Hình tượng tác giả trong văn xuôi Hoàng Phủ Ngọc Tường - Pdf 29

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hướng tiếp cận theo thi pháp học hiện đại ngày nay mở ra cho chúng ta khả
năng đi sâu tìm hiểu, khám phá tác phẩm văn học với tư cách là một chỉnh thể nghệ
thuật. Trong các phạm trù thi pháp học, hình tượng tác giả có vai trò vô cùng quan
trọng. Tác giả là người sáng tạo ra thế giới nghệ thuật, trong mỗi tác phẩm bao giờ
cũng lưu lại dấu ấn, phong cách, nhân cách, thế giới quan, tư tưởng, quan điểm
thẩm mĩ…. của tác giả. Hình tượng tác giả “cái tôi thứ 2” của tác giả được thể hiện
một cách tổng hợp trong tác phẩm. Từ khái niệm “hình tượng tác giả” mở ra khả
năng tiếp cận văn học ở tính toàn vẹn, tính năng động và ý thức sáng tạo độc đáo
của người nghệ sỹ.
Văn học Việt Nam 30 năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI Hoàng Phủ Ngọc
Tường nổi lên như một cây bút sung sức, đầy sáng tạo. Ông sáng tác nhiều thể loại:
thơ, tản văn, bút kí, kí sự, tiểu luận… Ngoài những tác phẩm thơ, mảng văn xuôi
Hoàng Phủ Ngọc Tường có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của văn học Việt
Nam đương đại. Tìm hiểu hình tượng tác giả trong văn xuôi Hoàng Phủ Ngọc
Tường một mặt sẽ hiểu rõ một phương diện quan trọng, làm nên giá trị, sức hấp dẫn
của những trang văn Hoàng Phủ Ngọc Tường; mặt khác có thể thấy được vai trò, sự
đóng góp của nhà văn trong sự vận động về văn hoá dân tộc của thời đại giao lưu,
hội nhập quốc tế như hiện nay.
Tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng đã được đưa vào chương trình
sách giáo khoa ở trường phổ thông. Việc nghiên cứu sâu các phương diện thi pháp
của tác phẩm Hoàng Phủ Ngọc Tường sẽ bổ trợ thêm cho việc giảng dạy của giáo
viên. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể ứng dụng vào thực tế dạy và học.
Trên đây là những lí do thôi thúc chúng tôi quyết định nghiên cứu lựa chọn
đề tài: “Hình tượng tác giả trong văn xuôi Hoàng Phủ Ngọc Tường”.

