TIỂU LUẬN
CHUYÊN ĐỀ:
THƠ XUÂN DIỆU VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM THI
PHÁP THƠ LÃNG MẠN VIỆT NAM 1932-1945
ĐỀ TÀI
ĐẶC ĐIỂM KHÔNG GIAN THƠ XUÂN DIỆU TRƯỚC CÁCH
MẠNG THÁNG TÁM 1945
Học viên : Kiều Thị Loan
Lớp :Cao học K56
Nhóm : 4
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC
MỞ ĐẦU
Xuân Diệu là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất, nổi bật nhất của
phong trào thơ mới 1932 - 1945. Thơ Xuân Diệu đắm say, rạo rực một tình yêu mãnh
liệt, yêu con người, yêu cuộc đời, yêu trần thế… Với cá tính độc đáo và mạnh mẽ,
Xuân Diệu đã đem đến góp vào cho thơ Mới một phong cách nghệ thuật thật tiêu
biểu, thật nổi bật và cũng thật riêng tư, thật khác biệt. Thơ ông là cả một thế giới nghệ
thuật rộn ràng thanh sắc, say đắm tình đời. Không gian nghệ thuật là một bộ phận,
một yếu tố hợp thành, là diện mạo của cái thế giới nghệ thuật đó.
Thời gian và không gian đều là những thuộc tính phổ biến, những điều kiện tất
yếu, những hình thức tồn tại của thế giới. Cùng tương tự như vậy, trong nghệ thuật,
thời gian và không gian nghệ thuật là hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật.
Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật chịu tác động có ý nghĩa quyết định
của quan niệm về thế giới và con người của nhà văn và phong cách sáng tạo của nhà
văn. Đồng thời, chúng phản ánh, bộc lộ, thể hiện các đặc trưng của chính cái phong
cách đó. Tìm hiểu thời gian và không gian nghệ thuật giúp ta hiểu sâu sắc hơn, từ
những góc độ đặc biệt, cá tính của nhà văn và những đặc sắc của thế giới nghệ thuật
mà nhà văn đã sáng tạo nên. Không gian trong thơ được cảm nhận qua con mắt tinh tế
và tâm hồn nhạy cảm, sâu sắc của người nghệ sĩ. Những không gian nghệ thuật tô
hiện một cách tích cực hoặc hạn chế những nét tính cách của con người. Ví dụ như
trong một không gian thoải mái, tự do con người được vùng vẫy với chính mình, ở đó
họ cũng bộc lộ con người thật của mình, cũng như những suy nghĩ, ước mơ hay khát
vọng của bản thân. Ngược lại, nếu không gian chi phối họ thì phần nào đó họ phải
thay đổi cách sống cho phù hợp, phải điều chính những suy nghĩ cá nhân để thích
nghi. Ngôn ngữ không gian nghệ thuật rất đa dạng và nhiều phạm trù: cao - thấp, xa -
gần, trên - dưới tuỳ thuộc vào ý đồ của tác giả song mục đích chính là, sử dụng để
biểu hiện các phạm vi giá trị phẩm chất của đời sống xã hội, trong đó con người là
tâm điểm.
Không gian nghệ thuật cũng như thời gian nghệ thuật là một trong những yếu
tố quan trọng của thế giới nghệ thuật.Nó vừa là hình thức tồn tại của hình tượng, vừa
là một lĩnh vực quan trọng thể hiện đặc điểm tư duy nghệ thuật và khả năng chiếm
lĩnh thế giới của văn học. Không gian trong thơ được cảm nhận qua con mắt tinh tế và
tâm hồn nhạy cảm, sâu sắc của người nghệ sĩ. Những không gian nghệ thuật tô điểm
cho thơ vẻ đẹp từ điểm nhìn thẩm mỹ của thi nhân. Nhà thơ Sóng Hồng đã từng nhận
xét: "Thơ có khả năng bao quát sâu rộng không gian và thời gian mà nhiều nghệ thuật
khác không có Thơ là nghệ thuật kỳ diệu của trí tưởng tượng". Như vậy không thể
tách hình tượng ra khỏi không gian mà nó tồn tại. Mặt khác đó là phương tiện để tác
giả xây dựng thế giới nghệ thuật của mình. Khám phá thế giới nghệ thuật thơ không
thể không khai thác không gian nghệ thuật ở phương diện nội dung và hình thức nghệ
thuật của nó. Nó là mấu chốt quan trong giúp người đọc hình dung được người nghệ
sĩ đang đứng điểm nhìn nào để đánh giá sự việc. Xét cho cùng nếu không có không
gian nghệ thuật thì văn cũng như thơ mất đi một hình thức quan trọng khi xây dựng
thế giới nghệ thuật.
