luận văn thạc sĩ Ngôn từ và giọng điệu nghệ thuật truyện ngắn nguyễn tuân trước cách mạng tháng tám 1945 - Pdf 41

Header Page 1 of 166.

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÁI NGUYÊN

VÕ VÂN HÀ

NGÔN TỪ VÀ GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN TUÂN TRƢỚC
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp

THÁI NGUYÊN, NĂM 2009

Footer Page 1 of 166.


Header Page 2 of 166.

Lời cảm ơn
Xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn
Đăng Điệp, Phó viện trưởng Viện Văn học Việt Nam, người Thày đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo, định hướng cho tôi từ những bước đi đầu tiên trên con
đường khoa học nghệ thuật, trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thành bản luận văn thạc sĩ này.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu ...................................................................... 7
5. Cấu trúc luận văn.................................................................................. 7
PHẦN NỘI DUNG ....................................................................................... 8
CHƢƠNG 1: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT, NHÃN QUAN NGÔN
NGỮ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN TUÂN ............................... 8
1.1. Cái nhìn độc đáo về con ngƣời ....................................................... 8
1.2. Quan niệm về nhà văn và nghề văn ............................................. 19
1.3. Nhãn quan ngôn ngữ .................................................................... 29
CHƢƠNG 2: NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT .......................................... 36
2.1. Vài nét về ngôn ngữ nghệ thuật ................................................... 36
2.2. Ngôn ngữ ngƣời kể chuyện ........................................................... 36
2.2.1. Ngôn ngữ người kể chuyện biết trước .................................... 37
2.2.2 Ngôn ngữ người kể chuyện hóa thân vào nhân vật ................. 40
2.3. Ngôn ngữ nhân vật ........................................................................ 41
2.3.1 Ngôn ngữ đối thoại ................................................................... 42
2.3.2. Ngôn ngữ độc thoại ................................................................ 50
2.4. Ngôn ngữ giàu màu sắc văn hóa ................................................... 51
CHƢƠNG 3 : GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT ..................................... 59
3.1. Khái niệm giọng điệu .................................................................... 59
3.2. Các giọng điệu chính..................................................................... 59
3.2.1. Giọng điệu khinh bạc .............................................................. 60
3.2.2. Giọng điệu hoài tiếc ................................................................. 77
3.2.3 Giọng điệu triết lý ..................................................................... 81
KẾT LUẬN ................................................................................................. 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 91
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 3 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn

nghệ sĩ ngôn từ đã đưa cái đẹp thăng hoa đến một độ cao hiếm thấy trong văn
học Việt Nam’’ [48, 230]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 4 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 5 of 166.

2

Có những người viết hàng chục quyển sách nhưng vẫn chẳng ai biết tên,
nhớ mặt. Có những người chỉ viết vài bài thơ, vài truyện mà khắc được bóng
dáng mình vào vĩnh cửu. Nguyễn Tuân là nhà văn được trời phú cho rất nhiều
khả năng trong việc bộc lộ giọng điệu. Trong cuốn Nhà văn hiện đại, nhà phê
bình văn học Vũ Ngọc Phan đã nhận xét: “Văn chương Nguyễn Tuân đã làm
cho văn giới Việt Nam phải chú ý đến lối hành văn đặc biệt của ông và những
ý kiến cùng tư tuởng phô diễn bằng những giọng tài hoa, sâu cay, khinh bạc,
lúc thì đầy nghệ thuật, lúc thì bừa bãi lôi thôi, như một bức phác họa, nhưng
bao giờ nó cũng cho người ta thấy một trạng thái của tâm hồn”.[51, 426,
427]
Tất nhiên khi nhắc đến Nguyễn Tuân, người ta nhớ đến ông với tư cách
ông vua trong thể tùy bút. Với tài năng nghệ thuật của mình, ông đã đưa tùy
bút thành một thể văn sang trọng, lịch lãm. Bên cạnh đó, truyện ngắn của
Nguyễn Tuân cũng không kém phần đặc sắc. Trong luận văn này, chúng tôi
mạnh dạn trình bày kết quả nghiên cứu ngôn từ và giọng điệu nghệ thuật của
nhà văn trong truyện ngắn của Nguyễn Tuân trước năm 1945 để hiểu hơn sự
đa dạng của ngòi bút độc đáo này.