dân đồng loại” [29]. Phạm Phú Phong lại khắc hoạ chân dung người viết kí “Như
3

một người lính phơi trần lưng, không nơi ẩn nấp. Tầm vóc, suy nghĩ, tài năng nhân
cách người viết có thế nào bộc lộ ra thế ấy, không giấu giếm, không nhờ vả, không
vay mượn được của ai” [33]. Quả đúng như vậy, Hoàng Phủ Ngọc Tường hiện lên
trang văn của mình là “một nhà văn hoá hành văn vô cùng độc đáo, một cuốn từ
điển sống về Huế dù viết về vấn đề gì ông cũng vận dụng một khối lượng kiến thức
rất lớn về lịch sử, địa lý, sinh vật, âm nhạc và cả hội hoạ trong sáng tác của mình”
[33]. Từ những kiến thức phong phú, đa dạng ấy đã tạo nên một sức hút, sức hấp
dẫn của những trang văn “sự hiểu biết cặn kẽ, sâu sắc về đối tượng phản ánh ở
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đem đến cho tác phẩm của ông một sự cuốn hút cuả
quả táo Niuton, nghĩa là một nhận thức và phát hiện chân lí” [34].
Ở một số bài viết, công trình nghiên cứu khác, các tác giả đặc biệt chú ý đến
cái “tôi” tác giả được bộc lộ trong thể kí, nhàn đàm… của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã tìm ra một trong những thành công của kí
của Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là nhờ cái tôi tài hoa uyên bác “Sự đóng góp của
Hoàng Phủ Ngọc Tường về thể văn này bắt nguồn từ một vốn sống và tri thức chắc
chắn” (Nguyễn Đăng Mạnh). Cũng nói về cái tôi tài hoa giàu vốn sống, vốn tri thức
lịch lãm của Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà thơ Hoàng Cát cho rằng: “thế mạnh của
ông là tri thức văn học, triết học, lịch sử, địa lí sâu và rộng. Gần như đụng đến vấn
đề gì, ở thời điểm nào và ở đâu thì ông vẫn có thể thoả mái tung hoành ngòi bút
được.” [3]. Tác giả Huỳnh Như Phương trong bài “Những ánh lửa của lòng yêu
nước” [36] cũng tìm ra “cái tạng riêng” của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong những
trang kí. Tác giả nhận thấy cái “tôi” “xuất hiện một cách mạnh dạn, không ngần
ngại”, “cái tôi bắt mạch với cuộc sống đồng thời cũng là cái tôi có bản sắc”.
Tác giả Lê Trà My trong luận văn thạc sĩ nghiên cứu đề tài “Bước đầu tìm
hiểu tản văn Việt Nam thời kì đổi mới” (Hà Nội 2002), đã dành hẳn một chương
trong công trình nghiên cứu của mình viết về Hoàng Phủ Ngọc Tường như một cây
bút tản văn tiêu biểu của thời kì này. Tác giả đã nhận ra “Hoàng Phủ Ngọc Tường

nghiên cứu, bình luận. Tuy nhiên bên cạnh đó, vẫn còn có một số ý kiến phê phán
về cách viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh,
Trần Đình Sử đánh giá: “Bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường nghiêng hẳn về chất
5

thơ thi vị ngọt ngào. Cái chất thơ truyền thống thu hẹp phần nhìn của tác giả. Nói về
Sông Hương, vườn Huế, tác giả hầu như không nói gì về thiên nhiên khắc nghiệt”,
“không nói gì đến tính chất nghèo nàn về khoáng sản, đất đai…” “mở mang chất
văn xuôi sẽ có dịp phê phán những truyền thống chưa tốt đẹp trong văn hoá”
[37.255].
Hoàng Phủ Ngọc Tường là cây bút đã thu hút được sự quan tâm của nhiều
nhà nghiên cứu. Nhiều phương diện sáng tác của ông đã được đề cập đến trong các
công trình, bài viết. Song chưa có một công trình nào nghiên cứu vấn đề hình tượng
tác giả trong toàn bộ văn xuôi của ông. Trên cơ sở ý kiến của những người đi trước,
chúng tôi nghiên cứu hình tượng tác giả trong văn xuôi Hoàng Phủ Ngọc Tường.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
-Mục đích nghiên cứu: Luận văn này, chúng tôi cố gắng đi sâu tìm hiểu
những vấn đề lí thuyết căn bản về hình tượng tác giả. Dựa trên những thành tựu đã
có, hình thành khung lí thuyết về hình tượng tác giả, để làm cơ sở cho việc khảo sát
hiện tượng văn học cụ thể là hình tượng tác giả trong văn xuôi Hoàng Phủ Ngọc
Tường.
-Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn chỉ ra những biểu hiện, những đặc điểm
của hình tượng tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường qua các vai giao tiếp nghệ thuật và
các phương diện thể hiện nghệ thuật trong văn xuôi. Từ đó thấy được phong cách,
cũng như sự vận động trưởng thành hình tượng cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường với
sức sáng tạo gắn liền những biến cố thăng trầm của lịch sử dân tộc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trong luận văn này chúng tôi tập trung nghiên cứu
những phương diện biểu hiện của hình tượng tác giả trong văn xuôi của Hoàng Phủ
Ngọc Tường.

