tình yêu làng quê việt nam trong thơ nguyễn bính trước cách mạng tháng tám 1945 - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN
--------------------

NGUYỄN THU PHƯƠNG
MSSV: 6075444

TÌNH YÊU LÀNG QUÊ VIỆT NAM TRONG THƠ
NGUYỄN BÍNH TRƯỚC CÁCH MẠNG
THÁNG TÁM 1945

Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn k33

Cán bộ hướng dẫn: HỒ THỊ XUÂN QUỲNH

Cần Thơ, Tháng 5/2011
1


ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích yêu cầu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:

2.2.1.5. Tình cảm bạn bè
2.2.1.6. Tình yêu đôi lứa
2.2.2. Làng quê Việt Nam trong thơ Nguyễn Bính luôn gắn bó với con
người
CHƯƠNG 3:
TÌNH YÊU LÀNG QUÊ LÀ MỘT ÂM HƯỞNG CHỦ ĐẠO TRONG THƠ
NGUYỄN BÍNH TẠO NÊN TÍNH DÂN TỘC ĐỘC ĐÁO
3.1. Làng quê Việt Nam là đề tài lớn trong thơ Nguyễn Bính
3.2. Cách thể hiện đề tài làng quê Việt Nam trong thơ Nguyễn Bính
3.2.1. Thể thơ
3.2.2. Hình ảnh
3.2.3. Ngôn ngữ
3.2.4. Giọng điệu
PHẦN KẾT LUẬN

3


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Thơ mới là trào lưu thi ca công khai phát triển rộng rãi trên văn đàn trong những
năm 1932 - 1945. Phong trào Thơ mới ra đời khi mà xã hội Việt Nam đã có nhiều
chuyển biến lớn về mọi mặt trong cuộc sống, bên cạnh những tên tuổi như: Xuân Diệu,
Huy Cận, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Hồ Dzếnh … Nguyễn Bính nổi
lên như một phong cách riêng độc đáo đem đến cho làng thơ Việt Nam những hương
vị mới. Thơ mới ra đời ít nhiều chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây thì Nguyễn
Bính lại mang vào phong trào Thơ mới một phong vị mộc mạc, chân quê, một lối ví
von đậm đà màu sắc ca dao, dân dã độc đáo.
Nhắc đến Nguyễn Bính thì đa số người đọc đều nghĩ ngay đến nhà thơ của cuộc
sống làng quê. Thật đơn giản vì thơ Nguyễn Bính thể hiện những điều rất gần gũi, thân

Hoài Thanh còn viết: “Tôi muốn nói Nguyễn Bính vẫn còn giữ được bản chất nhà quê
nhiều lắm. Và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta.
Ta bỗng thấy vườn cau, bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta và những tính tình đơn
giản của dân quê là những tính tình căn bản của ta. Giá Nguyễn Bính sinh ra thời
trước, tôi chắc người đã làm những câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm và
những tác phẩm của người, bây giờ đã có vô số những nhà thông thái nghiên
cứu”.[23;Tr.371] Hoài Thanh đã đề cập đến “chất quê” trong thơ Nguyễn Bính. “Chất
quê” ấy được thể hiện qua những cảnh vật của làng quê. Hình ảnh của một thôn quê
hiện lên rất mực gần gũi, thân thương, hiền hòa. Đọc thơ Nguyễn Bính ta không chỉ
hình dung ra một làng quê với bao cảnh mộc mạc, giản dị, mà ta còn cảm nhận được
biết bao hương vị của quê hương.
Cùng với nhận xét của Hoài Thanh thì Đoàn Thị Đặng Hương trong quyển “Nhìn
lại một cuộc cách mạng trong thi ca” đã có nhận xét khá cụ thể hơn: “Những “dậu
mùng tơi”, “giăng sáng”, “vườn chè”, “trống chèo”, “hoa xoan”, “hoa bưởi”, “ hoa
cam”, “cánh buồm nâu”, “vườn dâu”, “vườn cam” … tất cả đã đi vào thơ Nguyễn
Bính một cách trữ tình, duyên dáng của ca dao. Chắc chắn ở thế kỉ này chưa có nhà
thơ nào dám dùng mã hiện thực như: ao bèo, con lợn, giàn giầu không, giếng thơi…
để mà diễn tả nỗi buồn, nỗi mất mát của tình quê, trong tâm hồn con người Việt Nam
hiện đại” [5;Tr.33]. Qua hàng loạt hình ảnh, sự vật, hiện tượng, được biểu hiện ta có
thể nhận thấy chiều sâu tình cảm của Nguyễn Bính đã gởi gắm vào trong thơ ông, mỗi
một hình ảnh của làng quê mà Nguyễn Bính khắc họa là bấy nhiêu cung bậc tình cảm
được biểu hiện tạo nên thơ Nguyễn Bính luôn mang đậm nét “chân quê”.
Với nét “chân quê” trong thơ Nguyễn Bính, tuyển tập 40 năm Tạp chí Văn học
đã nhấn mạnh: “Nói Nguyễn Bính “chân quê” là để khu biệt ông với các nhà thơ khác.
Quả thật dày đặc trong thơ Nguyễn Bính những yếu tố quen thuộc để làm “xuất lộ hồn
5