II. KHÔNG GIAN TRONG THƠ XUÂN DIỆU
1. Thơ Xuân Diệu - một không gian trần thế xinh đẹp đầy sức sống và vô
cùng quyến rũ.
Xuân Diệu là nhà thơ của lòng yêu đời và niềm say mê ân ái. Nếu thời gian
trong thơ ông nghiêng về trục hiện tại với ý thức của nhân vật trữ tình là được tồn tại,
được sống, được yêu và nếm trải thì không gian trong thơ ông tất yếu phải là một
Đã ôm đời vào ngực để mơn ru
Thu biếc tỏ hè nâu, thơm vị quế
Xuân như đàn, đông cũng quyện đường tơ
(Tình mai sau)
1.2. Không gian nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu tràn ngập âm sắc quyến rũ
của trần gian, phản chiếu một cách sinh động nỗi đam mê lớn lao đối với cuộc đời và
khát vọng sống mãnh liệt của thi sĩ.
Một trong những không gian tiêu biểu của thơ Xuân Diệu là không gian vườn.
Vườn ở đây cớ thể là một không gian trừu tượng của trần thế, đối lập với cõi âm tăm
tối, cũng có thể là không gian tượng trưng không gian tâm hồ của nhân vật trữ tình.
Thơ Xuân Diệu là "vườn mơn trớn", ca ngợi tình yêu bằng muôn sắc điệu, âm thanh
và hương vị nhưng nhiều hơn cả lại là những khu vườn thiên nhiên cụ thể. Nó không
giống vườn địa đàng của Huy Cận vắng bóng người mà những khu vườn tự nhiên ấy
lại được miêu tả với những hình ảnh ngập tràn hoa lá, cỏ cây, chim chóc và hòa hợp
với con người.
Của ong bướm này đây tuần tháng mật,
Này đây hoa của đồng nội xanh rì,
Này đây lá của cành tơ phơ phất,
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.
(Vội vàng)
Có khi không gian vườn ấy lại được mô tả lung linh dưới ánh nắng lunh linh
rực rỡ với “Tóc liễu buông xanh quá mỹ miều – Bên màu hoa mới thắm như kêu”;
“Son sẻ trời như mười sáu tuổi – Má hồng phơn phớt mắt long lanh”. Và hàng loạt
các hình ảnh rực rỡ dưới cái nắng nơi khu vườn trần thế ấy được phát sáng càng khơi
dậy ở nhà thơ khát vọng sống và khát vọng tận hưởng cho no nê, cho đã đầy thỏa cơn
khát thèm.
Nhưng cũng vẫn khu vườn ấy khi đêm về, nó lại được tắm mình dưới ánh
trăng tạo nên một không gian ghép vườn – trăng độc đáo
Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá
(Với bàn tay ấy)
Xuân Diệu cũng đặc biêt chú ý tới gió khi mô tả không gian đêm với gió du
dương, gió đượm buồn, gió đào thỏ thẻ Có lúc gió như một sợi dây nối liền bầu trời -
mặt đất, nhiều khi gió hiện lên như một trang phong lưu trong câu chuyện sự tích về
các loài hoa để cả khu vườn trở thành nơi tình tự, “trăng gió” của các loài hoa trong
khu vườn ấy
Gió canh khuya hay nghìn ngón tay ôm
Trăng mối lái phủ màng tơ mơ mộng
Không gian trong thơ Xuân Diệu từ “vườn” tới “vườn trăng” và “ gió” và
“trăng”, từ không gian cụ thể, xác định, tới không gian trừu tượng. Nhà thơ cất cánh
nàng thơ phiêu du theo gió tranưng với bầu trời nhưng rồi điểm dừng an toàn của hồn
thơ ấy vẫn quay trở về với chốn “vườn trần” như một nơi trú ngụ an toàn
Gió nọ mà baylên lên nguyệt kia,
Thêm đêm sương lạnh xuống đầm đìạ
Ngẩng đầu ngắm mãi chưa xong nhớ,
Hoa bưởi thơm rồi : đêm đã khuya.
(Buồn trăng)
1.3. Không gian nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu là một không gian " vừa tầm
tay với của con người". Trong cái không gian ấy, tất cả đều đáng yêu, tươi tắn, gần
gũi và thân thiện. Đó là một không gian cho con người.
