Hình tượng tác giả - nhà thơ trong thơ Quang Dũng - Pdf 13

A.PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Văn học là nhân học”, tức văn học lấy con người làm mục đích và đối
tượng của mình. Trong văn học, con người hiện lên một cách cụ thể, sinh
động với tất cả những mối quan hệ của nó. Cũng chính con người với những
cảm xúc, tình cảm đã tạo nên sự kì diệu cho cuộc sống. Người nghệ sĩ trong
quá trình sáng tạo của mình luôn vươn tới cái đẹp, cái hoàn mĩ. Những tác
phẩm nghệ thuật chân chính luôn hướng hình tượng con người trong cõi
nhân gian.
Bằng tài năng, nhiệt huyết, trái tim giàu yêu thương của mình, nhà thơ
Quang Dũng đã để lại cho nền văn học Viêt Nam nói chung và giai đoạn văn
học chống Pháp nói riêng những tác phẩm giá trị.Ông sáng tác nhiều thể loại
nhưng thơ là thành công nhất. Đến với thơ Quang Dũng ta bắt gặp cái đẹp kì
diệu của tình yêu, của những khát khao và thương nhớ qua hình tượng nghệ
thuật về con người.
Là sinh viên, chúng tôi mang trong mình niềm đam mê tìm hiểu, khát
khao khám hình tượng con người trong văn chương nói chung và trong thơ
Quang Dũng nói riêng để qua đó hiểu hơn về con người.
Việc thực hiện đề tài còn là dịp cho chúng tôi bước đầu làm quen, tập
nghiên cứu độc lập một vấn đề văn học, từ đó giúp chúng tôi nâng cao kiến
thức cũng như kinh nghiệm cho việc học tập và nghiên cứu sau này.

2. Lịch sử vấn đề

Tuy số lượng tác phẩm thơ không lớn nhưng những trang thơ của
Quang Dũng đã được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt. Giới phê bình, nghiên
cứu, các bạn thơ cũng có nhiều bài viết về con người cũng như thơ của ông.
Qua những bài viết về đời và thơ Quang Dũng, chúng ta nhận thấy mỗi
lần nhắc tới ông là nhắc tới một con người tài hoa, giản dị,giàu lòng yêu
thương và thấm đậm hồn quê.
Năm 1987 nhà thơ Ngô Quân Miện trong bài viết Quang Dũng – con

xúc xót thương sâu thẳm, da diết khi nhà thơ rơi vào những cảnh huống “
mặt trông lòng đau” và để lại trong lòng chúng ta những ấn tượng khó phai”
[14;10]
Trong bài viết “Áng mây trắng xứ Đoài” in trong cuốn Chân dung nhà
văn Việt Nam hiện đại,tâp 2, xuất bản năm 2006 Văn Giá viết về Quang
Dũng “ Ông cứ làm một áng mây trắng xứ Đoài hồn nhiên, lang thang từ
làng ra phố, hết phố lên rừng, rồi lại từ rừng về phố” [3;86]. Áng mây trắng
ấy đã từng chinh chiến nơi chiến trường, đã từng chịu bao sóng gió trước
cuộc đời nhưng vẫn hát lên bài ca về lòng yêu thương con người, lòng say
mê cuộc sống: “Không một bầm dập, một dung tục nào có thể làm suy
xuyển lòng yêu, lòng say mê cuộc sống của Quang Dũng. Ông vẫn làm một
áng mây ôm ấp tình yêu, ấp iu khung cảnh đời thường. Đám mây ấy vẫn là:
“Mây ở đầu ô mây lang thang” và vẫn khát vọng “Hẹn những chân trời xa
lạ” không có gì có thể làm cho con người thôi khát vọng. Ở người nghệ sĩ
lớn như Quang Dũng còn là những khát khao cao đẹp và lớn lao” [3; 98].
Những bài viết về Quang Dũng đã giúp chúng ta hiểu thêm rất nhiều
về con người cũng như thơ ca của ông. Kế thừa những thành quả, thông tin
trong việc nghiên cứu con người và thơ Quang Dũng dưới nhiều góc độ của
các bậc tiền bối chúng tôi tiếp tục phát triển chủ đề thông qua việc đi sâu tìm
hiểu, khám phá hình tượng con người - tác giả trong thơ Quang Dũng trong
mối giao cảm của con người với không gian, thời gian, con người và cuộc
dời.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối với đề tài này, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là: Hình tượng
tác giả - nhà thơ trong thơ Quang Dũng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Những tác phẩm thơ in trong cuốn Tuyển tập thơ Quang Dũng do
Trần Lê Văn sưu tầm và giới thiệu năm 1999, nhà xuất bản Văn học, Hà