quê”: con sông, bờ giậu, thôi đê, đám hát, hội làng … Ngay cả khi Nguyễn Bính viết
về phố xá thì dường như ở đây vẫn có một làng quê giữa lòng thành thị”.[25;Tr.375]

6


giản dị không khỏi làm người ta xúc động đến nỗi nao lòng”.[19;Tr.15] Điều mà ta
cảm nhận được trong thơ Nguyễn Bính không chỉ đơn giản là tình cảm của tác giả đối
với quê hương qua những cảnh vật, những nét “chân quê” mà còn là tình cảm của ông
trong sự thông cảm những nỗi buồn, nỗi đau của người dân quê.
Cảm nhận thơ Nguyễn Bính, Hà Minh Đức trong quyển “Nhìn lại cuộc cách
mạng trong thi ca” đã dành khá nhiều trang viết để nhận định về hình ảnh quê hương,
cảnh vật và con người trong thơ Nguyễn Bính. Qua tìm hiểu, ông có nhận xét:
“Nguyễn Bính có những chất liệu thi ca riêng, Nguyễn Bính đã tạo nên khuôn mặt
làng quê của riêng mình”.[5;Tr.186] Vì “thơ Nguyễn Bính không có nhiều những bức
tranh quê cụ thể như Anh Thơ, hoặc tỉ mỉ với cảnh, với người như Đoàn Văn Cừ
nhưng lại khơi gợi thế giới nội tâm ở tình đời, tình người”.[5;Tr.188] Hay ông cũng đã
khẳng định chính nét “chân quê” trong thơ Nguyễn Bính cũng tạo nên vẻ đẹp trong
thơ ông: “Cái đẹp trong thơ Nguyễn Bính nghiêng về cái đẹp truyền thống, đậm đà
chất dân dã, đồng quê “hương đồng gió nội”: bầu trời xanh trong, nắng hoe vàng,
hoa nở và ngào ngạt hương bay, cánh bướm trắng, rồi những cô gái với thắt lưng
xanh, yếm thắm, má ửng hồng, …”.[5;Tr.108] Đó là vẻ đẹp bình dị, sáng trong và dân
dã của đồng quê, vừa chân thực, vừa lãng mạn. Ông không dừng sự cảm nhận của
mình ở nét “chân quê” mà từ nét “chân quê” để nhận diện ra “tình quê” trong thơ
Nguyễn Bính.
Lại Nguyên Ân trong bài viết: “Sự có mặt của Nguyễn Bính” ông có nhận xét:
“Nhưng có phải cái giọng quê, lời quê, tình quê ấy ở Nguyễn Bính cứ nhạt dần theo
năm tháng tha hương? Có thể có chuyện nhạt dần, nhưng do tha hương thì chưa chắc.
Có lẽ, chính trong cảnh tha hương, Nguyễn Bính mới cất lên tiếng hát tình quê thiết
tha làm mê đắm lòng người đến vậy. Giữa chốn thị thành, giữa chốn quê người,
Nguyễn Bính đem lời quê ra kể chuyện quê, ai mà chẳng có một quê, và người ta lắng
nghe”.[1;Tr.99] Hay Vũ Quần Phương trong bài viết “Đóng góp của thơ Nguyễn
Bính” ông cũng có lời nhận xét: “Đọc thơ Nguyễn Bính, vì vậy chúng ta được nhập