Cùng với không gian “vườn” thì trong thơ Xuân Diệu còn có không gian của
“con đường” là một trong những sự hóa thân của không gian trần thế chứa đựng nhiều
ẩn ý. Con đường trước hết phải là một không gian cụ thể, nhưng đồng thời đó cũng
mang nghĩa của con đường đời hay con đường tình. Con đường ấy lúc đông, lúc vắng,
lúc lại tấp nập, vui vẻ, huyên náo, khi lại vắng lặng thưa thớt.
Khi vui thì con đường đó trở thành không gian đám đông, mang tâm trang vui
vầy và giữa dòng đời hối hả
Tôi dạo thanh bình giữa phố đông
Một luồng ánh sángxô qua mặt
Thắm cả đường đi, rực cả đời
nhân.
2.Thơ Xuân Diệu - một không gian tình ái
Thơ Xuân Diệu nổi bật với cái tôi trữ tình khát khao giao cảm với đời. Có lẽ
vì thế mà cái tôi trữ tình ấy luôn gắn với không gian là nơi đón nhận và giao cảm với
tình yêu, với thiên nhiên vạn vật và với cuộc sống của “nhà, căn phòng” hay là
“quán”. “Đây là quán tha hồ muôn khách đến”.
Trong không gian của căn phòng, nhà thường xuất hiện hình ảnh của nhân vật
trữ tình giữa không gian trống trải:
Buổi chiều ra cửa sổ
Bóng chụp cả trời tôi
Ôm mặt khóc rưng rức
Ra đi là hết rồi
(Viễn khách)
Đôi khi, xuất hiện nhân vật thứ hai và căn phòng ấy lập tức lại trở thành nơi
tình tự với những giận hờn, những âu yếm trong (Xa cách), những lời mời mọc ân ái
trong Lời kĩ nữ
Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa;
Vội vàng chi, trăng sáng quá, khách ơi.
Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời;
Khách không ở, lòng em cô độc quá.
Khách ngồi lại cùng em ! Đây gối lả,
Tay em đây mời khách ngả đầu say;
Đây rượu nồng. Và hồn của em đây,
Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử.
Có một điều tưởng chừng như một sự mâu thuẫn giữa độ ấm nóng của những
không gian trong thơ Xuân Diệu: không gian trần thế mênh mông, rộng lớn thì lại ấm
cũng còn không gian hẹp của cái tôi cá nhân thì lại thường lạnh lẽo vô cùng. Ta có thể
thấy điều đó qua hàng loạt các bài thơ: Tương tư chiều, Viễn khách, Riêng tây, Xa
cách Điều đó minh chứng cho nhận xét rằng Thơ mới càng đi sâu vào cái tôi cá
nhân thì càng thấy lạnh.
khúc nên về sau không gian sương trở thành nỗi vương vấn, sàu muộn. Đặc biệt ông
có riêng một bài thơ viết về sương. Cũng có thể thi nhân muốn từ thực trạng của thiên
nhiên để nói lên cái mù mịt của cuộc đời trần thế của con người
Những sao cũ chưa nắng bừng trở lại
Những đêm trăng đi mãi biết ngừng đâu?
Sương lan mờ và hồn tôi nghe đau
( Sương mờ)
Càng đến gần giờ chót của một ngày tàn. Xuân Diệu càng thấy lòng càng buốt
giá. Những câu thơ viết về sương lúc đêm khuya của ông thường rất lạnh:
“Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao khuê”
(Nguyệt Cầm)
Thực chất sự vay mượn không gian sương hay nắng từ thiên nhiên để bộc lộ
tâm trạng và biến nó thành những không gian riêng mang đặc trưng thi pháp, sự sáng
tạo của thi nhân đều phục vụ cho sự nổi bật của một tâm trạng đa chiều. Từ đó cho
thấy không gian thơ Xuân Diệu là một không gian của tình ái.
2. Không gian nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu bị ám ảnh bởi sự tàn phá
của thời gian và là không gian của cái tôi trữ tình.
Xuân Diệu thường mượn không gian mây, nước, thuyền những không gian
chuyển động nhưng bị gò bó theo khuôn triết lí, chịu sự ám ảnh của sự tàn phá của
thời gian.Có lúc không gian ấy được miêu tả là không gian thơ mộng của thiên nhiên,
những thực thể không gian vận động. “ Mây vẫn từng không chim bay đi”, “ Mây
biếc về dâu bay gấp gấp” chúng chịu sự chi phối, sự tàn phá của bước đi thời gian.
