Hình tượng tác giả trong thơ nguyễn bính trước cách mạng tháng 8 - Pdf 33

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng
vinhtạo
Bộ
giáo đại
dụchọc
và đào
Trờng đại học vinh

nguyễn thị hải yến
nguyễn thị hải yến

Hình
Hìnhtợng
tợngtác
tácgiả
giảtrong
trongthơ
thơnguyễn
nguyễnbính
bính
trtr
ớc
ớccách
cáchmạng
mạngtháng
thángtám
tám
Chuyên ngành: văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34


Vinh - 2007


Lời cảm ơn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Thầy giáo - PGS.TS. Đinh Trí Dũng - ngời đã tận tình hớng dẫn em trong
suốt quá trình hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các thầy giáo trong tổ Văn học Việt Nam, các
thầy cô trong khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học, trờng Đại học Vinh đã
tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Vinh, tháng 12 năm 2007.
Tác giả
Nguyễn Thị Hải Yến


Mục lục
Trang
Mở đầu...............................................................................................................
1. Lý do chọn đề tài............................................................................
2. Lịch sử vấn đề.................................................................................
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu....................................................
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.....................................................................
5. Phơng pháp nghiên cứu..................................................................
6. Cấu trúc luận văn............................................................................
Chơng 1.
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.


Kết luận..........................................................................................................123
Tài liệu tham khảo........................................................................................126

mở đầu

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nguyễn Bính là một nhà thơ lớn của thơ ca lãng mạn Việt Nam thời
kỳ 1932 - 1945. Tiếng thơ của ông góp vào thi đàn thơ mới một phong cách
riêng, cái đẹp riêng. Nét riêng ấy dễ nhận thấy trong Thi nhân Việt Nam Hoài


5
Thanh đã chỉ ra đó là chất quê mùa, là Hồn xa đất nớc rất gần gũi với ca
dao, dân ca truyền thống: Giá mà Nguyễn Bính sinh ra thời trớc, tôi chắc ngời
đã làm những câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm [58-309].
Nguyễn Bính đã dành đợc vị trí của mình trong văn học nhà trờng. Thơ
ông đã đợc đa vào giảng dạy ở cả bậc phổ thông và đại học. Chính vì vậy,
Nguyễn Bính cần đợc tiếp tục nghiên cứu và khám phá để góp thêm một cái
nhìn đặc sắc về thơ Nguyễn Bính, thấy đợc những giá trị văn chơng và đóng
góp đáng quý của tác giả này vào làng thơ mới Việt Nam.
1.2. Cho đến nay, tổng số công trình nghiên cứu về Nguyễn Bính không
phải là ít. Gần một nửa thế kỷ qua, bạn đọc yêu thơ và các nhà phê bình đã
không ngừng nghiên cứu, khám phá thơ Nguyễn Bính từ nhiều góc độ. Có rất
nhiều công trình nghiên cứu công phu về thơ ông, tuy nhiên cha có công trình
nào đi sâu tìm hiểu hình tợng tác giả trong thơ ông một cách có hệ thống.
Luận văn này cố gắng góp một phần nhỏ làm rõ hơn vấn đề trên, cũng chính
là đi sâu hơn tìm hiểu thi pháp thơ Nguyễn Bính. Đề tài vì vậy mang ý nghĩa
khoa học.
1.3. Nghiên cứu hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn Bính không chỉ có