học không phản ánh hiện thực dưới dạng những bản chất trừu tượng mà, mà
tái hiện nó trong tính toàn vẹn, cảm tính sinh động. Khái niệm trung tâm của
đối tượng văn học là các tính cách của con người, con người sống, suy nghĩ,
cảm xúc, hành động mang bản chất xã hội, lịch sử. [8; 60].
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “khái niệm đối tượng của văn học trước
hết khẳng định hiện thực đời sống là cơ sở phản ánh, thể hiện của văn học
nghệ thuật. Thứ hai, nó xác định phương diện hiện thực riêng biệt mà văn
học hướng tới chiếm lĩnh, nhào nặn để trở thành nội dung. Thứ ba, khái
niệm đối tượng của văn học còn xác định tính chất tổng hợp và toàn vẹn của
cuộc sống mà nhà văn tái hiện với tất cả bộ mặt cụ thể, cảm tính, cá biệt.
Cuối cùng, đối tượng văn học không phải là một hình tượng nhất thành bất
biến mà luôn luôn thay đổi theo sự phát triển của lịch sử và khả năng chiếm
lĩnh thẩm mĩ của con người” [6; 126-127].
Như vậy, đối tượng của văn học đó là tất cả những gì tồn tại trong hiện
thực khách quan có mối quan hệ chặt chẽ với con người được nghệ sĩ chiếm
lĩnh, nhào nặn, tái hiện trong tương quan lí tưởng khát vọng, tình cảm của
con người. Đối tượng văn học luôn thay đổi theo sự phát triển của lịch sử và
khả năng chiếm lĩnh thẩm mĩ của con người.

1.1.1.2 Thơ trữ tình
Trước khi tìm hiểu khái niệm về thơ trữ tình, chúng ta cần tìm hiểu
khái niệm về thơ.Thơ là một thể loại văn học nảy sinh từ rất sớm trong đời
sống con người. Là một thể loại nằm trong phương thức trữ tình nhưng bản
chất của thơ lại đa dạng, nhiều biến thái và màu sắc phong phú. Với đặc tính
hàm súc, khó nắm bắt, khó lí giải cho đến nay thơ vẫn là một thể loại khó
tìm ra một định nghĩa chính xác. Dường như có bao nhiêu nhà nghiên cứu,
nhà thơ thì có bấy nhiêu đinh nghĩa về thơ.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “thơ là hình thức sáng tác văn học
phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mãnh mẽ bằng ngôn
ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [6; 309].