Có lúc chúng trở thành không gian trừu tượng, một không gian so sánh, ví von
kiểu”Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”. Thông qua không gian “nước” và
“thuyền” nhà thơ nói lên sự nhận thức rõ ràng nhịp điệu trôi chảy của thời gian.
Không - thời gian trong thế giới vũ trụ thì vĩnh cửu, còn thời gian đời người là hữu
hạn. Con người bất lực hoàn toàn trước sức mạnh của thời gian vũ trụ và luôn có nguy
cơ bị cuốn trôi hoặc bị nhấn chìm, bài: “thời gian” là tiêu biểu .
“Dưới thuyền nước trôi
cụ thể và ở đó cái tôi trữ tình thường được soi bóng giữa thời gian tuần hoàn một cách
cô đơn, lạc lõng, xa mờ
Núi tận chân trời đứng nghĩ xa.
Gió đều trang trải nguyệt bao la;
Êm êm núi biếc xinh như ngọc
Và cũng buồn như nỗi nhớ nhà.
- Lẫn với đời quay, tôi cứ đi,
Người ngoài không thấu giữa lòng si.
Cũng như xa quá nên ta chỉ
Thấy núi yên như một miếng bìa.
(Núi xa)
Cũng có lúc nó biến thành không gian của một “Vạn Lý trường thành” ngăn
chia hai vũ trụ của anh và em. Sự cô đơn của cái tôi, Xuân Diệu tạo thêm một không
gian phụ khác là “Hồn tôi - chiếc đảo” mà nhà thơ tự nhận “ Chiếc đảo hồn tôi rộn
bốn bề”.Rồi để chuyển tải ý tưởng cho một tình yêu Gửi hương cho gió, Xuân Diệu
gửi hồn mình vào không gian rừng
Biết bao hoa đẹp trong rừng thẳm
Đem gửi hương cho gió phụ phàng
Mất một đời thơm trong kẽ núi
Không người du tử đến nhằm hang
Cũng bởi cái tôi khát khao giao cảm với đời, ấp ủ nhiều ước vọng nên không
có gì lạ khi nhà thơ thể hiện trong thơ mình một không gian lớn của cái tôi cá nhân,
không gian khát vọng, ôm chứa những hành động của tâm hồn, được mở rộng cả ở
chiều rộng lẫn chiều ca.
Lòng rộng quá chẳng chịu khung nào hết
Chân tự do đạp phăng cả hàng rào
Ta mang hồn trèo lên những đỉnh cao
(Mênh mông)
Ta bá cổ những con rồng gió lớn
bước mới trong lĩnh vực thơ ca, thơ của ông với kiểu cấu trúc hiện đại, mới mẻ tạo
nên một sự đột phá trong phong trào thơ mới. Trong đó yếu tố không - thời gian trong
thơ Xuân Diệu đã để lại cho ta những ấn tượng sâu sắc về tấm lòng gắn bó, thiết tha
giao cảm với đời, hiểu thêm về một tấm lòng của chàng kỵ sĩ thơ Xuân Diệu.
Đến với Xuân Diệu ta sẽ thấy “Xuân Diệu là ngòi bút chiến đấu, không ngừng
chiến đấu, chiến đấu rất tích cực cả về chính trị và văn chương, cả về tiểu luận phê
bình và thơ ca.Bút lực của anh thật là mạnh mẽ, phong phú uyển chuyển dù không
phải lúc nào cũng chân xác. Nhưng các bạn đọc quý anh, trong anh nhà thơ có tài
năng đi từ thế giới cũ đến thế giới mới, đi từ sáng tạo này đến sáng tạo khác, tinh
thông văn học trong nước và thế giới, một người có công trong văn học mới. Một
người đáng bật thầy cho các thế hệ nhà thơ trẻ”.
Với hơn nửa thế kỷ hành trình sáng tạo, từ một nhà thơ lãng mạn trở thành
một nhà thơ cách mạng, Xuân Diệu đã để lại trong kho tàn văn học dân tộc một di sản
lớn. Ông có đóng góp lớn trong nhiều lĩnh vực và đều đặn ở nhiều thời điểm lịch sử
khác nhau (Trước CMT8: trong thời kỳ kháng chiến, sau hòa bình; thời kỳ đấu tranh
thống nhất sau ngày miền Nam giải phóng…). Thế nên vị trí của Xuân Diệu trên thi
đàn văn học dân tộc Việt Nam sẽ là không nhỏ.