Tuân đã thực sự chuyển mình về nhận thức và tư tuởng. Ông chân thành đem
ngòi bút của mình phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc, nhưng Nguyễn Tuân
luôn luôn có ý thức phục vụ xã hội trên cương vị một nhà văn, đồng thời vẫn
phát huy cá tính và phong cách độc đáo của mình. Ông đóng góp cho nền văn
học mới nhiều trang viết sắc sảo và đầy tính nghệ thuật ca ngợi quê hương đất
nước, ca ngợi nhân dân lao động trong chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Sáng tác của
ông thể hiện rõ sự chuyển mình trong nhận thức và tư tưởng của chính nhà
văn. Một loạt tùy bút đã ra đời: Đường vui, Tình chiến dịch, Tùy bút Sông Đà,
Tùy bút kháng chiến, Ngày cách mạng đầy tuổi tôi…
Nghiên cứu về nghệ thuật, giai đoạn này đáng chú ý là bài viết của
Trương Chính, Nguyễn Đăng Mạnh, Phong Lê, Phan Cự Đệ… Tuy nhiên,
phần lớn các bài viết này đều tập trung đánh giá tài năng nghệ thuật của
Nguyễn Tuân ở thể tùy bút, còn chưa quan tâm thật sâu đối với thể loại truyện
ngắn. Các tác phẩm của Nguyễn Tuân giai đoạn này chưa được đánh giá cao
vì đọc chúng người ta vẫn nhận thấy bóng dáng của những con người cũ. Bên
cạnh đó, phê bình văn học lúc bấy giờ quan tâm chủ yếu đến nội dung xã hội

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 6 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 7 of 166.

4

học, không chú trọng mặt nghệ thuật ngôn từ. Gió Lào ra đời 1947 đã nhận
được nhiều ý kiến khen chê khác nhau. Trương Chính đã phê phán Nguyễn



Header Page 8 of 166.

5

N.I. Niculin - Tiến sĩ Viện văn học thế giới Nga đã gọi Nguyễn Tuân là
''nghệ sĩ ngôn từ''. Văn Nguyễn Tuân không chỉ thu hút sự quan tâm của
những nhà văn trong nước mà còn làm say lòng nhiều nhà nghiên cứu văn học
nước ngoài, đặc biệt là những nhà văn Liên Xô như: M.I Linxki, Mrian
Tkachop. Qua đó cho thấy vị trí của Nguyễn Tuân trong lòng bạn bè năm
châu trên thế giới.
Trong điếu văn đọc trước tang lễ của Nguyễn Tuân, nhà văn Nguyễn
Đình Thi khẳng định: ''Cùng với những bạn cùng thời như Ngô Tất Tố,
Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng… Nguyễn Tuân đã đặt viên đá riêng
vào cái nền còn mới mẻ của văn xuôi tiếng Việt ta và viên đá của Nguyễn
Tuân là một hòn đá tảng… sẽ chắc bền trong thời gian''.
Hơn 50 năm cầm bút, trải qua những giai đoạn lịch sử quan trọng của
nước nhà, từ chiến tranh khói lửa đến khi lập lại hòa bình và những năm đầu
đổi mới xây dựng đất nước, Nguyễn Tuân đã nhận được sự quan tâm của
đông đảo bạn đọc, nhà phê bình. Tuy có nhiều ý kiến khen, chê khác nhau
nhưng tất cả mọi ý kiến thống nhất khẳng định tài năng nghệ thuật của
Nguyễn Tuân.
2.2. Nghiên cứu về ngôn từ nghệ thuật Nguyễn Tuân
Văn học là nghệ thuật của ngôn từ. Ngôn từ ở đây không phải là phương
tiện giao tiếp tự nhiên hằng ngày của đời sống mà là thứ ngôn ngữ được lựa
chọn, sáng tạo theo chủ quan của người nghệ sĩ để phục tùng các nhiệm vụ
nghệ thuật tác phẩm. Một tác phẩm văn học có trở thành kiệt tác, ghi đậm dấu
ấn trong lòng độc giả hay không, có trở thành món ăn tinh thần của dân tộc hay
không, không chỉ tùy thuộc vào nội dung tu tuởng mà còn phụ thuộc vào chất

3. Đối tuợng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tuợng nghiên cứu
Chúng tôi đặt vấn đề tìm hiểu đặc điểm ngôn từ và giọng điệu nghệ
thuật của Nguyễn Tuân trong toàn bộ truyện ngắn của ông trước Cách mạng
tháng Tám năm 1945. Về tư liệu chúng tôi dựa vào quyển Nguyễn Tuân truyện ngắn do Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2006.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 9 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 10 of 166.