Nhân vật trữ tình là nơi gửi gắm tâm sự, nỗi niềm cũng như tư tưởng
của tác giả. Tuy nhiên theo chúng tôi nhân vật trữ tình là người thống nhất
chứ không đồng nhất với tác giả bởi trong thơ trữ tình nhà thơ xuất hịên như
“người đại diện cho xã hội, thời đại và nhân loại” (Bê-Lin-Xki).
Nếu nhân vật trữ tình là người trực tiếp bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm
trạng thì “Nhân vật trong thơ trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm tình
cảm, là nguyên nhân trực tiếp khơi nguồn tình cảm của tác giả” [9; 359].
Như vây, với tư cách là một hình tượng nghệ thuật, nhân vật trong thơ
trữ tình là đối tượng , mục đích mà nhà thơ hướng tới để thể hiện cảm xúc và
tư tưởng của mình. Nhân vật trong thơ trữ tình có thể đồng nhất hoặc không
đồng nhất với nhân vật trữ tình.
1.1.1.4 Hình tượng nghệ thuật
Nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng miêu tả thế giới bằng hình
tượng. Đó là kết quả của quá trình tư duy đầy sáng tạo, tách khỏi hoạt động
tinh thần của nhà văn để tồn tại như một thực thể văn hóa xã hội.
Theo lí luận văn học: “hình tượng văn học là một khách thể tinh thần
đặc thù. Gọi là “khách thể” bởi vì đó là thế giới tinh thần đã được khách thể
hóa thành một hiện tượng xã hội tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý
muốn chủ quan của người sáng tạo hay người thưởng thức nữa. Cũng không
gắn liền với quá trình tâm lí, tinh thần của tác giả như trong quá trình sáng
tạo. Gọi nó là “tinh thần” bởi vì tinh thần là một cấp phản ánh đặc biệt của ý
thức con người. Cái tinh thần muốn giữ lại thì bao giờ nó cũng thể hiện
trong hình thức vật chất, trong nghệ thuật đó chính là các kí hiệu nghệ thuật,
chất liệu nghệ thuật” [9; 138- 139].
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “hình tượng nghệ thuật là phương
thức chiếm lĩnh tái tạo hiện thực theo quy luật của tưởng tượng, hư cấu nghệ
thuật. Hình tượng nghệ thuật chính là các khách thể đời sống được nghệ sĩ
tái hiện bằng tưởng tượng, sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật. Bằng
chất liệu cụ thể, nó làm cho người ta có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn,
tưởng tượng. Hình tượng có thể tồn tại qua chất liệu vật chất nhưng giá trị

luôn hiện lên với những nét cụ thể, cảm tính, sinh động; đồng thời đó cũng
là nơi bôc lộ cảm xúc, thái độ của tác giả đối với sự vật, hiện tượng trong thế
giới, đối với con người và thế giới xung quanh. Khi đi khám phá không gian
nghệ thuật của tác phẩm cũng là lúc chúng ta khám phá quan niệm, chiều
sâu cảm thụ thế giới khách quan của tác giả.
1.1.2.2 Thời gian nghệ thuật
Là hình thức của hình tượng nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là một
trong những phạm trù quan trọng nhất của thi pháp học. Theo Từ điển thuật
ngữ văn học “Thời gian nghệ thuật là hình thức nội tại của hình tượng nghệ
thuật, thể hiện sự cảm thấy của con người trong thế giới. Nó phản ánh sự
cảm thụ thời gian của con người trong từng thời kì lịch sử, từng giai đoạn
phát triển như sự cảm thụ độc đáo của tác giả về phương thức tồn tại của con
người trong thế giới. Trong thế giới nghệ thuật, thời gian nghệ thuật xuất
hiện như một hệ quy chiếu có tính tiêu đề được giấu kín để miêu tả đời sống
trong tác phẩm, cho thấy đặc điểm tư duy của tác giả” [6; 322- 323].
Trần Đình Sử lại cho rằng: “thời gian nghệ thuật là hình thức của hình
tượng nghệ thuật, là sản phẩm sáng tạo của tác giả bằng các phương tiện
nghệ thuật nhằm làm cho người thương thức cảm nhận được : hoặc hồi hộp
chờ đợi, hoặc thanh thản vô tư, hoặc đắm chìm vào quá khứ. Thời gian nghệ
thuật do được sáng tạo ra nên mang tính chủ quan, gắn với thời gian tâm lí.
Nó là một biểu tượng. một tượng trưng, thể hiện một quan niệm của nhà văn
về cuôc đời và con người” [13; 76- 77]
Thời gian nghệ thuật là thời gian mà chúng ta có thể chiêm nghiệm
được trong tác phẩm nghệ thuật với độ dai của nó, với nhịp điệu nhanh hay
chậm, với chiều thời gian là hiện tại, quá khứ hay tương lai. Thời gian nghệ
thuật là đặc trưng của văn học bởi văn học là nghệ thuật thời gian. “ thời
gian là đối tượng, là chủ thể, là công cụ miêu tả, là sự ý thức và cảm giác về
ssự vận đông và thay đổi của thể giới trong các hình thức đa dạng của thời
gian xuyên suốt toàn bộ văn học” ( D.X.Likhasôp). Và cũng như không gian
nghệ thuật, thời gian nghệ thuật giúp người đọc khám phá, tiếp cận sâu hơn,