văn hiện đại cũng chỉ ra thứ tình quê phác thực đợc toát lên từ những câu
thơ mang dáng vẻ thực thà","hai lần hai là bốn của Nguyễn Bính [52,701 ].
Vũ Ngọc Phan đã đánh giá cao thơ Nguyễn Bính, đặc biệt là ở mảng thơ viết
về làng quê. ngay trong nhng ngày thơ mới đang phồn thịnh với: trăm hoa
khoe sắc", hai nhà nghiên cứu đã có một cảm quan tinh tế, nhạy cảm trong
việc nhận diện những hồn thơ độc đáo, một nẻo đi riêng của Nguyễn Bính.
Những ý kiến trên có ý nghĩa định hớng cho việc nghiên cứu Nguyễn Bính sau
này.
2.2. Thời kỳ từ 1945 đến 1975
Trong kháng chiến chống Pháp, những vần thơ xa của ông vẫn đợc trân
trọng. Tuy nhiên ở giai đoạn này do hoàn cảnh chiến tranh, đất nớc bị chia
cách làm hai miền nên việc nghiên cứu văn học nói chung và thơ Nguyễn Bính
nói riêng có nhiều hạn chế.
ở miền Bắc, nghiên cứu Nguyễn Bính còn ít và sự khẳng định cũng dè
dặt. Những năm 60, các công trình, bài viết về thơ mới, thơ Nguyễn Bính chỉ
điểm qua.
ở miền Nam, nghiên cứu Nguyễn Bính đợc chú ý hơn. Thơ Nguyễn
Bính đợc chú ý hơn, đợc tái bản, giới thiệu trong giáo trình của đại học văn
khoa Sài Gòn, đợc đánh giá thẩm định trong một số chuyên luận về thơ tiền
chiến. Đáng chú ý hơn cả là Việt Nam thi nhân tiền chiến (Quyển thợng) - Sài
Gòn 1968 của soạn giả Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng, Việt Nam
văn học sử giản ớc tân biên của Phạm Thế Ngũ đợc xuất bản 1965, Lợc sử văn
nghệ Việt Nam của Thế Phong (Vàng son,1974) với nhiều bài viết trên báo,
tạp chí, nhất là trong tập san Văn học số 60- số đặc biệt kỉ niệm Nguyễn Bính
- Sài Gòn 14/6/1966 với các bài: Cuộc đời Nguyễn Bính đi trong khói lửa


7
chiến tranh của Sơn Nam, Nguyễn Bính - thi sĩ suốt đời măc bệnh tơng t của
Vũ Bằng. Nguyễn Bính nhà thơ bình dân, Nguyễn Bính một ngôi sao sáng

Nxb Hội Nhà văn cho ra mắt Nguyễn Bính thi sỹ của yêu thơng do Hoài Việt
su tầm và biên soạn; năm 1996, Nxb Văn học ấn hành cuốn Nguyễn Bính thi


8
sỹ của đồng quê; năm 2003, Nxb Giáo dục giới thiệu cuốn Ba đỉnh cao thơ
mới - Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử của tác giả Chu Văn Sơn. Gần
đây nhất (9-2006), trên trang văn học của báo điện tử có đăng liên tiếp nội
dung cuốn sách (gồm 9 kỳ) Nguyễn Bính thi sỹ giang hồ của tác giả Trần Đình
Thu... những công trình này đã thu hút đợc sự chú ý của ngời yêu thơ. Đó là
cha kể đến hàng loạt các bài viết của nhiều nhà nghiên cứu phê bình có tên
tuổi của Việt Nam, đã viết về Nguyễn Bính với tình cảm yêu mến, trân trọng
và thán phục nh Tô Hoài, Lại Nguyên Ân, Đoàn Thị Đặng Hơng, Đỗ Lai
Thuý, Đoàn Đức Phơng, Tô Phơng Lan, Hà Bình Trị, Lê Quang Hng... Nguyễn
Bính còn trở thành nhiều đề tài, nhiều khoá luận tốt nghiệp cho sinh viên các
trờng đại học, nhiều luận án tiến sĩ khoa học ngữ văn trong cả nớc.
Nhìn một cách tổng quát, qua các thời kì lịch sử khác nhau, thơ Nguyễn
Bính cũng có nhiều thăng trầm nhng việc cảm thụ, đánh giá thơ Nguyễn Bính
ít có những khác biệt, những mâu thuẫn gay gắt, không tạo ra những cuộc bút
chiến, những tranh luận căng thẳng. Về căn băn bản các ý kiến đánh giá về
Nguyễn Bính khá thống nhất. Dù ở thời nào Nguyễn Bính vẫn đợc xem là nhà
thơ chân quê, hồn quê, tình quê, là thi sỹ đồng quê, Thi sỹ yêu thơng và các nhà nghiên cứu đều khẳng định đó chính là cái hay, cái hơn ngời
của Nguyễn Bính. Với một bề dày lịch sử, thơ Nguyễn Bính đã đợc nhiều nhà
nghiên cứu xem xét ở rất nhiều góc độ, từ nội dung đến hình thức, từ t tởng
phong cách đến thế giới nghệ thuật...
Trên cơ sở những ý kiến quý báu có tính chất gợi mở, định hớng của các
nhà nghiên cứu, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu về Hình tợng tác giả trong thơ
Nguyễn Bính trớc cách mạng một cách cụ thể, có hệ thống, hy vọng làm rõ
hơn cái độc đáo của phong cách và con ngời thơ Nguyễn Bính.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