7

3.2. Phạm vi nghiên cứu
Để hiểu hơn tài năng của Nguyễn Tuân, một mặt chúng tôi cố gắng bao
quát toàn bộ sáng tác của Nguyễn Tuân kể cả phê bình và tiểu luận văn học
của ông; mặt khác, chúng tôi sẽ tiến hành so sánh truyện ngắn của Nguyễn
Tuân với một số tác giả khác để làm nổi rõ hơn tài năng nghệ thuật của
Nguyễn Tuân.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu, trong luận văn này chúng tôi sử
dụng một số phương pháp chính như sau:
4.1. Phương pháp cấu trúc – hệ thống
4.2. Phương pháp so sánh
4.3. Phương pháp phân tích tác phẩm.
4.4. Vận dụng thi pháp học.

hình thức nghệ thuật của tác phẩm, chi phối phong cách tác giả. Cái nhìn từ
phạm vi tri giác tuy có cội nguồn cảm giác nhưng là một cái nhìn có tính tự túc
một lãnh hội ý tưởng”. Ngôn ngữ thì chung nhưng cái nhìn của mỗi nhà văn lại
có sự khác nhau, sự khác nhau đó được thể hiện qua cách sử dụng ngôn từ của
nhà văn ấy. Cuộc sống vốn tồn tại muôn màu, muôn vẻ. Con người cũng có vô
vàn trạng thái tâm lý, cảm xúc khác nhau. Có những trạng thái tình cảm của
con người mà ngôn ngữ thông thường không sao biểu đạt được một cách chính
xác, đầy đủ. Người nghệ sĩ tài hoa phải là người viết được tình cảm ấy lên trang
giấy bằng thứ ngôn ngữ riêng của mình. Cái nhìn nghệ thuật chính là nền tảng
vững chắc để người nghệ sĩ tạo dựng cho mình một hệ thống ngôn từ riêng, qua
sự lựa chọn, chắt lọc ngôn ngữ chung. Trước sự vật, hiện tượng, mỗi nhà văn
có suy nghĩ, sự cảm thụ, liên tưởng, tưởng tượng khác nhau, điều đó đã quy
định cái nhìn nghệ thuật cũng có sự khác nhau.
Cùng viết về những nỗi thống khổ của con người trong xã hội thực dân
nửa phong kiến trước cách mạng, nhưng mỗi nhà văn lại có cái nhìn nghệ
thuật khác nhau nên con người trong tác phẩm của mỗi nhà văn ấy lại hiện lên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 11 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 12 of 166.

9

ở những góc độ, khía cạnh, mang theo số phận khác nhau. Vũ Trọng Phụng
đã nhìn cuộc đời qua lăng kính hiện thực, ông quan niệm “Đời là chó đểu, là
khốn nạn”. Bằng nghệ thuật trào phúng độc đáo, sử dụng những chi tiết cường


Header Page 13 of 166.

