Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận – Tràng giang mang nỗi buồn mênh mang, sâu lắng trong giọng thợ vừa cổ điển vừa lãng mạn rất tiêu biểu chõ hồn thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám. Hã - Pdf 31

Xuân Diệu đã tự ví mình và Huy Cận như Rim-bô và Véc-len: "Hai chàng thi sĩ
choáng hơi men – Say thơ xa lạ mê tình bạn – Khinh rẻ khuôn mòn bỏ lối quen!" –
"Say thơ xa lạ" – đó là thơ lãng mạn phương Tây của thế kỉ XIX. Tuy vậy, Huy Cận
còn là người rất thích thơ Đường và trân trọng vốn thơ ca dân tộc. Từ buổi thiếu
niên, tác giả đã thuộc lòng khá nhiều ca dao, thơ Đường, thơ Nguyễn Du,… Lẽ vậy
chăng, trong những câu thơ tuyệt đỉnh của Huy Cận có cả những vần thơ vừa cổ
điển vừa lãng mạn. Nét cổ điển và hiện đại đan cài vào nhau, kết hợp hài hòa với
nhau, trong thơ và trong con người thi sĩ Huy Cận – sự kết tinh của hai nền văn hóa
Đông và Tây nhưng lại giao nhau ở một tâm hồn nghệ sĩ đa cảm đa sầu. Lần đầu
tiên, Huy Cận mang tác phẩm "Lửa thiêng" bất ngờ theo Xuân Diệu bước chân vào
hội Tao đàn thì "trong thơ Việt Nam nghe bừng dậy một tiếng dịch buồn". Điệu buồn
ảo não ở Huy Cận đồ tự tìm đên một cám hứng riêng để kí thác cảm hứng vũ trụ.
Như Voltaire từng nói: "Thơ là âm nhạc của tâm hồn nhất là những tâm hồn cao cả,
đa cảm”. Và "Tràng giang" mang nỗi buồn mênh mang, sâu lắng trong giọng thơ
vừa cổ điển vừa lãng mạn, rất tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận trước cách mạng. Xuân
Diệu đã có nhận xét rất tinh tế: "bài thơ hầu như đã trở thành cổ điển của một nhà
thơ mới". Nét cổ điển được thể hiện ngay từ tiêu đề tác phẩm: "Tràng giang" –
"Tràng" là một âm khác "Trường" – có nghĩa là dài. Tuy nhiên, Huy Cận đã chọn
"Tràng giang" vì nó chẳng, những đã chứa trong mình cả "Tràng giang" mà nhờ âm
"ang" đã gồm cả nét nghĩa sông rộng, sông lớn, mớ ra một khoảng không gian bao
la vô tận vô cùng. Dường như cảnh càng bát ngát thì tình càng miên man, và Huy
Cận, bởi "quá cảm nghe với mênh mông thì giọng thơ của người cũng lấy cái sầu
của vũ trụ". Bài thơ mở ra bằng lời đề từ:
Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài.
Dường như đã gói trọn cảm hứng chủ đạo của tác phẩm. Đó là nồi niềm cảm nhận
sâu xa của cái tôi cô đơn trước cái vô cùng của trời đất. Trong nỗi niềm ấy, "Tràng
giang" đầy nỗi nhớ không gian, khao khát được giao cảm giữa con người với vũ trụ,
đồng thời muốn hòa nhập giữa cái tiểu ngã hữu hạn với cái đại ngàn vô hạn. Thơ
xưa các thi nhân tìm đến thiên nhiên vũ trụ luôn nhận mối đồng cảm tương giao.
Huy Cận cũng đến với vũ trụ. Thế nhưng khác xưa là, tác giả chỉ thấy thâm thía nỗi
buồn của cái tôi cô độc, với cảm giác “bâng khuâng" "dợn dợn" trước không gian

lên, tràng điệp phía chân trời. Huy Cận không viết: "đùn sóng bạc" – nghĩa là những
áng mây như muốn ngàn con sóng tung bọt trắng, mà viết "đùn núi bạc" khiến cho
không gian vũ trụ khổng chỉ hiện lên bao la, vô tận mà còn hùng vĩ nữa… thế
nhưng, cũng khác thơ xưa, cảnh vật mỗi lúc một bao la thì hồn người trong bài
"Tràng giang" càng thêm cô độc, lạc loài. Thi nhân vốn "sớm vương nỗi sầu thiên cổ
mang mang" hẳn không khỏi khát khao được giao cảm, tương thông với trời đất vô
cùng.
Nếu không gian vũ trụ qua “Tràng giang” hiện lên với tất cá vẻ đẹp bao la, kì vĩ
mênh mông thì đối lập với nó không gian của cõi nhân thế lại bé nhỏ, đơn côi lạc
loài:
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Đó là hình ảnh của con thuyền côi cút và cành khô lạc loài giữa sông nước mênh
mông. Vào những năm ba mươi, đây là những câu thơ mới mẻ, bởi nó xuất hiện cái
tầm thường, nhỏ nhoi vô nghỉa như "một cành củi khô". "Trong cảm thức xa vắng vẻ
không gian, đối với Huy Cận, con thuyền, cành khô chỉ gợi lên sự đơn lẻ thấm thía
nỗi buồn chia lìa lạc loài đang đón đợi. Thuyền "về" mà nước thì "lại" nghĩa là nghịch
chiều nhau. Tuy chỉ có hai hướng thôi nhưng lại tạo nên mối "sầu trăm ngả" và cành
cây chỉ còn là "củi một cành khô". Nếu nói như Huy-gô "ngôn ngừ cùng chi là một
sinh vật” thì ở đây sinh vật ấy đang bơ vơ, đau xót, bất lực vì nước xô đẩy: "Lạc mấy
dòng” nó hàm chứa cả cái gì đó côi cút, tan tác đến tội nghiệp. Với cách đặt từ
"một" ở giữa hai số từ "trăm" và "mấy" trong những câu thơ khiến hình ảnh cõi nhân
thế dường như càng nhỏ lại, bế tắc tột cùng. Tất cả như vây bủa lấy cảnh vật trong
sự lạc lõng, đơn côi. Nôi buồn đó càng như da diết mãi không thôi:
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Vài dải đất giữa sông dài, vài ngọn gió hiu hiu nhưng khống đủ làm sống động cảnh
vật và âm thanh của tiếng "làng xa vãn chợ chiều" thì mơ hồ, mong manh lắm
không làm bớt đi sự vắng lặng của cảnh. Bấy nhiêu hình ảnh dường như chỉ là


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status