Nguyễn Bính trong phong trào Thơ mới.
Chơng 2. Cái nhìn nghệ thuật và sự tự thể hiện của Nguyễn Bính
trong thơ.
Nội dung
Chơng 3. Thể loại, giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật thơ Nguyễn Bính.
Chơng 1

Khái niệm hình tợng tác giả và nhìn chung về
vị trí của Nguyễn Bính trong phong trào thơ mới
1.1. Khái niệm hình tợng tác giả

Tác giả cũng nh tác phẩm là những khái niệm cơ bản đợc sử dụng nhiều
nhất trong lịch sử văn học và phê bình văn học. Theo Bakhtin tác giả là ngời
làm ra tác phẩm, là trung tâm tổ chức ra nội dung, hình thức, cái nhìn nghệ
thuật trong tác phẩm. Lý luận văn học hiện đại đã chỉ ra khả năng vô cùng to
lớn của quá trình đồng sáng tạo của độc giả. Quá trình tiếp nhận cho phép độc


10
giả có thể mở ra nhiều cách hiểu khác nhau về tác phẩm, vì vậy tác giả nói
chung, hình tợng tác giả nói riêng là những vấn đề đang đợc đặt ra nghiên cứu.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Hình tợng tác giả là phạm trù thể
hiện cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò văn học của mình
trong tác phẩm. Cơ sở tâm lý của hình tợng tác giả là hình tợng cái Tôi trong
nhân cách mỗi ngời thể hiện trong giao tiếp. Cơ sở nghệ thuật của hình tợng
của tác giả trong văn học là tính chất gián tiếp của văn bản nghệ thuật: văn
bản của tác phẩm bao giờ cũng là lời của ngời trần thuật, ngời kể hoặc nhân
vật trữ tình. Nhà văn xây dựng một văn bản đồng thời với việc xây dựng ra ngời phát ngôn văn bản ấy với một giọng điệu nhất định [27,149].
Định nghĩa đã bám sát vấn đề cái Tôi, cái Tôi trong nhân cách cũng nh
cái Tôi trong nghệ thuật. Trớc hết chúng ta thấy rằng cái Tôi nhân cách góp

