ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM ĐỨC CƯỜNG
LÝ TƯỞNG VÀ HIỆN THỰC
TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH
TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Chuyên ngành: Lý luận Văn học
Mã số: 60 22 32
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRẦN KHÁNH THÀNH
HÀ NỘI - 2010
của Thơ mới……………………………………………………………….
15
1.2.3. Nguyễn Bính – một nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới lãng
mạn 1932 – 1945…………………………………………………………
17
Chƣơng 2: Nhà thơ chân quê và khát vọng giang hồ…………………
20
2.1. Nhà thơ chân quê……………………………………………………
20
2.1.1. Nhà thơ của cảnh quê ……………………………………………
20
2.1.2. Nhà thơ của tình quê………………………………………………
26
2.2. Khát vọng giang hồ…………………………………………………
33
2.3. Thời gian, không gian nghệ thuật với nhiều tương phản……………
40
2.3.1. Thời gian nghệ thuật ………………………………………………
40
2.3.2. Không gian nghệ thuật… …………………………………………
47
2
Chƣơng 3: Khát vọng tình yêu và cảnh ngộ lỡ bƣớc…………………
57
3.1. Khát vọng tình yêu……………………………………………………
57
3.2. Cảnh ngộ lỡ bước…………………………………………………….
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Có thể khẳng định rằng, Nguyễn Bính là một tên tuổi không thể
phai mờ trong lịch sử văn học dân tộc Việt Nam. Người ta vẫn sẽ nhắc nhớ
đến ông với những “định danh” đã trở nên quen thuộc: thi sĩ của thương yêu,
thi sĩ của đồng quê, nhà thơ chân quê,…Khẳng định được giá trị và “chỗ
đứng” của mình trên hành trình dài của một nền văn học và trong lòng bạn
yêu thơ như vậy, là điều không dễ dàng và không phải ai cũng làm được.
Xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX đã chứng kiến những biến
thiên lớn lao của lịch sử. Sự sụp đổ “được báo trước” của chế độ phong kiến,
sự định hình một cách chắc chắn của chế độ thực dân, và kéo theo đó là việc
hình thành và thiết lập những mối quan hệ xã hội mới không thể không tác
động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của mọi lớp người trong xã hội. Với
tầng lớp tiểu tư sản trí thức, sự “nhạy bén” vốn có trong họ đã biến thành
niềm thất vọng lớn lao trước thực tại xã hội không như họ mong muốn.
Cũng trên nền tảng xã hội ấy, phong trào Thơ mới (1932 - 1945) xuất
hiện trên thi đàn như “một cơn gió mạnh từ xa thổi đến”. Nó khiến cho “Cả
một nền tảng xưa một phen bị điên đảo, lung lay. Sự gặp gỡ phương Tây là
một cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ”
[41;15]. Và các nhà thơ mới, nhìn chung vẫn ấp ủ tinh thần dân tộc nhưng
không khỏi mang tâm trạng tiêu cực, thoát ly những vấn đề bức xúc của cuộc
đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc đương thời.
1.2. Sinh ra, lớn lên và trưởng thành trong cuộc biến thiên ấy, Nguyễn
Bính cùng với các nhà thơ đương thời đều cố gắng tìm những hướng đi để
khẳng định cái tôi cho riêng mình. Thì đây, trong bộn bề của cơn trở dạ lịch
sử ấy, “người nhà quê của Nguyễn Bính vẫn ngang nhiên sống như thường”
quan tâm, yêu thích, đồng thời là đề tài nghiên cứu khoa học của nhiều sinh
viên. Vì lẽ đó, đối với công việc của một giảng viên, việc nghiên cứu về
Nguyễn Bính càng trở thành một vấn đề cần thiết.
Xuất phát từ niềm yêu mến, cảm phục và trân trọng những gì thuộc về
con người, đời thơ Nguyễn Bính, và cũng mong muốn làm sáng tỏ hơn những
va chạm, mâu thuẫn, giằng xé trong cuộc đời Nguyễn Bính được biểu hiện
trong thơ, để yêu hơn, hiểu hơn con người ông trong sự biến thiên của thời
đại, người viết mạnh dạn chọn đề tài “Lý tưởng và hiện thực trong thơ
Nguyễn Bính trước Cách mạng Tháng Tám”.