- Phương pháp phân tích, tổng hợp hệ thống: Để thực hiện đề tài này, chúng
tôi còn sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích tổng hợp, hệ thống để phân tích
những sáng tác văn xuôi cụ thể rồi rút ra kết luận tổng quát về những đặc trưng nổi
bật để từ đó có cái nhìn toàn diện, chính xác về hình tượng tác giả Hoàng Phủ Ngọc
Tường.
7

6. Đóng góp của luận văn
Xem xét từ các vấn đề trên, luận văn dự kiến có những đóng góp sau:
- Kế thừa những thành tựu nghiên cứu trước đây, trong phạm vi tài liệu bao
quát được, luận văn xác định những quan niệm về hình tượng tác giả, trên cơ sở đó
chỉ ra các dấu hiệu, những biểu hiện hình tượng tác giả trong văn xuôi, làm cơ sở
cho việc khảo sát hiện tượng văn học cụ thể.
- Trên cơ sở đó, luận văn trực tiếp soi tỏ lí thuyết để đi tìm hình tượng tác giả
trong văn xuôi Hoàng Phủ Ngọc Tường qua vai giao tiếp nghệ thuật và những
phương diện thể hiện nghệ thuật, tạo cơ sở thực tế từ tác phẩm để khái quát phong
cách tác giả. Cũng từ đó, góp phần khẳng định sự đóng góp của Hoàng Phủ Ngọc
Tường đối với nền văn xuôi hiện đại.

8

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

Trong cuốn “150 thuật ngữ văn học” của Lại Nguyên Ân đã đi từ thuật ngữ tác giả
văn học để làm cơ sở xem xét khái niệm hình tượng tác giả: “Tác giả là người sáng
tác ra tác phẩm văn học, để lại dấu ấn của mình ở thế giới nghệ thuật do mình sáng
tạo ra” [1.146]. Ở chỗ khác tác giả cũng chỉ ra: “tác giả không chỉ là phạm trù mĩ
học mà còn là phạm trù xã hội văn hoá”. Nó vừa là sản phẩm văn hoá của mỗi thời
đại nhất định, đồng thời là đại diện đáng tin cậy của dư luận xã hội rộng rãi. Đây là
một trong những cơ sở gián tiếp cho sự hình thành các loại hình tượng tác giả trong
sáng tác. Vậy theo tác giả Lại Nguyên Ân thì dấu ấn cá nhân của tác giả, các
phương diện nội dung nhân cách tác giả nhập sâu vào cơ cấu tác phẩm và đặc biệt là
sự tự ý thức về vai trò xã hội, vai trò văn học của tác giả đã làm nên hình tượng tác
giả.
Từ những lý giải của các nhà nghiên cứu trên về hình tượng tác giả phần nào chưa
đáp ứng thoả mãn những yêu cầu nội hàm của khái niệm. Và một trong những tác
phẩm đề cập tương đối đầy đủ về hình tượng tác giả đó là cuốn: “Thi pháp học hiện
đại” của Giáo sư Trần Đình Sử. Ông đã đưa ra định nghĩa như sau: “tác giả là trung
tổ chức nội dung và hình thức, cái nhìn nghệ thuật trong tác phẩm, là người mang
thế giới cảm đặc thù và trung tâm tổ chức lại ngôn từ theo nguyên tắc nghệ thuật”
[41.106]. Khái niệm hình tượng tác giả ở đây được hình dung như một hiện tượng
thẩm mĩ, như một hình tượng do tác giả sáng tạo ra trong tác phẩm như hình tượng
nhân vật nhưng lại theo một quy tắc khác hẳn. Nếu như hình tượng nhân vật xây
dựng theo nguyên tắc hư cấu, được miêu tả theo một quan niệm nghệ thuật về con
người và theo tính cách nhân vật, thì hình tượng tác giả được thể hiện theo nguyên
tắc tự biểu hiện sự cảm nhận và thái độ thẩm mĩ đối với thế giới nhân vật.
Tóm lại, hình tượng tác giả được khẳng định từ nhiều góc độ trong lý luận văn
học. Song có thể xem xét từ quan điểm thi pháp học hiện đại. 10
1.1.1. Hình tượng tác giả là một phạm trù của thi pháp học.
Hình tượng tác giả vừa là người sáng tạo ra thế giới nghệ thuật vừa là cấu trúc lời