3. Mục đích yêu cầu:
Với đề tài này, mục đích đầu tiên mà người viết hướng tới đó là có thể khám phá,
đánh giá và làm sáng tỏ được nét nổi bật, độc đáo trong thơ Nguyễn Bính. Hay nói
cách khác là tìm hiểu về một khía cạnh cụ thể, tìm hiểu “Tình yêu làng quê Việt Nam
trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám 1945”. Và từ đây có thể cảm
nhận trọn vẹn hơn, sâu sắc hơn hình ảnh đất nước và con người Việt Nam đồng thời
cũng để hiểu thêm thái độ, tâm tư, tình cảm của dân tộc Việt Nam.
Mặt khác, nghiên cứu đề tài này còn giúp người viết vun bồi kiến thức cho bản
thân và làm hành trang cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy sau này.

8


4. Phạm vi đề tài:
Đây là đề tài nghiên cứu “Tình yêu làng quê Việt Nam trong thơ Nguyễn Bính
trước Cách mạng tháng Tám 1945”. Do vậy, phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung ở
phần “tình yêu làng quê” và đi sâu nghiên cứu một số tác phẩm của Nguyễn Bính
trước Cách mạng tháng Tám 1945. Cụ thể ở những nguồn tư liệu tập trung vào các tập
thơ: Lỡ bước sang ngang, Tâm hồn tôi, Hương cố nhân, Người con gái lầu hoa, Mười
hai bến nước, Một nghìn cửa sổ, Mây tần, Đêm sao sáng, Bức thư nhà. Để luận văn
hoàn chỉnh và phong phú hơn về nội dung, người viết còn đi vào nghiên cứu một số tài
liệu có liên quan đến Nguyễn Bính để làm nổi bật “Tình yêu làng quê Việt Nam trong
thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám 1945”. Tình yêu làng quê ấy được thể
hiện trong tình cảm của ông đối với hình ảnh làng quê và con người làng quê.

5. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này người viết cần phải kết hợp rất nhiều thao tác khác nhau.
Trước tiên người viết đã tập hợp và chọn lọc những tài liệu có liên quan đến đề tài này.
Bên cạnh đó, phải chọn lọc một số tác phẩm tiêu biểu nhất trong các tập thơ để phân

Hỏi ai gầy dựng nên non nước này?”
Bài ca dao trên ca ngợi nhiều hơn tả và chỉ tả bằng cách nhắc đến các địa danh:
cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn, đài Nghiên, Tháp Bút,... những cảnh trí tiêu biểu nhất của
Hồ Hoàn Kiếm. Cảnh phong phú đa dạng gợi vẻ đẹp thơ mộng, thiêng liêng, gợi tình
yêu, niềm tự hào của quê hương, đất nước, con người với những tình cảm chân thành,
thiết tha, sâu lắng, nồng nàn. Câu cuối “Hỏi ai gầy dựng nên non nước này?” câu hỏi
tự nhiên như lời nhắn nhủ, tâm tình làm xúc động người đọc, người nghe. “Rủ nhau”
là một môtíp thường gặp trong ca dao. Thể hiện tình yêu thương, đoàn kết và gắn bó
giữa con người với nhau. “Rủ nhau xuống bể mò cua…, Rủ nhau đi cấy đi cày….”
Ngoại thành Hà Nội xưa đẹp vì có Hồ Gươm trong xanh, còn đẹp hơn vì có
những cảnh thơ mộng, dịu dàng:
10


“Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”
Đây là một bài ca dao tả cảnh, rất thực. Vào sáng sớm cảnh vật phủ mờ sương
khói. Làng mạc, cỏ cây “mịt mờ” trong “ngàn sương” và “khói tỏa”. Sương phủ
trắng bao la; mênh mông và mịt mù; huyền ảo và thơ mộng. Cảnh vật Hồ Tây được
miêu tả tuyệt đẹp: hình ảnh, màu sắc, đường nét, âm thanh hài hòa, sống động. Những
khóm trúc ven hồ, cành lá um tùm rậm rạp, đeo nặng sương mai “la đà” sát mặt nước,
sát mặt đất, rung rinh, đu đưa trước làng gió nhẹ. Từ láy tượng hình “la đà” – một nét
vẽ thoáng và gợi cảm, đầy ấn tượng. Hình ảnh cây tre, cây trúc rất gần gũi, thân thuộc
với con người Việt Nam. Tre, trúc là cảnh sắc của làng quê thể hiện sự gần gũi, gắn bó
giữa con người và cảnh vật. Sau khi tả cành trúc, tác giả dân gian nói về âm thanh gần,
xa: tiếng chuông, canh gà. Chính tiếng chuông ngân lên trong sương sớm như ru hồn
con người hòa vào mộng ảo của cảnh vật, để ta thêm yêu quê hương; tiếng gà sang
canh lại làm ta tỉnh mộng, song lại trở về nhịp sống đời thường, dân dã. Tiếng gà gáy,

làm dưa cũng đã giữ trong lòng người dân niềm lưu luyến đối với làng xóm. Những
món ăn ấy không phải là sơn hào hải vị mà chỉ là món ăn rất đời thường, dân dã. Vậy
mà, khi đi xa điều mà anh nhớ trước tiên về quê nhà lại là: “canh rau muống, cà dầm
tương”. Hình ảnh “dãi nắng dầm sương” nghĩa là người dân lao động cực nhọc vất
vả. Bài ca dao trên, đọc qua ta nghe âm điệu dung dị, hòa nhã mà cũng không kém sâu
sắc, ta cảm thấy nao nao như đồng cảm với người ra đi, nỗi nhớ ấy như in hằn trong
tâm trí, nỗi nhớ gắn liền với sự thương cảm, tình yêu thương.
Tình cảm gắn bó với quê hương đất nước ấy đã được thể hiện qua những món ăn,
bằng lời ru của bà, của mẹ:
“Mẹ ơi rau đắng cá đồng,
Bát canh mẹ nấu ấm hoài lòng con”
“Tình yêu quê hương đất nước còn là sự thương nhớ thèm thuồng món ăn mà do
mẹ cho mình ăn lúc mình nhỏ tuổi” [6;Tr.556]. Chỉ có canh rau đắng, cá đồng thôi mà
sẽ là hành trang con mang theo suốt cuộc đời. Câu ca dao ấy là nỗi nhớ về món ăn đặc
sản của miền quê và cũng là tình cảm người con đối với công lao của cha mẹ.
Tình yêu quê hương còn gắn liền với những sản vật cảnh đẹp của quê hương
được thể hiện qua lời nói đầy tự hào của nhân dân. Đó là những món ăn hết sức bình
dị, dân dã và mang màu sắc địa phương:
“Nhật Tân đào nở tưng bừng,
Làng Quảng bánh mật, bánh chưng giãi đầy,
Tây Hồ xách bị cả ngày,
12


Nghi Tàm chặt rễ được ngay quan tiền.
Yên phụ buôn trán dưới thuyền,
Xuống đò phố mới bán than quạt trà.
Làng Võng bán lợn bán gà,
Làng Thụy nấu rượu la cà cả đêm”.
“Bánh mật, bánh chưng” của làng Quảng “rượu” của làng Thụy là những thứ