2. Lịch sử vấn đề
Nhà nghiên cứu văn học Vương Trí Nhàn đã viết: "Chỉ trong phạm vi
thế kỷ này, giữa không biết bao nhiêu thi sĩ mà nông thôn nước ta đã cung
cấp cho văn học, trước sau, Nguyễn Bính vẫn là một tài năng bậc nhất, hơn
nữa, một tài năng tự nhiên, nghĩa là vừa dồi dào, vừa độc đáo" [10;206].
Quả vậy, ngay từ độ trình làng bằng bài Mưa xuân (1936) trên tờ Ngày
nay và bài Cô hái mơ (1937), đặc biệt là sau Lỡ bước sang ngang, thơ
Nguyễn Bính đã chiếm được lòng yêu mến của đông đảo bạn đọc và sự chú ý
của các nhà nghiên cứu. Trong bút ký của Phạm Tường Hạnh, một người bạn
của Nguyễn Bính, quê Nam Hà có đoạn: “Hàng chục năm liền, từ cái năm
1940 xa xưa ấy, có cô nữ sinh nào, có những nàng trong khuê các nào, nói
chung là người phụ nữ nào của cái thời buồn tẻ trong cảnh mất nước, nhà tan
ấy, lại không thuộc từng câu chữ trong bài Lỡ bước sang ngang…Vì thơ anh
giản dị, gần gũi, đậm đà chất dân gian và sâu lắng thấm đượm tình người”.
Vì lẽ đó, thơ Nguyễn Bính từ lâu đã trở thành nguồn đề tài hấp dẫn, vừa
cổ điển, vừa hiện đại đối với nhiều nhà nghiên cứu. Đầu tiên phải kể đến, đó
chính là nhà nghiên cứu Hoài Thanh: “Cái đẹp kín đáo của vần thơ Nguyễn
Bính, tuy cảm được một số đông công chúng mộc mạc, khó lọt vào con mắt
6
của các nhà thông thái thời nay. Tình cờ có đọc thơ Nguyễn Bính, họ sẽ bảo
khoa học ngữ văn trong cả nước.
Có một điều đặc biệt rất dễ nhận thấy, đó là trong tổng số rất nhiều
công trình, bài viết nghiên cứu về Nguyễn Bính, gần như chúng tôi không
thấy những ý kiến mang tính chất “trái chiều” như khi đánh giá một số nhà
thơ khác trong phong trào Thơ mới. Phải chăng cái chất “quê mùa” của
Nguyễn Bính đã trở thành một điểm tựa đáng tin cậy để các nhà nghiên cứu
đồng thuận khi phân tích, đánh giá? Có thể như vậy, vì ở bất cứ thời điểm
nào, người ta cũng nhắc nhớ đến Nguyễn Bính như nhà thơ của hồn quê, của
tình quê, là “thi sĩ của thương yêu”, rồi “thi sĩ của đồng quê”. Như Tô Hoài đã
khẳng định: “Trước, sau và mãi mãi, Nguyễn Bính vốn là nhà thơ của tình quê,
chân quê, hồn quê” [35;26].
Theo kết quả của quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích tài liệu,
ngoại trừ công trình Nguyễn Bính – thi sĩ của đồng quê của Hà Minh Đức,
Nguyễn Bính – Hành trình sáng tạo thi ca của Đoàn Đức Phương, Nguyễn
Bính và kiếp con chim lìa đàn của Chu Văn Sơn là đề cập khá toàn diện về
hành trình thơ cũng như cuộc đời thực của Nguyễn Bính, chúng tôi nhận thấy
vấn đề mà đề tài thực hiện vẫn chưa được các nhà nghiên cứu tập trung một
cách trọn vẹn. Đó vẫn là một khoảng trống để chúng tôi, trên cơ sở kế thừa và
phát triển, với tinh thần cầu thị, có thể đi sâu vào tìm hiểu và đạt được mục
đích như đã nêu ở phần trên.
3. Đối tƣợng, phạm vi, mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề lý tưởng và hiện thực
trong thơ Nguyễn Bính, được thể hiện trong các tập thơ trước Cách mạng
Tháng Tám. Đó là sự mô tả, thể hiện các mặt hiện thực và lý tưởng, cũng như
việc biểu hiện mối quan hệ giữa hai mặt đó trong thơ Nguyễn Bính.
Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ giới hạn trên phương
diện nghiên cứu vấn đề lý tưởng và hiện thực trong thơ Nguyễn Bính. Chúng
8
tôi sẽ tiến hành khảo sát và nghiên cứu trên 7 tập thơ chính được sáng tác
là chúng tôi gặp nhiều thuận lợi và có cơ sở vững chắc để đưa ra những kết
luận mang tính chất “chung – riêng”. Phương pháp này sẽ rất cần thiết trong
việc “khu biệt đối tượng”, tìm ra đâu là nét đặc trưng của Nguyễn Bính trong
rất nhiều nhà thơ tiêu biểu, đặc sắc của phong trào Thơ mới.
4.4. Phương pháp tiếp cận văn hoá học
Chúng tôi đồng ý với quan niệm của Bakhtin khi cho rằng: “Văn học là
một bộ phận không thể tách rời của văn hóa. Không thể hiểu nó ngoài bối cảnh
nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa một thời đại trong đó nó tồn tại” [39;29].
Huống chi, Nguyễn Bính lại là nhà thơ vốn được định danh là “thi sĩ của làng
quê”, của “hương đồng, gió nội”. Vì lẽ đó, “văn hóa làng quê” sẽ là một cơ sở
mang tính chất nền tảng khi chúng tôi sử dụng phương pháp này để nghiên cứu
thơ Nguyễn Bính.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần Nội
dung chính của Luận văn bao gồm 4 chương:
Chương 1: Nguyễn Bính – một nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ
mới lãng mạn 1932 – 1945
Chương 2: Nhà thơ chân quê và khát vọng giang hồ
Chương 3: Khát vọng tình yêu và cảnh ngộ lỡ bước
Chương 4: Khát vọng công danh và bi kịch nhầm thời
10
CHƢƠNG 1:
NGUYỄN BÍNH – MỘT NHÀ THƠ TIÊU BIỂU
CỦA PHONG TRÀO THƠ MỚI LÃNG MẠN 1932 – 1945
với Lỡ bước sang ngang. Cũng trong năm 1937, Nguyễn Bính đã nhận giải
Khuyến khích về thơ của Tự lực văn đoàn – một giải thưởng văn chương
danh giá đương thời.
Vốn là người thích đi đây đó, và sau này, một phần cũng xuất phát từ
nhu cầu của cuộc sống, Nguyễn Bính đã bôn ba khắp nhiều nơi. Từ năm
1937, Nguyễn Bính vào Nam, ra Bắc nhiều lần, và ở nơi đâu, Nguyễn Bính
cũng để lại những kỷ niệm vui buồn trong lòng bạn bè, cũng có những bài thơ
hay, ghi lại dấu ấn của cuộc đời mình.
Trong thời gian diễn ra cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954),
Nguyễn Bính chủ yếu sống ở Nam Bộ. Những sáng tác của ông trong thời kỳ
này cũng lấy cảm hứng chính từ cuộc sống chiến đấu, sinh hoạt hàng ngày
của nhân dân nơi đây. Nguyễn Bính cũng hăng hái tham gia các hoạt động
cách mạng, và được giao giữ nhiều trọng trách: phụ trách Hội văn nghệ cứu
quốc tỉnh Rạch Giá, làm ở Ban văn nghệ khu Tám, làm Phó Chủ nhiệm Tổng
bộ Việt Minh ở tỉnh Rạch Giá.
Từ sau hòa bình được lập lại đến những năm cuối đời (1954 – 1966),
Nguyễn Bính trở về miền Bắc và sống những năm tháng êm đềm cuối cùng
nơi quê hương nghĩa nặng tình sâu. Ngày 30 Tết năm Ất Tỵ (20.01.1966),
Nguyễn Bính hưởng mùa xuân “tha hương” cuối cùng. Ông mất đột ngột tại
nhà một người bạn yêu thơ (ông lang Tân Thanh) ở xã Hòa Lý, huyện Lý
Nhân, tỉnh Hà Nam.
1.1.2. Sự nghiệp
Nguyễn Bính được đánh giá là một trong những cây bút sung sức nhất
của phong trào Thơ mới. Trong hơn 30 năm sáng tác, ông để lại 19 tập thơ, 5
12
truyện thơ, 2 kịch thơ, 4 tập truyện, 2 kịch bản chèo và 1 tập lý luận sáng tác
(Cách làm thơ lục bát).
Tập thơ đầu tiên của Nguyễn Bính là Lỡ bước sang ngang (1940).