hình tượng tác giả trong tác phẩm. Việc tìm hiểu tác giả tiểu sử là cần thiết nhưng
đôi khi không thể thay thế được việc tìm hiểu hình tượng tác giả trong tác phẩm.
Với tư cách là trung tâm tổ chức nên thế giới nghệ thuật trong tác phẩm “hình tượng
tác giả” hiện lên trong tác phẩm chính là một phạm trù của thi pháp học hiện đại.
Tác phẩm văn học là sản phẩm sáng tạo độc đáo của nhà văn, luôn mang đậm dấu
ấn cá nhân của người nghệ sĩ. Khái niệm hình tượng tác giả ở đây được hiểu như
một hiện tượng thẩm mĩ, như một hình tượng do nhà văn sáng tạo ra. Ý kiến của
giáo sư Trần Đình Sử đã làm rõ vấn đề này: “Hình tượng tác giả cũng là hình tượng
được sáng tạo ra trong tác phẩm, như hình tượng nhân vật nhưng theo một nguyên
tắc khác hẳn. Nếu hình tượng nhân vật được xây dựng theo nguyên tắc hư cấu, được
miêu tả theo quan niệm nghệ thuật về con người, thì hình tượng tác giả được thể
hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện sư cảm nhận về thái độ thẩm mĩ với thế giới nhân
vật” [41.104].
Trong giao tiếp nhu cầu được tự biểu hiện mình với người đối thoại như là người
uyên bác, hào phóng, hiếu khách, giàu lòng đồng tình…theo những chuẩn mực, theo
những yêu cầu tiến bộ của xã hội. Cũng vậy, trong văn học các nhà văn thường thể
hiện mình như người phát hiện, người khám phá cái mới, người có nhãn quan cấp
tiến, có cá tính nghệ sĩ…dù trực tiếp hay gián tiếp nhà văn luôn hiện ra trong tác
phẩm như là một người đang muốn đề xuất, cắt nghĩa, lý giải đánh giá một vấn đề
nào đó với độc giả. Vì thế, trong nhu cầu nhận diện khám phá tác phẩm của mình,
người đọc luôn đòi hỏi nhà văn phải đem đến cho họ những nhận thức mới, cái nhìn
mới. L.Tônxtôi đã nhấn mạnh điều này: Nếu trước mắt ta là một tác giả mới, thì câu
hỏi tự nhiên đặt ra là liệu anh ta có thể nói điều gì mới với người đọc? Theo ông,
khi đọc tác phẩm văn học, hứng thú chủ yếu là cá tính tác giả thể hiện trong đó. Nếu
là một nhà văn không có gì mới, không có gì riêng thì có thể anh ta không phải là
một tác giả đáng để chú ý. Tác phẩm văn học là nơi tác giả thoả mái trường diễn cái
tôi nghệ sĩ của mình và đối với họ đó là một nhu cầu.
12
Hình tượng tác giả được biểu hiện ra trong tác phẩm một cách đặc biệt. Nhà thơ
Đức I.W.Gơt nhận xét: mỗi nhà văn, bất kể muốn hay không, đều miêu tả chính