14


“Có nơi nào đẹp tuyệt vời
Như sông như núi, như người Việt Nam”
Niềm tự hào về non sông đất nước Việt Nam tươi đẹp đã đi vào thơ ca không chỉ
ở vẻ đẹp của vườn cây trĩu quả, đồng ruộng xanh ngào ngạt mà còn là vẻ đẹp của
những địa danh gắn liền với những cuộc chiến tranh của dân tộc chống giặc ngoại
xâm. Những địa danh ấy qua thời gian vẫn còn tồn tại để rồi mỗi lần nhắc đến những
tên gọi ấy con người Việt Nam lại tự hào về quá khứ hào hùng của dân tộc.
Tình cảm của người dân phong phú: Tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia
đình, tình yêu lứa đôi,…của người dân tất cả được đưa vào ca dao phản ánh một cách
linh hoạt bằng những từ ngữ, hình ảnh dân dã đồng quê. Tuy không có giá trị thẩm mĩ
cao nhưng thể hiện được sự gần gũi trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân.

1.2. Trong thơ ca trung đại
Cũng giống như văn học dân gian, văn học trung đại cũng đầy ắp những hình ảnh
tươi đẹp về quê hương đất nước. Văn học dân gian có tác dụng khơi nguồn để văn học
trung đại hoàn thiện hơn. Tuy nhiên ở mỗi thời kỳ hình ảnh làng quê được thể hiện với
những sắc thái khác nhau.
Tác giả phải kể đến đầu tiên đó là Nguyễn Trãi, ông là một tác gia lớn trong nền
văn học trung đại nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung. Thơ văn của ông cũng
có một phần nói về hình ảnh làng quê. Đối với Nguyễn Trãi quê hương chính là nơi
xuất phát những tình cảm cao đẹp. Thơ ông nói rất nhiều về quê hương đất nước bằng
một tình cảm thiết tha sâu lắng. Đó là những hồi ức đẹp của thời thơ ấu:
“Quê cũ nhà ta thiếu của nào
Rau trong nội, cá trong ao”
(Ngôn chí 13)
Nhắc đến Nguyễn Trãi chúng ta như bị ám ảnh bởi cái hay của áng “thiên cổ

Dân giàu đủ khắp đòi phương”.
(Bảo kính cảnh giới 43)

Không những thế mà tình cảm thân thiết của tác giả đối với quê cũ, ngày trở về ở
ẩn ông không hề thấy xa lạ trước cuộc sống bình thường, nghèo khó mà trái lại ông vui
sướng và rất yêu quê hương mình. Phong cảnh làng quê mộc mạc của những năm ở ẩn
ở Côn Sơn đã đi vào thơ Nguyễn Trãi một cách bình dị, thơ mộng, đầy sắc màu. Bức
tranh đó đã diễn tả khá đầy đủ cảnh vật, con người, cuộc sống nơi làng quê thanh bần
mà ông đã từng sống. Thông qua đó ông bày tỏ tình cảm thiết tha nồng nàn với quê
hương đất nước, nơi đã gắn bó thân thiết với ông vào những ngày cuối đời:
“Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai
Côn Sơn có đá rêu phơi
Ta ngồi trên đá như ngồi nệm êm”
(Côn Sơn ca)
16


Những năm sống ẩn dật ở Côn Sơn là những năm tháng thanh bần nhất trong
cuộc đời Nguyễn Trãi. Cảnh vật thiên nhiên nơi làng quê đối với nhà thơ như: thầy trò,
bạn bè, con cái. Ông như say sưa trong vòng tay dịu hiền của thiên nhiên cảnh vật:
“Láng giềng một áng mây bạc
Khách khứa hai hàng núi xanh
……………………………….
Cò nằm, hạc lặn trên bầy bạn
Ấp ủ cùng ta làm cái con”
(Ngôn chí 20)
Hình ảnh áng mây, dãy núi, con cò, con hạc đều là hình ảnh quen thuộc ở làng
quê Côn Sơn, ngày nào cũng được nhìn thấy nó, ngắm nghía nó nhưng đối với Nguyễn
Trãi chúng là những người bạn láng giềng thân thiết nhất luôn quấn quýt, vui đùa cùng