cái Tôi trữ tình tự thuật tâm trạng. Cái Tôi ở đây đồng dạng nhất hoặc gần gũi
nhiều nhất với cái Tôi của tác giả. Dạng thứ hai là cái Tôi trữ tình nhập vai.
Dạng thứ ba là cái Tôi trữ tình hóa thân.
Song ở dạng nào thì nhà thơ cũng là sự thống nhất của hai con ngời: thứ
nhất là con ngời có số phận nhất định, kinh nghiệm sống, những tâm trạng,
những quan điểm sống nhất định; thứ hai là nhân vật của chính những bài thơ
của mình, chính là đối tợng hóa chính bản thân mình. Điều quan trọng là biến
những nét nhân cách của nhà thơ thành hình tợng tác giả. Hay nói cách khác
nó là sự thống nhất nhng không đồng nhất giữa cái Tôi nhà thơ trong cuộc
sống và cái Tôi trữ tình trong tác phẩm. Sự không đồng nhất là quy luật điển
hình hóa nghệ thuật, và cái Tôi nhà thơ khác với cái Tôi nghệ thuật hóa. Cụ
thể hình tợng tác giả thống nhất nhng không đồng nhất với cái Tôi nhà thơ
trong cuộc sống.
Qua sự phân tích trên, có thể thấy rõ một số nội dung cơ bản: thứ nhất
là vai trò của sự tự ý thức của cái Tôi tác giả trong tác phẩm. Thứ hai là trong
quá trình xây dựng văn bản nhà văn đồng thời xây dựng ra hình tợng ngời phát
ngôn văn bản ấy với một giọng điệu nhất định. Nghĩa là đã có cái hạt nhân kết
cấu của hình tợng, phơng tiện biểu hiện, hình thức biểu hiện của hình tợng.
Nhng vấn đề là ở chỗ cái Tôi nghệ thuật là trung tâm của tất cả các vấn đề
thuộc về tác phẩm cũng nh loại hình tác phẩm và loại hình tác giả. Cho nên sự
tự ý thức của tác giả trong tác phẩm nghệ thuật về vai trò xã hội và vai trò văn
học là một điểm quan trọng nhng cha đặc trng. Cái đặc trng của hình tợng tác
giả thiết nghĩ chính là ở chỗ tác giả tự biến mình thành một hình tợng nghệ
thuật, nghĩa là tác giả hiện hình trong tác phẩm nh một nhân vật có đủ t tởng,
quan điểm nghệ thuật, có giá trị thẩm mỹ riêng.
Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân cũng thừa nhận sự tồn tại
của khái niệm Hình tợng tác giả gắn liền với sự phát triển của nhân tố sáng
tạo cá nhân, các phơng tiện nội dung của nhân cách tác giả nhập sâu vào cơ



mình trong tác phẩm của mình một cách đặc biệt. Có nghĩa là nhà văn biểu
hiện cảm nhận của mình về thế giới, cách suy nghĩ của mình và ngôn ngữ,
cách diễn đạt của mình. Cảm nhận đó trở thành trung tâm tổ chức tác phẩm,
và sự thống nhất của tác phẩm về mặt phong cách học. Nói cách khác, vấn đề


13
hình tợng tác giả gắn bó hữu cơ với cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật
của nhà văn.
Viện sĩ Nga V. Vinôgrađôp trong rất nhiều công trình đã khẳng định
hình tợng tác giả là cơ sở, là trung tâm của phong cách ngôn ngữ. Achichêrin
cũng cho rằng hình tợng tác giả đợc sáng tạo ra nh hình tợng nhân vật. Đây là
sự chân thật nghệ thuật, không phải là chân lý của sự kiện mà là chân lý của ý
nghĩa, của t duy nh chân lý của thi ca.
Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định vấn đề hình tợng tác giả không chỉ
là sự phản ánh cái Tôi tác giả vào tác phẩm, thể hiện tơng quan giữa ngời
sáng tạo ra văn học và văn học, mà còn là vấn đề của cấu trúc nghệ thuật, sự
thể hiện của chủ thể. Sự biểu hiện của hình tợng tác giả trong sáng tác là một
vấn đề đang đợc nghiên cứu. Có ngời xem hình tợng tác giả biểu hiện ở phơng diện ngôn ngữ, có ngời xem hình tợng tác giả biểu hiện trên tất cả các
yếu tố và cấp độ tác phẩm từ cách quan sát, cách suy nghĩ, các quan niệm
trong lập trờng đời sống, đến giọng điệu lời văn. Trong giọng điệu thì không
chỉ giọng điệu ngời trần thuật mà cả trong giọng điệu của nhân vật. Có ngời
tập trung biểu hiện tác giả vào mấy điểm: Cái nhìn nghệ thuật của tác giả,
sức bao quát không gian, thời gian, cấu trúc, cốt truyện, nhân vật và giọng
điệu. Theo một cách nhìn hợp lý thì hình tợng tác giả biểu hiện chủ yếu ở:
cái nhìn riêng độc đáo, nhất quán có ý nghĩa t tởng, đạo đức, thị hiếu, thẩm
mỹ; giọng điệu của tác giả thâm nhập vào cả giọng điệu nhân vật; và ở sự
miêu tả, sự hình dung của tác giả đối với chính mình [53,109].
Qua ý kiến của các nhà nghiên cứu cho thấy hình tợng tác giả là một
phạm trù quan trọng của nghiên cứu văn học. Nhìn một cách tổng quát nó đợc