tượng tác giả trong tác phẩm mang nội dung tình cảm, thái độ, ứng xử trước
các hiện tượng đời sống không chỉ biểu hiện bằng cách xưng hô, trường từ
vững mà còn hệ thống tư thế, cử chỉ biểu cảm trong tác phẩm. Giọng điệu có
cấu trúc của nó. Xét lời văn trong quan hệ với người đọc ngoài văn bản thì ta
có ngữ điệu. Sự thống nhất của hai yếu tố này tạo ra giọng điệu” [13;
132-133].
Từ điển thuật ngữ văn học thì cho rằng: “Giọng điệu phản ánh lập
trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mĩ của tác giả, có vai trò rất
lớn trong viêc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho người
đọc. Thiếu một giọng điệu nhất định, nhà văn chưa thể viết ra đựơc tác phẩm
măc dù đã có đủ tài liệu và sắp xếp trong hệ thống nhân vật. Giọng điệu là
một phạm trù thẩm mĩ của tác phẩm văn học, gắn với cái giọng “trời phú”
của mỗi tác giả nhưng mang nội dung khái quát nghệ thuật phù hợp với đối
tượng thể hiện. Giọng điệu trong tác phẩm có giá trị thường đa dạng, có
nhiều sắc thái trên cơ sở một giọng điệu cơ bản chủ đạo chứ không đơn
điệu” [6; 134- 135].
Như vậy, giọng điệu là phạm trù thẩm mĩ của tác phẩm văn học. Qua
giọng điệu ta bắt gặp hình ảnh nhân vật trữ tình và cái tôi cá thể của người
nghệ sĩ. Vì vậy, khi nghiên cứu hình tuợng con ngưòi trong tác phẩm văn
học ta cần chú ý đến giọng điệu mà nhà thơ thể hiện trong nó.

1.2. Đôi nét về nhà thơ Quang Dũng
1.2.1 Cuộc đời
Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Dậu (tức Diệm), sinh năm 1921, tại
làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng (nay thuộc Hà Nội). Phượng Trì một
nửa là làng một nửa là phố, Gia đình Quang Dũng làm nghề nông nghiêp
kiêm tiểu thương.
Bố đẻ của ông là Bùi Đình Khuê, một người chữ nghĩa, tuy làm trong
tổng nhưng tính tình hào hoa phong nhã. Mẹ đẻ của ông là bà Trần Thị Hợi,
trụ cột kinh tế của gia đình mà lại giàu lòng nhân hậu, hay cưu mang những

thanh thản ra đi vào cõi vĩnh hằng đêm 13 tháng 10 năm 1988, thọ 67 tuổi.
Với các thành tích trong kháng chiến chông Pháp, Quang Dũng đã
được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất, huân
chương chiến thắng hạng ba.
1.2.2. Sự nghiệp
Quang Dũng đi nhiều, viết nhiều. Ông sáng tác trên hai lĩnh vực thơ và
văn xuôi trong đó số lượng văn xuôi gấp gần 3 lần số lượng thơ mà ông viết.
Từ cuộc sống riêng tư đến tác phẩm của ông đều biểu hiện một cá tính, một
phong cách nghệ sĩ độc đáo. Nhiều tác phẩm của ông được dịch và xuất bản
ở nước ngoài.
Bằng tài năng và sự miệt mài sáng tạo, Quang Dũng đã có những đóng
góp cho văn học Việt Nam nói chung và văn học giai đoạn chống Pháp nói
riêng.
“Áng mây trắng xứ Đoài” đã bay về trời nhưng ông đã để lại phần
hương thơm mật ngọt cho đời bằng những tác phẩm vô cùng có giá trị:
Thơ:
- Bài thơ sông hồng (1956)
- Rừng biển quê hương (1957)
- Mây đầu ô (1986)
Văn xuôi:
- Mùa hoa gạo (1950)
- Đường lên Châu Thuận (1964)
- Nhà đồi (1970)
- Làng đồi đánh giăc (1976)
- Một chặng đường Cao Bắc (1979)
- Nhà đồi (1984)
- Gương mặt Hồ Tây (1984)
- Thơ, văn Quang Dũng (1988).
CHƯƠNG 2:
CON NGƯỜI TRONG MỐI GIAO CẢM VỚI KHÔNG GIAN VÀ