Hình ảnh làng quê trong thơ Nguyễn Trãi tuy bình dị, giản đơn nhưng thơ mộng,
phóng khoáng, thoát tục, ẩn chứa một nhân cách cao đẹp, một tâm hồn rộng mở với
đời, với tạo vật.
Nguyễn Trãi đã có cảm xúc thật mãnh liệt trước những hình tượng thiên nhiên
nguyên sơ của tạo vật như ánh sáng tà dương hay bầu trời, mặt nước.
“Tà dương bóng ngủ thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu”
(Ngôn chí 13)
“Trời nghi ngút nước mênh mông
Hai ấy cũng xem một thức cùng”
(Nước trời một sắc)
Hình ảnh bầu trời mặt nước hay bóng tà dương ấy là cảnh vật quen thuộc của
làng quê. Cảnh đó nơi đâu cũng có nhưng chỉ ở làng quê vẻ đẹp nó mới hiện lên rõ
nhất.
Đến thơ Nguyễn Đình Chiểu, hình ảnh quê hương trong thơ ông không phải là
cuộc sống bình dị, thanh bình vốn có của chốn làng quê mà quê hương trong thơ ông
là hình ảnh cả một vùng sông nước bỗng mịt mờ khói lửa, câu thơ mang sức nặng của
bối cảnh không gian và thời gian của quê hương Việt Nam thời Pháp thuộc:
“Tan chợ vừa nghe tiếng súng tây,
Một bàn cờ thế phút sa tay,
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy.
Mất tổ đàn chim giáo giác bay,
Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”.
(Chạy giặc)
18


Vẽ lên khung cảnh quê hương vang dậy tiếng súng giặc, nhà thơ cảm nhận nỗi
đau của quê hương mình. Nhà thơ đau đớn khi nhìn thấy từng mảnh đất quê hương lần



“Thánh thoát tàu tiêu máy hạt mưa
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ
Xanh om cổ thụ tròn xoe tán
Trắng xóa tràng giang phẳng lặng lờ”.
(Tức cảnh chiều thu)
Miêu tả bức tranh quê thì không thể nào bỏ qua Nguyễn Khuyến. Bức tranh làng
quê trong thơ Nguyễn Khuyến hết sức sinh động phong phú nhưng chân chất bình dị
gắn liền với cuộc sống con người cũng như cảnh vật thiên nhiên nông thôn Việt Nam.
Làng quê trong thơ Nguyễn Khuyến có cảnh núi non, chùa chiền hiện lên một cách
hoang vắng nhưng nên thơ:
“Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá
Sư cụ nằm chung với khói mây
Dặm thế ngõ đâu tầng trúc ấy
Thuyền ai khách đợi bến đâu đây
Chuông chùa văng vẳng tiếng người không biết
Trâu thả sườn non ngủ gốc cây”.
(Nhớ cảnh chùa đọi)
Bức tranh nông thôn trong thơ Nguyên Khuyến còn có phiên chợ ngày tết của
năm đói kém cơ cực. Một cái tết buồn bã, đìu hiu của một miền quê nghèo:
“Tháng chạp hai mươi bốn chợ đồng
Năm nay họp chợ có đông không?
Dở trời mưa bụi còn hơi rét
Nếm rượu Tường Đình được mấy ông?”
(Chợ đồng)
Bên cạnh những cảnh cơ cực, lo toan, bức tranh làng quê trong thơ Nguyễn
Khuyến còn có cái vui ríu rít trong những ngày giáp tết được mùa, mọi người nhộn
nhịp quây quần bên nồi bánh chưng đón tết:
“Trong nhà rộn rịp gói bánh chưng

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào,
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”.
(Thu vịnh)
Theo nhận xét của Xuân Diệu thì trong ba bài thơ mùa thu của Nguyễn Khuyến,
bài thơ “Thu vịnh” mang cái hồn của cảnh vật mùa thu hơn cả, cái thanh, cái trong, cái
nhẹ, cái cao. Bức tranh mùa thu với màu sắc thanh đạm, đường nét uyển chuyển,
21