10

Chí đến sâu thẳm của đáy vực. Chí đã vác dao đến nhà Bá Kiến để đòi lại sự
lương thiện, nhưng ai có thể trả lại sự lương thiện cho Chí. Nguyễn Công
Hoan nhìn thấy sự phá hoại nhân cách ở tầng lớp quan lại, giàu có, quyền thế,
sử dụng địa vị của mình để chà đạp lên những người dân thấp cổ bé họng.
Nói đến Nguyễn Tuân, người ta nghĩ ngay đến một cây bút nổi bật của
xu huớng văn học lãng mạn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám. Đó là một
nhà văn của quan điểm duy mỹ, nghiêng nhiều về phía vị nghệ thuật. Đối với
Nguyễn Tuân, văn chương và nghệ thuật đứng trên mọi thứ thiện ác ở đời.
Suốt cuộc đời cầm bút của mình, Nguyễn Tuân luôn khao khát vươn tới cái
đẹp, tôn thờ cái đẹp.
Tùy theo thái độ phản ứng lại đối với thực tại đời sống và cách tìm lối
thoát của các nghệ sĩ, chủ nghĩa lãng mạn được chia thành những khuynh
huớng khác nhau: khuynh hướng tiêu cực với thái độ bi quan về thực tại, tình
cảm chán chường và hoài niệm về quá khứ; khuynh hướng thứ hai là khuynh
hướng tích cực, tràn trề niềm tin vào cuộc sống thực tại, tương lai, lạc quan về
nhân thế và khả năng sáng tạo đời sống.[42, 87] Nguyễn Tuân và Thạch Lam
cùng chủ nghĩa lãng mạn theo khuynh hướng thứ nhất. Điểm chung của hai nhà
văn này là yêu vẻ đẹp cổ xưa, cùng hướng ngòi bút về cội nguồn văn hóa
truyền thống của dân tộc. Đều là nhà văn thuộc trường phái lãng mạn chủ
nghĩa, nhưng giữa hai cây bút Thạch Lam và Nguyễn Tuân lại có cái nhìn khác
nhau. Đương thời Thạch Lam là người không ưa sự hào nhoáng, bóng bẩy mà
yêu thích sự bình dị, kín đáo. Điều này đã ăn sâu vào tâm hồn nhà văn, nên
chúng ta dễ dàng nhận thấy nhân vật của Thạch Lam là nhân vật của cuộc sống,
đa phần thuộc tầng lớp dưới đáy xã hội (Nhà mẹ Lê, Hai đứa trẻ), những người
phụ nữ mang số phận bất hạnh (Cô hàng xén, Tối ba mươi, Hai lần chết), có

hình thức, đẹp tâm hồn. Ông có cái nhìn lý tuởng hóa về con người nên những
nhân vật của Nguyễn Tuân đều là những người tài hoa, tài tử, phi thường,
những bậc chính nhân quân tử, mang trong mình các giá trị văn hóa, đậm đà
bản sắc dân tộc. Những con người ấy không chấp nhận thực tại đen tối của xã
hội, có sự phản ứng quyết liệt chống lại hoàn cảnh bằng những hành động phá
phách, ngang tàng, khác đời, khác người. Nguyễn Tuân tạo ra những con người
có cuộc sống riêng, chống lại khủng hoảng, dằn vặt, thất vọng. Xây dựng
những nhân vật ấy, Nguyễn Tuân đã tỏ lòng mình cho thiên hạ thấy, không
phải ông chạy trốn thực tại mà thể hiện lòng tự hào dân tộc, ý thức giữ gìn
những nét độc đáo của văn hóa Việt, lưu giữ giá trị thẩm mỹ dân tộc cho con
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 14 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 15 of 166.

12

cháu đời sau. Thời gian có thể qua đi, nhưng những vẻ đẹp cổ xưa vẫn còn
mãi mãi trong tác phẩm của ông.
Với cái nhìn lý tưởng về con người và là “Ngòi bút huớng nội nhất trong
các cây bút văn xuôi lãng mạn Việt Nam” ( ý kiến của Văn Tâm trong bài Về
truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân)[48, 291] nên những nhân vật
của ông không thể là những con người bình thuờng mà phải chí khí hơn người.
Điển hình là nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù. Huấn Cao
''văn võ đều có tài cả'', đức tài gồm đủ trí dũng song toàn. Ông bị bắt vào ngục
cũng chỉ vì muốn chống lại sự vô lý của cường quyền để rồi sa cơ lỡ vận trở