đã có vốn thơ dân tộc, vốn thơ Đờng, nay hành trang thơ lại giàu thêm nhờ
dòng hiện đại của Pháp. Mặc dù Trúc Đờng cùng em chuyển ra Hà Nội nhng
vẫn đa em về quê để Nguyễn Bính giữ mạch thơ dung dị vùng quê Nam Định,
Ninh Bình, Thái Bình, Phủ Lý hoặc đi tới với các miền khác... Năm1937, bài
thơ Cô hái mơ xuất hiện trên thi đàn và đợc d luận chú ý, đấy cũng là thời
điểm Nguyễn Trọng Bính bắt đầu ký tên là Nguyễn Bính. Nhng có thể thấy
những năm 1937-1942 là những năm Nguyễn Bính mới bắt tay vào sáng tác
một cách chuyên nghiệp, là những năm đánh dấu bớc ngoặt lớn lao nhất, cũng
là điểm sáng nhất trong thơ Nguyễn Bính trớc cách mạng. Dẫu rằng đây là
những năm Nguyễn Bính cha hết bỡ ngỡ từ quê ra tỉnh, rồi đi khá nhiều nơi,
tâm hồn trẻ dạt dào cảm xúc, suy t, sự tơng phản về lối sống, sự xa cách tạo
một hoài niệm day dứt, một điểm nhìn nghệ thuật đặc biệt với quê hơng, cho
nên đây cũng là thời điểm Bính làm thơ hay, bộc lộ rõ nhất cái bản sắc gió
nội hơng đồng cái bản sắc chân quê.
Năm 1937, Nguyễn Bính gửi tập thơ Tâm hồn tôi dự thi và đợc giải
khuyến khích của Tự Lực Văn Đàn nhng tập thơ ấy cha đủ sức đa Nguyễn


15
Bính bớc lên đài danh vọng. Nguyễn Bính chỉ thực sự nổi tiếng khi tờ Tiểu
thuyết thứ năm liên tiếp trong ba kỳ đăng ba đoạn của bài thơ Lỡ bớc sang
ngang - Lỡ bớc sang ngang cũng là tên của tập thơ Nguyễn Bính sau này
(1940). Ngoài ra Nguyễn Bính còn viết văn xuôi Ngậm miệng. Cuộc sống
ngày càng trở nên nghẹt thở và thiếu thốn Nguyễn Bính đã cùng một số bạn
bè đi tha hơng khắp xứ và chính những chuyến giang hồ ấy đã gợi cho
Nguyễn Bính nhiều cảm hứng. Năm 1941, Nguyễn Bính trình làng tập thơ
Một nghìn cửa sổ và Hơng cố nhân. Nguyễn Bính đi Thờng Tín rồi vào Vinh
viết Xuân tha hơng. Đến Huế, Nguyễn Bính lại viết loạt bài trong những ngày
dừng chân ở cố đô: Thu rơi từng cánh, Vài nét huế, Hoa với rợu, Giời ma ở
Huế v.v...