Trong khoảng thời gian từ năm 1940 đến hết năm 1942, Nguyễn Bính đã cho
Tây Âu vào sau Đại cách mạng tư sản Pháp năm 1789. Xét về bản chất, cơ sở
xã hội và ý thức của chủ nghĩa lãng mạn chính là sự sụp đổ của chế độ phong
kiến và sự hình thành những quan hệ xã hội mới – chưa được định hình một
cách rõ ràng. Điều này tác động đến hầu hết các tầng lớp người trong xã hội,
trong đó ảnh hưởng “nặng nề” nhất là đối với tầng lớp tiểu tư sản, trí thức.
Những mong muốn, ước vọng của họ về một xã hội tốt đẹp trong tương lai đã
không trở thành hiện thực sau khi cách mạng thành công. Như Victo Huygo
có nói trong lời tựa vở kịch Cromoen: “Tâm hồn của con người hiện nay đặt
nhiều hi vọng ở lý tưởng hơn là ở thực tại… Nghệ sĩ du hành đến các vì sao,
thì đành xin lỗi là không phục tùng huyện đường được” [9;518]. Bác bỏ cuộc
sống tầm thường, các nhà chủ nghĩa lãng mạn đem ước vọng cao cả của mình
hướng về một thế giới khác, trong các truyền thuyết và sáng tác dân gian,
trong các thời đại lịch sử đã qua.
Trên nền tảng xã hội – ý thức như vậy, tùy theo thái độ phản ứng lại
cuộc sống và cách tìm lối thoát của người nghệ sĩ, chủ nghĩa lãng mạn được
chia thành hai khuynh hướng tích cực và tiêu cực và có mối liên hệ rất phức
tạp với nhau. Trong đó, khuynh hướng tiêu cực xuất hiện trước khuynh hướng
tích cực.
Nếu như con người lý tưởng của chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực thoát ly
thực tế, quay về với quá khứ, hoặc đi vào ảo mộng, hoặc thu mình trong cái
tôi nhỏ bé (đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng này có thể kể đến Satôbriăng,
14
Lamáctin, Vinhi), thì ngược lại, con người lý tưởng của chủ nghĩa lãng mạn
tích cực lại được tăng cường ý chí một cách mạnh mẽ, được thức tỉnh lòng bất
phục tùng đối với thực tại, đối với mọi đè nén áp bức (đại diện tiêu biểu của
khuynh hướng này là V.Huygo, Bairơn, Lécmtôntốp).
Về vấn đề thi pháp, nếu như chủ nghĩa cổ điển trong việc xây dựng tính
cách rất chú ý đến cái chung, cái ý nghĩa khái quát mà coi nhẹ cái riêng, cá
tính thì ngược lại, chủ nghĩa lãng mạn coi trọng vẻ riêng, cái đặc biệt độc đáo,
1.2.2. Sự đối lập giữa lý tưởng và hiện thực là một đặc trưng nghệ
thuật của Thơ mới
Theo Từ điển Tiếng Việt, thì khái niệm lý tưởng là “sự hoàn hảo, tốt
đẹp nhất trong trí tưởng tượng hoặc trên lý thuyết”, còn khái niệm hiện thực
là “cái tồn tại trong thực tế”. Vấn đề mối quan hệ cũng như sự mâu thuẫn
giữa lý tưởng và hiện thực không chỉ đơn thuần tồn tại trong cuộc sống hàng
ngày. Nó còn là chuyện của văn chương: thơ thiên về vế trước, truyện thiên
về vế sau; bi kịch thiên về phía trước, hài kịch thiên về vế sau; chủ nghĩa lãng
mạn thiên về vế trước, chủ nghĩa hiện thực thiên về vế sau,…
Ở Việt Nam, chủ nghĩa lãng mạn như một trào lưu văn học xuất hiện
vào những năm 30 của thế kỷ XX. Tiêu biểu cho trào lưu văn học này là sáng
tác văn xuôi của nhóm Tự lực văn đoàn và sáng tác thơ ca của phong trào Thơ
mới. Văn học lãng mạn Việt Nam ra đời chính là tiếng nói của bộ phận tư sản
dân tộc và tiểu tư sản thành thị. Mặc dù đã thoát ly phong trào đấu tranh chính
trị của quần chúng nhưng họ vẫn còn ấp ủ một tâm sự yêu nước thầm kín.
Sống trong một xã hội bế tắc, quằn quại đau thương dưới ách đàn áp của thực
dân phong kiến, tâm trạng phân vân đứng trước “ngã ba đường” và thái độ
“nước đôi” của tầng lớp này là điều dễ hiểu.