(Ba Vì đón Bác)
Dường như áng mây tráng đã trở thành nỗi ám ảnh sâu sắc trong tâm hồn
Quang Dũng. Khi viết những vần thơ về miền quê khác chúng ta cũng thấy
hình ảnh mây trằng xuất hiện rất nhiều:
Ai nhớ Hồ Nam mây trắng xa
(Hồ Nam)
Hay: Pha Đin ngàn chóp nổi hồ mây
(Pha Đin)
Kể cả khi viết về mình, hình ảnh áng mây cũng không tách khỏi tâm trí
của Quang Dũng, có lúc ông đã nhân mình là một áng mây lang thang:
Mây ở đầu ô mây lang thang
Ôi! chật làm sao
Góc phố Phường
(Mây đầu ô)
Có lúc ông lại ví tóc của mình mang màu trắng của mây:
Tóc anh đã thành mây trắng
(Không đề)
Hình ảnh áng mây như đã xuyên suốt hành trình thơ của Quang Dũng.
Mây đã trở thành nỗi ám ảnh bền bỉ nhiều biến hóa trong tâm hồn ông. Áng
mây trắng Quang Dũng đã cùng đồng chí, đồng đội xếp bút nghiên lên
đường đi đánh giặc. Với tuổi trẻ căng tràn nhiệt huyết và chất lãng mạn họ
nhìn ngăm cuộc đời thật hồn nhiên, giản dị. Họ ra chiến trường với ý chí
“chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” , Họ xem thường cái chết: “Áo bào
thay chiếu anh về đất”. Dù gian khổ, hiểm nguy họ vẫn lạc quan yêu đời,
đầy mơ mộng: “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Họ vẫn mang trong mình
dòng máu phiêu lưu:
Trắng nửa sông xa mờ khí núi
Cánh hồng nhạt nhạt mây phiêu lưu
(Thu)


đi thứ tình cảm cao quý nhất đó là tình người: “Giữ mãi tình người cho đẹp”
để “cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời”. Áng mây ấy luôn là áng mây
trong sáng, hồn nhiên, giàu lòng yêu thương.
Áng mây ấy rồi cũng về trời, nhưng tình yêu thì vẫn ở lại mãi không rời
xa cuộc đời.Áng mây Quang Dũng đến cuối đời vẫn là “ Mây ở đầu ô mây
lang thang” và vẫn khát khao “hẹn những chân trời xa lạ. Khi áng mây áy
bay về trời vẫn còn mãi lòng thiết tha yêu cuộc đời, con người. “Áng mây
trắng xứ Đoài Quang Dũng vẫn cứ lãng đãng ngang trời, phủ một bóng mát
xuống nền thơ Việt Nam hiện đại” [3; 103].
2.1.2 Quê hương Sơn Tây_niềm khắc khoải khôn nguôi
Rời quê hương thân yêu lên đường ra chiến trận, người chiến sĩ mang
dáng dấp của chàng Kinh Kha năm xưa:
Thôi hãy lên đường tráng sĩ ơi
Quê hương mong đợi đã bao đời
Biên thùy nghe dậy niềm ai oán
Gươm hận mài chưa? Khát máu rồi
(Biết gửi đưa ai_ Báo Vệ Quốc)
Xa cách cảnh thanh bình nơi quê cũ, lòng người không khỏi nhớ thương,
luyến tiếc một mùa thu như mùa thu Hà Nội:
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tôi nhớ một mùa thu đã qua
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy
(Đất nước_Nguyễn Đinh Thi)
Cũng với quyết tâm “Đầu không nghoảnh lại” Quang Dũng cùng bao
bạn bè đồng trang lứa đã ra chiến trận với ý chí “chiến trường đi chẳng tiếc
đời xanh”. Nhưng trong chặng đường đầy gian lao, hiểm nguy ấy chưa lúc

