã khiến
cho khoảnh khắc cái đẹp của quá khứ trở thành vĩnh hằng và để lại dư âm vang
vọng nhiều hồi trong hiện tại. Ta nhận diện nhân vật thiếu nữ qua nội tâm là
những hình ảnh trong sáng, ấm áp tình cảm, khơi gọi sự hứng khởi đối vói
những cái đẹp trong cuộc sống khi nó trở về đồng hiện trong ý thức của nhân
vật. Dòng ý thức của các lữ khách là một tập hợp các hình ảnh về cái đẹp của
thiên nhiên bốn mùa của Nhật Bản.
1.2.2. Không gian sinh hoạt
1.2.2.1.
Không gian ngôi nhà
đồng hiện khung cảnh buôn bán ở cửa hàng nhà ông. Việc mua bán ở cửa hàng
và những ngưòi khách ra vào ngang qua phòng làm việc của ông gây phiền
nhiễu cho ông không ít. Ông phải kìm nén những bực dọc và nó trở thành độc
tố trong tâm hồn ông, hiện hình một cách rõ nét qua bản phác thảo kimono mà
ông đưa Hideo xem mẫu. Bức vẽ này thể hiện sự sáng tạo tuyệt vời của ông
Takichiro, chiếc thắt lưng cùng mẫu vẽ đó được Hideo dệt như một cặp bằng cả
tài năng và tâm hồn. Một thành phẩm hoàn hảo được tạo ra từ sự lao động nghệ
thuật của hai lữ khách độc lập nhau đã tạo thành nhịp cầu để những tâm hồn cô
độc được giải phóng. Và dòng ý thức dẫn ông đến vói tấm rèm vải hoa được
Chieko chu đáo treo để ngăn cách âm thanh bên ngoài với phòng làm việc của
ông.
Cửa hiệu của gia đình Xada cách đó hàng chục năm nơi cô bé Chieko bị
bỏ rơi được dấu kín trong hồi ức của ông Takichiro và bà Xighe. Đó là không
gian nơi cái đẹp được sinh ra. Nếu không có mảng kí ức của bà Xighe, người
đọc sẽ phân vân giữa hai giả thuyết: Chieko bị bỏ rơi hay Chieko thực sự bị
đánh cắp. Bối cảnh đồng hiện này tồn tại trong kí ức bà Xighe như một ngăn tủ
không có chìa khóa để mở.
Không gian buồng ngủ của Chieko tuy không xuất hiện trong dòng ý thức
của nhân vật nào nhưng khung cảnh cố định này là khung nền diễn ra hai sự
việc ấm áp đối với Chieko. Nơi đây khi thấy Chieko có cảm xúc khác lạ trong
khi lễ Ghion đang diễn ra, bà Xighe đã ngủ chung giường vói con gái. Cũng
chính nơi đây, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng hai chị em gái đã ngủ
chung với nhau. Đây là không gian trong sự sắp đặt có ngụ ý của Y. Kawabata
để tạo sự đồng hiện trong ý thức của người đọc.
ỉ.2.2.2. Không gian thành phổ “Kimono ”
“Kyoto là một thành phố lớn với những cây cối đẹp đến sững sờ”. Đây là
một thành phố lớn, đẹp nhất Nhật Bản. vẻ đẹp tuyệt mĩ của “ khu vườn bao
quanh biệt thự hoàng gia cạnh chùa Xingakuin, cánh rừng thông bên hoàng
gặp gỡ vô tình đó đã khiến Hideo cũng rối bời tâm tư.
Không gian Thất Lâu Thượng Quận cũng không thay đổi ở cả hai lần ông
Takichiro ghé đến. Chỉ có sự thay đổi thời gian và con người. Lần thứ nhất, sau
khi gặp cô bé xinh đẹp trên chuyến xe điện, Takichiro đến phòng trà và trò
chuyện với một kĩ nữ trẻ, cô này kể ông nghe chuyện cắn lưỡi khách chảy máu.
Lần thứ hai, ông gặp cô kĩ nữ này và cô bé trên chuyến xe điện với một diện
mạo khác, lớn hơn, xinh đẹp hơn. Ông đã bị cái đẹp trẻ trung của cô thiếu nữ
cuốn hút. Ông Takiclũro lui tới không gian này để tìm cái đẹp khi đã vào độ
tuổi xế chiều.