16
Con đường văn chương lúc bấy giờ đối với một số tiểu tư sản trí thức là
một lối thoát ly trong sạch, là một nơi có thể gửi gắm nỗi niềm tâm sự. Như
Trường Chinh nhận định: “Các tầng lớp tư sản dân tộc và tiểu tư sản trí thức
Việt Nam tìm thấy trong chủ nghĩa lãng mạn một tiếng thở dài chống thuộc địa”.
Có thể khẳng định rằng, Thơ mới lãng mạn (1932 – 1945) là một dấu
mốc quan trọng trong tiến trình vận động và phát triển của dòng chảy thể loại
thơ Việt Nam. Với sự “phủ nhận” hầu như hoàn toàn những công thức mang
tính chất “ước lệ” của thơ cổ điển, cùng với những sáng tạo trên nhiều
phương diện, Thơ mới thực sự đã hình thành, phát triển đến đỉnh cao chỉ
trong vòng gần mười lăm năm tồn tại. Trong đó, xuất hiện nhiều tên tuổi thi
đưa vào, thì đều qua lăng kính “lý tưởng hóa”. Điều này nằm trong nguyên lý
bao quát về sự sáng tạo của nhà văn. Về vấn đề này, ngay từ thời cổ đại, nhà
mĩ học vĩ đại Arixtôt trong Thi pháp học đã cho phép nghệ sĩ cái quyền “bổ
sung vào cái không có trong tự nhiên”. Bên cạnh yêu cầu mô tả sự vật “như
chúng ta đang tồn tại”, ông còn đòi hỏi miêu tả sự vật “sẽ là như thế”.
1.2.3. Nguyễn Bính – một nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới
lãng mạn (1932 – 1945)
Nói đến phong trào Thơ mới, không thể không nhắc đến cái tên
Nguyễn Bính. Người ta càng không thể lẫn “người nhà quê” Nguyễn Bính với
bất kì ai trong những nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ mới. Ai cũng có
một con đường riêng để khẳng định chân giá trị con người và nghệ thuật của
mình, và Nguyễn Bính không phải là một ngoại lệ. Với tài năng, nhân cách và
bằng chính cuộc đời mình, con người và thơ ông đã sống trong lòng bạn đọc,
với niềm yêu mến, trân trọng thực sự.
Chúng ta đều biết, cuộc đời Nguyễn Bính, chủ yếu là dành cho những
chuyến “giang hồ vặt” (chữ dùng của Tô Hoài). Trên hành trình Bắc Nam,
18
Nguyễn Bính hầu như không mang theo thứ gì, ngoại trừ mối tình quê thủy
chung, son sắt. Mối tình ấy như chất keo dính, níu kéo Nguyễn Bính trước
những cám dỗ vật chất, trước những sa ngã tầm thường, lại cũng như nỗi đau,
nỗi day dứt khôn nguôi trong lòng thi nhân. Và cũng từ đây, những bài thơ về
quê hương vút lên tha thiết, trong trẻo và ấm áp tình đời, tình người. Nhà thơ
chân quê ấy, đúng là đã gieo vào lòng chúng ta một điều vô cùng quý giá,
“hồn xưa đất nước”!
Như phần lớn các nhà Thơ mới khác, trong hành trình của cuộc đời thật
và đời thơ, ở Nguyễn Bính cũng xuất hiện những mâu thuẫn, va chạm giữa lý
tưởng và hiện thực. Và có lẽ, Nguyễn Bính là tiêu biểu và đáng thương hơn
cả. Năm 1939, Nguyễn Bính sáng tác Lỡ bước sang ngang, kể về câu chuyện
một người con gái phải chia tay mẹ, chia tay em, chia tay mối tình đầu tiên
20
CHƢƠNG 2:
NHÀ THƠ CHÂN QUÊ VÀ KHÁT VỌNG GIANG HỒ
2.1. Nhà thơ chân quê
2.1.1. Nhà thơ của cảnh quê
Nói đến các nhà Thơ mới, người ta hay nhắc đến một Xuân Diệu “mới
nhất”, một Hàn Mặc Tử “lạ nhất”, một Chế Lan Viên “kinh dị nhất”, và một
Nguyễn Bính “quen nhất”. Trong nhận thức bình dị của người nông dân,
trong khung cảnh làng quê hàng ngàn năm dường như không biến đổi, thì
Nguyễn Bính vẫn giữ được bản chất quê mùa của mình, và “thơ Nguyễn Bính
đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta…. Một điều mà người
ta không thể hiểu bằng lý trí, một điều quý vô ngần: Hồn xưa của đất nước”
[41;347-348].