công tác ở liên khu Miền Tây. Nhà thơ miệt mài sáng tác để động viên chiến sĩ
đồng bào làm bất cứ việc gì để phục vụ kháng chiến. Năm 1952, Nguyễn Bính
về U Minh và đã lập gia đình ở đó.
Năm 1953, Nguyễn Bính về Đồng Tháp Mời, chính ở nơi mênh mông,
hoang vu phải chịu nhiều thiếu thốn gian khổ cảm hứng tích tụ từ những năm
tháng kháng chiến trớc đó đã khiến cho bút lực Nguyễn Bính thêm dồi dào
mạnh mẽ, nhà thơ liên tục cho ra đời những tập thơ quý giá: Ông lão mài gơm
(1947), Trăng kia đã đứng ngang đầu, Những dòng tâm huyết, Mừng Đảng ra
đời.
Từ 1954 đến 1966, Nguyễn Bính trở về gắn bó với Miền Bắc quê hơng
yêu dấu của nhà thơ. Con ngời ấy đã trở về đây sau bao năm xa cách nhng một
nửa trái tim còn gửi lại Miền Nam, vì nơi ấy có ngời vợ hiền và hai con gái thơng yêu. Có biết bao nhung nhớ và khắc khoải những ngày Bắc đêm Nam,
Nguyễn Bính làm thơ vạch trần tội ác bọn Mỹ Diệm và phản ánh tinh thần đấu
tranh bất khuất của đồng bào Miền Nam, ca ngợi công cuộc xây dựng Chủ
nghĩa xã hội ở Miền Bắc đồng thời nói lên nỗi niềm tha thiết mong đợc có
ngày thống nhất Bắc Nam.
Năm 1955, Nguyễn Bính viết liên tiếp ba tập thơ Đồng Tháp Mời, Trả ta
về, Gửi ngời vợ Miền Nam - tất cả nh ánh hồi quang của quá khứ, nh hoài niệm
da diết về một miền đất đã gắn bó với một thời tuổi trẻ thật lãng mạn và đầy
nhiệt huyết, đầy hạnh phúc của nhà thơ - đó là Nam Bộ thân thơng.
Năm 1957, Nguyễn Bính viết tiếp truyện thơ khá dài Tiếng trống xuân
(2000 câu) và Trông bóng cờ bay (1026 câu) và cho ra mắt tập thơ Giếng nớc
thơi.
Từ 1958 đến 1962, Nguyễn Bính sống một cuộc đời tởng bề ngoài có vẻ
bình lặng nhng bên trong lại có biết bao suy t, u phiền. Nhà thơ viết vở chèo


17
Cô son (1961) và hai tập thơ Tình nghĩa đôi ta (1960), Đêm sao sáng (1962)
với âm hởng chung là khát vọng thống nhất đất nớc.

mỗi nhà thơ tìm thấy cho mình một lối ứng xử phù hợp. Trong khi các nhà thơ
khác nh Thế Lữ, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử... mở lòng đón ngọn gió phơi phới
từ phơng Tây mang đến cho thơ mình nét mới lạ thì Nguyễn Bính vẫn đắm say


18
mơ mộng với hồn quê, cảnh quê mộc mạc chất phác, vẫn tha thiết với điệu thơ
dân tộc, với cách ví von so sánh, ý nhị, duyên dáng ở thể thơ 5 chữ 7 chữ và
lục bát quen thuộc.
Có ý kiến đối sánh các đối cực, nếu Xuân Diệu đợc coi là mới nhất,
Hàn Mặc Tử lạ nhất thì Nguyễn Bính là quen nhất. Nguyễn Bính là nhà
thơ tiêu biểu cho một khuynh hớng rất đáng trân trọng của phong trào thơ
mới: khuynh hớng quay về cội nguồn dân tộc. Ông là một đỉnh cao riêng biệt
trong nền thi ca Việt Nam. Bằng những sáng tác của mình, ông đã đa hồn dân
tộc vào thi ca Việt Nam hiện đại. Đó chính là đóng góp lớn nhất của Nguyễn
Bính.
Phong trào thơ mới đã dành một mảng riêng viết đề tài nông thôn với
bút pháp tinh tế và tài hoa của các tác giả Anh Thơ, Bàng Bá Lân, Đoàn Văn
Cừ... những bài thơ, những câu thơ thật đẹp nhng là tiếng thơ của những tâm
hồn cha thật gắn bó với đồng ruộng, thôn quê. ở Nguyễn Bính ngợc lại, con
ngời cảnh vật trong thơ ông thấm đợm hồn quê, tình quê. Ông dành cho thôn
quê cả trái tim và tấm lòng. Dòng thơ viết về làng quê của Nguyễn Bính giàu
chất dân gian. Chất liệu của thơ ông đợc khai thác trực tiếp từ phong cảnh sinh
hoạt, văn hoá truyền thống và lời ăn tiếng nói hàng ngày của ngời dân. Lê
Quang Hng có lời nhận xét: Đi vào thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bính ta
nh đợc hít thở bầu không khí êm dịu thảnh thơi, giữa những mảnh vờn làng,
bến sông quê, cái náo nức của hội hè đình đám, những cuộc sống cùng trái tim
yêu đằm thắm, mộc mạc của trai làng, thôn nữ, cùng những thân phận u buồn
trầm lắng, dang dở, lẻ loi.
Hà Minh Đức viết về Nguyễn Bính Nguyễn Bính là một thi sĩ của