trước con người tài hoa ấy, viên quản ngục đã biệt đãi Huấn Cao, sự đối đãi
đặc biệt mà chưa một kẻ tử tù nào có được.
''Suốt nửa tháng, ở trong buồng tối, ông Huấn Cao vẫn thấy một người
thơ lại gầy gò, đem ruợu đến cho mình uống trước giờ ăn bữa cơm tù. Mỗi lúc
dâng ruợu, với thức nhắm, người thơ lại lễ phép nói: Thầy quản chúng tôi có
ít quà mọn này biếu ngài dùng cho ấm bụng. Trong buồng đây, lạnh lắm‟‟.
Nhưng ông Huấn nhận nó một cách thản nhiên, coi như đó là một việc
vẫn làm trong cái hứng bình sinh lúc chưa bị giam cầm. Và thẳng thắn, hiên
ngang có phần cay nghiệt khi trả lại sự đối đãi của ngục quan: ''Ngươi hỏi ta
muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng có đặt chân vào đây''.
[58, 134]
Khi nhận thấy tấm lòng biệt nhỡn liên tài của viên quản ngục, kẻ biết
trọng người tài hẳn không phải kẻ xấu. Ông Huấn đã quyết định cho chữ viên
quản ngục. Và khuyên viên quản ngục: “Ở đây lẫn lộn, ta khuyên thầy Quản
nên thay chỗ ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng trẻo với
những nét chữ vuông vắn, tươi tắn, nó nói lên những hoài bão tung hoành của
đời con người… Tôi bảo thực đấy: thầy Quản nên tìm về quê mà ở đã, ở đây
khó giữ thiên lương cho lành vững, và rồi cũng đến nhem nhuốc cái đời lương
thiện đi”. Những câu nói chân tình ấy cũng chính là tấm lòng của nhà văn.
Bằng bút pháp lãng mạn, Nguyễn Tuân đã tạo nên hình tuợng người anh hùng
Huấn Cao có một không hai. Nhân vật Huấn Cao được xây dựng từ nguyên
mẫu có thực ở ngoài đời là Cao Bá Quát, dạy học đất Tây Sơn từ trăm năm
trước, duới xã hội xứ Đoài thời ông Huấn - triều đại Thiệu Trị, Tự Đức cũng
chính là xã hội Việt Nam thời Nguyễn Tuân đang sống. Qua đó, nhà văn thể
hiện tình yêu nước sâu sắc đến khắc khoải của mình. Người nghệ sĩ chân chính

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 16 of 166.


của “một người nàng hầu tài hoa nổi tiếng một thời”.
Nhân vật Bố Ô trong Rượu bệnh được xây dựng rất gần gũi với người
hành khất cao sang, am hiểu nghệ thuật uống trà trong Những chiếc ấm đất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 17 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 18 of 166.

15

Bố Ô được mệnh danh là một “Kì nhân không biết đói chỉ thấy khát ruợu”.
Nhưng con người ấy lại có cái tài riêng của mình trong nghệ thuật nếm ruợu
độc nhất vô nhị: "Mỗi buổi sớm lúc trời đất còn lờ mờ, ông cụ đã ngồi sẵn ở
các cửa ô Hà Nội, đồ vật đem theo chỉ vẻn vẹn một cái ghế gỗ và một cái
chén gỗ to gần bằng cái lồng gỗ mít đóng oản của nhà chùa. Ông ngồi đấy để
đợi các cô gái vùng Bồ Đề qua đò ngang ghé vào lối Ô Quan Chưởng, để
thưởng thức rượu mà không mất tiền''. Cách uống rượu của Bố Ô quả thực là
độc đáo đến hiếm thấy, quá đỗi kì lạ. Lão nhắm ruợu với một cái đinh. “Cái
đinh đóng thuyền chấm vào chén ruợu mút đánh chụt một cái rất gọn”. Rồi
các cô gái bán ruợu cũng phát hiện ra cái trò nếm rượu chằng của ông già tinh
quái kia, luôn nếm thử nhưng không bao giờ mua cả thì họ lại tự nguyện “mỗi
buổi mai cấp cho ông già đầy một chén ruợu gỗ” và họ coi việc đó như để mở
hàng, lấy may cho một ngày buôn bán. Bố Ô ''uống ruợu ngon tệ, cứ ngọt xớt
đi thôi''.[58, 270] Đây là hình tượng độc đáo trong thế giới nhân vật của
Nguyễn Tuân, cách uống rượu Bố Ô cũng rất nghệ thuật, nó như một thú
thưởng thức cao sang mà không phải ai cũng thưởng thức được. Bố Ô hư hư