Kể từ đó, Nguyễn Bính được gán cho cái chất “quê mùa”. Và đây cũng
Và hình ảnh làng quê làm nghề chài lưới trong thơ Tế Hanh:
Chiếc thuyền nhẹ băng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió
(Quê hương)
Ngay cả Hàn Mặc Tử, trong sự tỉnh say của cơn mê điên, vẫn bắt được
cái vẻ đẹp rực rỡ nhất của mùa xuân:
Trong làn nắng ửng: khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Bên giàn thiên lý bóng xuân sang
(Mùa xuân chín)
22
Bên cạnh đó, phải kể đến những sáng tác về làng quê cũng rất hay và
nổi tiếng của Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Giang. Trong số
ấy, có lẽ Nguyễn Bính là trường hợp đặc biệt, bởi thơ ông nói được cả cảnh
quê và tình quê – điều mà những nhà thơ vừa kể trên có thể diễn tả chưa thật
sự rõ nét và sâu sắc.
Trong thơ Nguyễn Bính, không quá khó để chúng ta nhận thấy có sự
xuất hiện của cả một hệ thống hình ảnh thân thuộc của làng quê Việt Nam. Đó
là hình ảnh người mẹ, người chị, người em, là hình ảnh bến nước, mái đình,
con đò, là giàn giầu, hàng cau, là hoa, là bướm. Những hình ảnh đó đều bắt
nguồn từ cuộc sống thực, được lặp đi lặp lại nhiều lần, và trở thành biểu
tượng, khơi gợi những ý nghĩa khác ngoài nó. Nói cách khác, trong thơ
Nguyễn Bính, đề tài số một và lớn nhất chính là đề tài hiện thực, với hình ảnh
quê hương, với cảnh vật và cuộc sống của người thôn quê.
Năm 1936, bài thơ Chân quê ra đời, không chỉ đơn thuần là lời giãi
bày, tâm sự của chàng trai với người mình yêu, mà sâu xa hơn, chính là mong
(Hoa với rượu)
Bên cạnh đó là hình ảnh của thôn Vân quê mẹ, nơi mà Nguyễn Bính đã
gắn bó phần lớn thời gian của tuổi thơ mình với những kỷ niệm êm đẹp. Sự
thực là thôn Vân rất đẹp, thơ mộng, lại còn rất sung túc nữa. Có ba cái ao vừa
thả cá vừa trồng các thứ sen trắng, sen hồng, súng, ấu, rau muống, rau rút.
Trên bờ ao trồng đặc các loại cây ăn quả: bưởi chanh, cam yên, dâu, táo, ổi,
nhãn, dừa, sắn, sung… Mùa nào thức ấy… Lại còn mấy sào vườn rộng trồng
toàn chè, cau… Hoa cũng rất nhiều: hồng, cúc, lan, tử tiêu, ngọc lan, lạp mai,
mẫu đơn, ngâu, huệ, những giàn thiên lý và nho xum xuê trước sân. Thế nên,
khi nhớ và viết về thôn Vân, ngòi bút của Nguyễn Bính thênh thang và
khoáng đạt vô cùng:
24
Thôn Vân có biếc có hồng
Hồng trong nắng sớm, biếc trong vườn chiều
Đê cao có đất thả diều
Giời cao lắm lắm có nhiều chim bay
(Anh về quê cũ)
Những hình ảnh đẹp đẽ, thơ mộng và có phần sung túc của thôn Vân đã
được Nguyễn Bính đưa vào thơ rất tự nhiên, giản dị. Những hàng cây ăn trái,
những dòng sông yên bình, và cả những kỷ niệm nữa,… đã tắm mát tâm hồn
tuổi thơ Nguyễn Bính. Vì lẽ đó, trong ký ức và tình cảm của thi nhân, thôn
Vân vẫn luôn là chốn “thần tiên”, là nơi đi về của trái tim mình.
Cảnh quê vừa thực, lại vừa có chút thi vị hóa. Nhưng dù gì, Nguyễn
Bính đã nói hộ được cái ước vọng ngàn đời của những người nông dân Việt
Nam về một cuộc sống yên bình, no đủ. Đó cũng là hạnh phúc lớn nhất, mà
cũng bình dị nhất của những người dân quê một nắng hai sương, quanh năm
suốt tháng gần gụi với lũy tre làng:
Thong thả dân gian nghỉ việc đồng
Lúa thì con gái mượt như nhung