Em nghe họ nói mong manh
Hình nh họ biết chúng mình với nhau
(Chờ nhau)
Ta thấy cái hồn quê trong thơ ông là một thứ hồn quê đúng điệu không
phải là thứ giả vờ hay bắt chớc. Nguyễn Bính đã dùng những lời nói trong
cuộc sống để làm thơ. Nếu nh nhà thơ không tiếp nhận văn hoá dân gian thì
không thể có những câu thơ đẹp và giản dị đến thế. Giản dị, tự nhiên nh lời nói
hàng ngày mà vẫn mang lại vẻ đẹp của thi ca.
Đêm nay mới thật là đêm
Ai đem giăng sáng giãi lên vờn chè
(Thời trớc)
Hay:
Hoa chanh nở giữa vờn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê
(Chân quê)


20
Nguyễn Bính tuy chịu nhiều ảnh hởng của thơ ca dân gian, gần gũi với
cuộc sống đời thờng đợc thể hiện qua sự kết hợp tài tình các thể thơ cổ truyền
của thơ ca dân tộc. Nhng thơ ông là tiếng nói của một cái Tôi thơ mới, mang
những tâm trạng, cảm xúc, cái nhìn, cách cảm của con ngời hiện đại. Đoàn
Thị Đặng Hơng đã thấy những đổi mới của nhà thơ về phơng diện thi pháp
Về mặt thi pháp trên thi đàn thơ mới, thơ Nguyễn Bính có thể coi là một cách
tân. Sáng tạo trong một cấu trúc có sẵn, một mô hình truyền thống cố định là
một điều khó khăn không kém sự sáng tạo ra cấu trúc mới cho thơ. Tác giả
khẳng định Thơ Nguyễn Bính vẫn là thơ của một nhà thơ lãng mạn có cá tính
riêng, dấu ấn riêng, thi pháp riêng của mình. Thơ Nguyễn Bính đã tách khỏi
dòng thơ ca dân gian, mở rộng thi pháp của nó để biểu hiện những vấn đề của
một nhà thơ mới, và bản thân nhà thơ đã tiếp nhận và phát triển thi pháp t duy

Tỏ lòng thanh vị núc nác
Vun đất ải, luống mồng tơi
Những cái nhỏ nhặt, mộc mạc, bình dị tởng nh không đâu nh rau
muống, dọc mùng, đậu, kê, khoai, núc nác, củ ấu, cây sen, mồng tơi... đã đi
vào trong thơ Nguyễn Trãi chan chứa thân thơng.
Đến với thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm (thơ Hán cũng nh Nôm) chúng ta
cũng bắt gặp cảnh vật cuộc sống và con ngời thôn quê. Ngoài những tình cảm
đối với con ngời, nhà thơ thờng miêu tả những cảnh đẹp thôn quê với cuộc
sống ẩn c. Trong một bài thơ bằng chữ Hán ông đã viết:
Vờn rau sáng dạo sơng đầy dép
Bến cá đêm trăng bóng lọt thuyền
Động tĩnh cuộc cờ nhiều mẹo mực
Duỗi co, câu cá có cơ quyền
(lời dịch bài Ngũ Hứng)
Hay trong những bài thơ chữ Nôm:
- Ruộng thời hai khóm đất con ong
Thầy tớ cùng cày kẻo muộn mòng
- Bếp chè hâm đã sôi mâm trúc
Nơng cỏ cày thôi vãi hạt bông
- Một mai một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào...
...
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, Hạ tắm ao
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện rất thực, những nét sinh hoạt đầy
phong vị của quê hơng đất nớc qua việc miêu tả lối sống ẩn dật của mình.
Trong tâm trí của nhà thơ, nông thôn trong sạch là nơi duy nhất giữ nhất giữ đợc những nét thuần hậu, chất phác. Ông luôn gắn bó với thiên nhiên và cuộc
sống nơi thôn dã, ông đắm mình trong không khí trong lành của nông thôn, và
trải lòng mình với thiên nhiên, cây cỏ ruộng vờn.