không gian cao rộng, cảnh vật huyền ảo dưới ánh nắng trong, thể hiện nỗi lòng tha
thiết của nhà thơ đối với quê hương đất nước. Nhân vẻ đẹp của đêm thu, nhà thơ cũng
bộc bạch tâm sự sâu kín, chân thật của mình hết sức cảm động.
“Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Da trời ai nhuộm màu xanh ngất?
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
Rượu tiếng gần hay, hay chả mấy,
Độ năm ba chén đã say nhòe”.
(Thu ẩm)
Thiên nhiên mùa thu của quê hương làng cảnh Việt Nam, dưới ngòi bút tài hoa
của Nguyễn Khuyến đẹp một cách thanh cao, gợi cảm, hồn hậu, khiến chúng ta càng
thêm yêu, thêm quí quê hương đất nước của mình. Ba bài thơ là ba bức tranh thu hết
sức tiêu biểu cho phong cảnh làng quê Việt Nam. Không yêu quí quê hương mình,
không đặt cả tâm hồn vào cảnh vật, không thể vẽ nên được những bức tranh chân thật
và thú vị đến thế.
Nếu trong ba bài thơ thu, nhà thơ cảm nhận vẻ đẹp mùa thu chủ yếu bằng ấn

“Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”.
(Sông lấp)
Sông Vị Hoàng, con sông quê hương của nhà thơ nay không còn nữa, thế nhưng
trong lòng nhà thơ luôn dâng trào một nỗi xót xa, nuối tiếc trước sự đổi thay của dòng
sông quê hương, mới ngày nào còn chảy hiền hòa soi bóng những hàng cây xung
quanh bây giờ đã bị lấp phẳng lì không còn chút dấu vết cũ bởi “chổ làm nhà cửa chỗ
trồng ngô khoai”. Sông lấp đã vượt ra ngoài đề tài hiện thực để trở thành tiếng nói trữ
tình sâu lắng, tiếng nói của một tấm lòng da diết với quê hương, với thời đại.
Làng quê trong thơ ca trung đại được các thi nhân thể hiện trong thơ của mình đó
là vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên, của miền thôn dã, vẽ đẹp của những địa danh quê
hương gắn với những chiến công hiển hách của dân tộc chống kẻ thù, hay nỗi nhớ quê
hương sâu nặng của các nhà thơ khi xa quê hương,… từ đó khơi dậy niềm tự hào về
quê hương đất nước.

1.3. Trong thơ ca hiện đại
Viết về làng quê, cũng như các thi nhân thời trung đại cũng thường viết về bức
tranh làng quê Viêt Nam với đủ hình ảnh, màu sắc sinh động. Quê hương trong thơ

23


Anh Thơ cũng gần gũi, quen thuộc đó là một chiều xuân mưa bụi êm đềm, bến sông
vắng, con đò, quán nước, hoa xoan tím, đàn cò bay:
“Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng
Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi
Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời”.

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.
(Tràng giang)
Làng quê Việt Nam với những nét bình dị đã lôi cuốn hấp dẫn tâm hồn của biết
bao thế hệ. Tuy Hàn Mặc Tử điên loạn, đau đớn vật vã với mối tình đơn phương và
căn bệnh hiểm nghèo, nhưng nhà thơ vẫn dành những tình cảm tha thiết để viết nên
những trang thơ đặc sắc về làng quê, đặc biệt ở hai bài “Đây thôn Vĩ Dạ” và “Mùa
xuân chín” làng quê hiện lên một cách thơ mộng với nét đẹp duyên dáng của thôn Vĩ
Dạ với những hàng cau thẳng tắp, xanh như ngọc:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”
(Đây thôn Vĩ Dạ)
Làng quê là bức tranh mùa xuân chứa chan niềm vui của sự sống, thiên nhiên
tươi tốt, con người vui tươi trong không khí hội hè của tình yêu đôi lứa:
“Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi”
(Mùa xuân chín)
Cùng viết về quê hương Bàng Bá Lân lại có cái nhìn sâu sắc hơn về cuộc sống
của con người làng quê Việt Nam thời bấy giờ.
“Chiều hôm đón mát cổng làng,
Gió hiu hiu đẩy mây vàng êm trôi.
Đồng quê vờn lượn chân trời,
Đường quê quanh quất bao người về thôn.
Sáng hồng lơ lửng mây son,
Mặt trời thức giấc, véo von chim chào…”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status