được huyền sử bao quanh con dao thép hai lưỡi sáng ngời và huyền sử chạy
chung quanh cái hộp đựng thuốc lào trạm trổ tỉ mỉ cái mặt hổ phù của Cai
Xanh, cái tài ném bút chì của Phó Kình: “Bỗng sau một tiếng phập, thân trên
cây chuối đã gục xuống mặt đất, kêu đánh roẹt”[58, 145] hay tiếng lưỡi mai ở
tay Lý Văn phóng ra kêu đánh vụt, một tiếng gà kêu oác.
Nguyễn Tuân là người yêu cái đẹp, nhạy cảm với cái đẹp, ông nhìn sự
vật hiện tượng nghiêng về góc độ thẩm mỹ. Bởi là người tài hoa nên Nguyễn
Tuân yêu quý những con người tài hoa. Nhà văn đã dành trọn tâm huyết của
mình để xây dựng nên những cụ Nghè, cụ Thượng, cụ Ấm. Qua ngòi bút của
Nguyễn Tuân, họ hiện lên là những người sống thanh cao, biết yêu và thuởng
thức cái đẹp, nâng niu giá trị văn hóa dân tộc chứ không phải là lớp quan hám
danh lợi, phú quý.
Cụ Ấm trong Chén trà sương là một nhân vật điển hình cho lớp người
này, cụ thích uống trà trong sương sớm và pha với thứ nước đọng trên lá sen.
''Chưa bao giờ ông già này dám cẩu thả trong cái thú chơi thanh đạm. Pha cho
mình cũng như pha trà mời khách, cụ Ấm đã để vào đấy nhiều công phu.
Những công phu đó đã trở nên lễ nghi. Trong ấm trà pha ngon, người ta nhận
thấy có một mùi thơ và một vị triết lý''.[58, 149] Cụ Ấm nói về nghệ thuật

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 19 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 20 of 166.

17



http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 21 of 166.

18

một chén trà ngon. Nhân vật người khách kì lạ xuất hiện trong câu chuyện về
những chiếc ấm cũng thực hiểu biết về nghệ thuật thưởng trà, với kẻ hành
khất sang trọng này uống trà đã trở thành một nghệ thuật tinh túy.
Lãng tử giang hồ mang phong cách sống nghệ sĩ, nay đây mai đó mang
cái tài hoa của mình đi làm niềm vui cho cuộc đời cũng là loại nhân vật được
Nguyễn Tuân yêu quý. Nhà văn dành tình cảm đặc biệt cho ông bà Phó Sứ
trong Đánh thơ, họ là một đôi lứa tài tử. Cái nghề thả thơ của họ buộc họ phải
xê dịch luôn luôn và mãi mãi. Suốt một dải Trung Kỳ họ đi đi về về như là
trẩy hội. Một tuần trăng cặp đôi này lại ở một tỉnh. Đi đến đâu họ cũng một
cái túi đựng toàn thơ ra đố cho mọi người đặt tiền trên chiếu bạc văn chương.
Cái nghề của cặp đôi Phó Sứ - Mộng Liên nhờ vả cổ thi kiếm được nhiều tiền
nhưng họ yêu nghề và cái nghề ấy không thể ở yên một chỗ được. “Quê
hương của họ là cờ bạc và đờn hát. Nhà của đôi lãng du ấy gửi vào trong cái
truy hoan của thiên hạ. Cái lãi trong đời bấp bênh của họ là ở chỗ nhiều người
nhắc nhỏm tới cái tên Mộng Liên và Phó Sứ mỗi khi lứa đôi chậm tới hay là
đã lâu rồi mà chưa thấy trở lại. Người đánh thơ được, người đánh thơ thua
liểng xiểng, ai ai cũng đều nhớ đến họ khi xa vắng‟‟ [58, 100, 101]. Họ
nguyện đem cuộc đời mình ra phục vụ cho thơ ca. Cuối cùng, người chồng tài
tử này đã chết ở chân đèo Ngang, còn lại Mộng Liên giờ là người góa và đang
lúng túng tìm người giữ cho cây đàn. Cái chết của ông Phó Sứ là dấu chấm
hết cho cuộc sống phiêu bạt của cặp đôi này.
Nguyễn Tuân yêu nhân vật của mình, họ là hiện thân của tấm lòng ông,

vẫn không nguôi. Những nhân vật đó hay chính là hiện thân của Nguyễn
Tuân, con người giằng co giữa hai bến bờ truyền thống và hiện đại, trốn chạy
thực tại hay trách nhiệm với xã hội, gia đình.
Sau cách mạng tháng tám, Nguyễn Tuân đã thay đổi cách nhìn về con
người. Chính cách mạng đã đưa nhà văn lãng mạn Nguyễn Tuân đến một thế
giới mới. Nguyễn Tuân đã thấy cái đẹp ở khắp nơi trong cuộc sống. Nhân vật
của ông giờ là những con người dám thành thực với cuộc đời, yêu và ghét rõ
ràng. Thể hiện cái tôi cá nhân riêng biệt, ngạo nghễ, thích sự khác đời, khác
người nhưng khác đời, khác người mà lại hơn người ở sự tài hoa, thẳng thắn.
1.2. Quan niệm về nhà văn và nghề văn
Quan niệm nghệ thuật là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời
sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật. Nó gắn với phạm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 22 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 23 of 166.