một mối tình”.
Ông đã khẳng định tình cảm sắt son dành cho quê hương:
Dẫu chúng tôi đi
Khắp núi khắp sông đất nước
Lòng vẫn nhớ thiêng liêng
Mảnh đất ban đầu
(Gửi Sơn Tây)
Quê hương Sơn Tây hiện lên trong ông là niềm nhớ, niềm tự hào. Ông
cất vang những lời ca ngợi quê hương mình:
Cầu vào cửa Tiền
Đã chôn vùi một binh đoàn Ả Rập
Thời Tây mới sang
Sơn Tây vốn từ xưa
Là đất dữ
Không dung lâu quân thù
(Gửi Sơn Tây)
Cứ thế ông tiếp tục kể về Sơn Tây với niềm say mê, tự hào từ khi những
khóa học đầu tiên, từ lúc “Mường Thanh trói tướng”, “Đờ Cát quy hàng”.
Một lần nữa ông lại khẳng định tình yêu dành cho Sơn Tây:
Chúng ta đi rộng dài sông núi
Vẫn nhớ về đất nhỏ Sơn Tây
(Gửi Sơn Tây)
Như lời của nhà văn Thanh Châu: “Đẹp thay tâm hồn Quang Dũng! Dù
đi đến đâu, lòng anh bao giờ cũng quay về nỗi nhớ nhung vùng đất đá ong
cằn cỗi Sơn Tây, với cánh đồng Bương Cấn, với núi Sài Sơn, mây trắng xứ
Đoài bay ngang đỉnh núi Ba Vì…” [15; 367]. Dù đi đâu thì tên đất, tên làng
gắn liền với vùng quê Sơn Tây không bao giờ rời xa Quang Dũng, ông ước
mong, khao khát một ngày trở lại
Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng

Ôi Sơn Tây, Sài Sơn yêu thương
(nhớ một bóng núi)
Đến với thể giới thơ ca Quang Dũng chúng ta nhận thấy sự ưu ái của
ông dành cho quê hương mình. Với Quang Dũng, Sơn Tây là một phần
xương thịt, một niềm khắc khoải khôn nguôi.
2.1.3 Quê hương kháng chiến trong tâm hồn người chiến sỹ đa cảm
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”.
Đó là những vần thơ đầy ý nghĩa mà nhà thơ Chế Lan Viên đã viêt
trong bài “Tiếng hát con tàu”. Trên hành trình đi đánh gịăc, mỗi mảnh đất đi
qua là một niềm thương nhớ của những người chiến sĩ. Với họ, Những tên
đất, tên làng, tên sông, tên núi đã trở nên gắn bó, thân thuộc. Quang Dũng
cũng vậy ông mang một hồn quê sâu nặng. một trái tim yêu thương, một tâm
hồn nhạy cảm, mỗi miền đất đi qua với ông là một miền nhớ, miền thương:
Từ Nghệ An Hà Tĩnh
Nghỉ lại Nho Quan
Hút điếu thuốc Sơn vàng
Nhìn lên sao Bắc Đẩu
Đêm nào vượt sông Đà?
Đêm nào vượt sông Hồng?...
(Đường 12)
Mỗi lúc nghĩ lại chặng đường đã qua, bao kỉ niệm. dấu ấn lại ùa về. Có
những niềm đau để lại:
Có làng trung đoàn ta đi qua
Máu đông in dấu giày đinh giặc
Nền tro gạch sém ngách buồng ai
Chiêc tã đầu giương đang cháy dở.
(Những làng đi qua)
Nhưng cũng có lúc quên đi mọi đau thương mất mát để cùng nhau cất
lên tiếng hát:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status