Làm giật mình một cô nàng yếm thắm
Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa.
Cũng viết về làng quê, Nguyễn Bính đợc coi là chân quê hơn cả...
Cảnh sắc làng quê Việt Nam hiện lên trong thơ Nguyễn Bính một vẻ đẹp dung
dị, mộc mạc, đậm đà hơng vị làng quê truyền thống. Cảnh quê mà trong thơ,
Nguyễn Bính thờng gọi một cách trìu mến là quê mình, xứ mình rất gần


23
với cảnh sắc làng quê trong ca dao. Đó là những hình ảnh con đò, bến nớc,
con đê, buồng cau, hoa xoan, hoa bởi, dậu mồng tơi...
Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh rì
(Ngời hàng xóm)
Bữa ấy ma xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy.
Trong thơ ông cảnh quê hiện lên thật thanh bình trong sáng, đẹp đẽ,
lung linh, xôn xao, sống động trớc mắt ngời đọc:
Anh trồng cả thảy hai vờn cải
Tháng chạp hoa non nở cành vàng
Lũ bớm láng giềng đang khát nhuỵ
Mách cùng gió sớm rủ rê sang
Qua nụ tầm xuân thấy bớm nhiều
Bớm vàng vàng quá bớm yêu...
(Hết bớm vàng)
Thơ Nguyễn Bính chính là sự tiếp nối mạch thơ thôn quê bắt nguồn từ
ca dao và ghi dấu vào sáng tác của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Khuyến ...
Thơ Nguyễn Bính đã góp phần quan trọng trong việc giữ gìn dòng chảy
ấy, góp thêm vào những dòng nớc nhỏ trong mát ngọt ngào để chảy đến mai

Nào đâu cái yếm lụa sồi
Cái dây lng đũi nhuộm hồi sang xuân
Nào đâu cái áo tứ thân
Cái khăn mỏ quả cái quần nái đen
...
Van em em hãy giữ yên quê mùa
(Chân quê)
Vào thời kỳ đó, khi những thiếu nữ thị thành chạy theo mốt thời trang
của Pháp với áo chẽn, quần tây, ô đen, dầy cao gót, son phấn loè loẹt, thì hình
ảnh thiếu nữ quê với trang phục truyền thống lại nh là một tiếng chuông báo
động trớc nguy cơ phá vỡ văn hoá truyền thống.


25
Chơng 2

cái nhìn nghệ thuật và sự tự thể hiện
của Nguyễn Bính trong thơ
2.1. T tởng nghệ thuật của Nguyễn Bính

2.1.1. Khái niệm t tởng nghệ thuật
T tởng nghệ thuật là khái niệm đã đợc nhiều nhà nghiên cứu nói đến.
Đó là t tởng đợc rút ra từ toàn bộ sáng tác của nhà văn. Nó mang tính tổng hợp
cao, có thể bao hàm cả t tởng đạo đức, t tởng chính trị. Nói cách khác đó là
một t tởng bao trùm cả sự nghiệp sáng tác của nhà văn, chi phối về căn bản
toàn bộ thế giới nghệ thuật của ông ta. Nó tạo ra cho sự nghiệp ấy, cho thế giới
nghệ thuật ấy tính thống nhất, tính hệ thống hay nói đúng hơn là tính chỉnh
thể [44,7].
Nguyễn Đăng Mạnh là ngời chăm chú theo dõi khái niệm này và tập
hợp đợc nhiều ý kiến sâu sắc, đáng tin cậy về khái niệm t tởng nghệ thuật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status