20

trù các phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của
hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật. Quan niệm nghệ thuật
của văn học có liên quan mật thiết với quan niệm về thế giới và con người về
mặt triết học, khoa học, tôn giáo, đạo đức, chính trị vốn có của thời đại mình.
[42, 275]
Câu mở đầu trong lời giới thiệu - Nguyễn Tuân toàn tập (Nhà xuất bản

21

kẻ ăn tạm, ở nhờ, họ là những người sinh ra dường như chỉ để ngắm cảnh,
thưởng ngoạn chứ không chịu gánh lấy một trách nhiệm xã hội nào. Quan
niệm này của Nguyễn Tuân thể hiện rõ nhất ở những tác phẩm trước Cách
mạng tháng tám, đôi khi vẫn rơi rớt ở một vài tác phẩm sau này, khi nhà văn
đã đi theo con đường cách mạng.
Có thể thấy, chủ nghĩa hình thức chiếm ưu thế trong ý thức nghệ thuật
của ông, điều này đúng với những tác phẩm Nguyễn Tuân trước cách mạng
tháng Tám. Nhưng không phải bao giờ cũng độc quyền chi phối ngòi bút ấy.
Nhiều bài viết của ông bộc lộ thái độ yêu ghét rõ ràng, khinh trọng rõ rệt. Mà
không phải chỉ xuất phát từ tiêu chuẩn hình thức.
Trong truyện ngắn Chữ người tử tù, những trang viết về Huấn Cao quả
thực là đẹp nhưng đâu phải là đẹp thuần túy, không khuynh huớng. Ở Huấn
Cao là một con người toàn vẹn, lấy nguyên mẫu từ hình tượng của Cao Bá
Quát, một lãnh tụ nông dân chống lại triều Nguyễn. Huấn Cao, hiện thân của
Cao Bá Quát với văn chương vô tiền hán, còn nhân cách một đời chỉ cúi lạy
trước hoa mai. Nhân vật Huấn Cao là con người đại diện cho cái đẹp: đẹp từ
cái tài viết chữ của một người nghệ sỹ, cái cốt cách ngạo nghễ phi thường của
một bậc trượng phu đến tấm lòng trong sáng của kẻ biết quý trọng cái tài, cái
đẹp. Huấn Cao với tư cách là một nho sĩ viết chữ đẹp thể hiện ở cái tài viết
chữ có một không hai. Chữ ở đây không phải chỉ là ký hiệu ngôn ngữ mà còn
thể hiện tính cách con người. Chữ của ông Huấn vuông lắm cho thấy ông có
khí phách hiên ngang. Ý chí kiên cường và khát vọng, hoài bão tung hoành
bốn bể. Có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời. Nhân cách
của Huấn Cao quả là trong sáng như pha lê không hề có chút trầy xuớc nào.
Khi biết được tấm lòng biệt nhỡn liên tài của viên quản ngục, Huấn Cao
không những vui vẻ nhận lời cho chữ mà còn thốt lên: ''Ta cảm tấm lòng biệt
nhỡn liên tài của các ngươi. Ta đâu biết một người như thầy quản đây mà lại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

khuất tỏa sáng giữa đêm tối của một xã hội ngục tù.
Hay trong Bữa ruợu máu cũng thế. Quan điểm chủ nghĩa hình thức có,
nhưng không phải là chủ đạo. Truyện nói về cái tài của tên đao phủ Bát Lê,
chém đầu những người bị án trảm một cách gọn ghẽ không đến hai nhát. ''Bát
Lê múa luợn giữa hai hàng tử tù và múa hát đến đâu thì những đầu tội nhân bị
quỳ kia chẻ gục đến đấy. Những tia máu phun lên kêu phì phì, vọt cao lên trên
nền trời chiều. Mà trên ảnh có hoen ố, không một chiếc thủ cấp nào rụng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 25 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status