trúc nghệ thuật, sự thể hiện của chủ thể trong tác phẩm văn học. Ở đây thì
V.Vinograđôv hiểu vấn đề hình tượng tác giả theo nghĩa hẹp: hình tượng tác giả
trong hình tượng chủ thể của ngôn từ, là hình thức tổ chức ngôn từ. Ông tách lớp
ngôn từ “tác giả” khỏi ngôn từ “nhân vật”. Như vậy khi nói tới “hình tượng tác giả”
hay “tiếng nói tác giả” là ta nói tới dấu ấn cá nhân của những lớp ngôn từ nghệ thuật
mà người ta không thể gán cho các nhân vật chính hoặc người kể chuyện hư cấu.
Vấn đề này, M.Bakhtin hiểu hơi khác hơn. Ông cho rằng: “Không có hình tượng tác
giả ngoài tác phẩm, tư tưởng nhà văn chỉ tồn tại trong tác phẩm”. Khi nghiên cứu
sáng tác của Đoxtoiepxki, ông tập trung khám phá con người nghệ sĩ Đoxtoiepxki
trong tác phẩm, nhưng ông cũng không tán thành gọi sự biểu hiện tác giả là hình
tượng tác giả vì sợ sự lẫn lộn. Nhân vật thuộc một không-thời gian khác còn tác giả
thuộc một không -thời gian khác bao quát và cảm thụ không -thời gian nhân vật.
Tác giả nhập vào rồi thoát ra khỏi không -thời gian nhân vật. “Tác giả nằm ngoài
thế giới nhân vật, đúng hơn là tiếp giáp với mặt ngoài của biểu hiện nhân vật. Tác
giả nên ở trên ranh giới của thế do anh ta sáng tạo…lập trường của tác giả có thể
xác định qua cách mà anh ta miêu tả bề ngoài của thế giới đó” ( dẫn theo Trần Đình
Sử). Như vậy, tác giả hiện diện tại hình thức tác phẩm như là một nguyên tắc thẩm
mĩ tạo hình cho thế giới nghệ thuật. Ở chỗ khác, ông khẳng định tác hiện diện như
một “điểm nhìn”, “cái nhìn”. Ông đi nghiên cứu nhìn nghệ thuật của Đoxtoiepxki và
tư cách nghệ sĩ của nhà văn này trong cuốn “Những vấn đề thi pháp của
Đoxtoiepxki”.
L.Ghindơbua nghiên cứu tác giả trong thơ trữ tình đã chú ý đến cái tôi trữ tình và
cảm nhận thấy trong thơ trữ tình nhà thơ thường xuyên hình dung về mình. Thơ ca
luôn gắn liền với sự giãi bày phơi trải cái tôi cá nhân, đối tượng cơ bản của nó là thế
giới nội cảm, thơ được coi như thể loại mà hình tượng tác giả hiện lên rõ nhất.
Bonhexkaia thấy tác giả thể hiện trong nhân vật, do đó vẫn có thể gọi là hình
tượng tác giả. Riêng Khrapchenco lại thấy rõ sự phức tạp của vấn đề: “Hình tượng
14
tác giả khi thì được coi như nhân vật của thiên truyện ở dạng này hay ở dạng khác,
khi thì như cá tính sáng tạo của nhà văn”. Ông cũng thấy sự biểu hiện của hình

văn (hay tác giả tiểu sử), thì cái “tôi” mà chúng ta muốn nói tới ở đây là cái “tôi”
của người nghệ sĩ tồn tại trong tác phẩm văn học. “Cái tôi” thuộc về thế giới nghệ
thuật của tác phẩm, sáng tạo nên thế giới nghệ thuật ấy. Nó là đại diện và chịu trách
nhiệm trực tiếp cho những quan điểm, những tư tưởng cụ thể, xác định trong tác
phẩm văn học (Sự xuất hiện của cái “tôi” thứ hai này nói khác đi là sự xuất hiện của
hình tượng tác giả một lần nữa cho thấy tác phẩm văn học và cuộc đời thực là thế
giới rất gần và cũng rất xa). Điều này có thể khẳng định rằng: sự tồn tại một cái
“tôi” như thế là có thực trong tác phẩm văn học.
Tác giả văn học là người làm ra tác phẩm văn học, đồng thời luôn để lại dấu ấn
nhân cách của mình trong thế giới nghệ thuật do mình sáng tạo ra. Ở trong những
sáng tác dân gian (thường mang tính tập thể hay vô danh) đã thấy có một ý chí duy
nhất phân định và tạo dựng một cái thực thể nghệ thuật của tác phẩm, đề ra các hành
động ngôn từ, ứng với mỗi một kiểu tư duy nhất định và thường hay nói tới kiểu tư
duy thần thoại, sử thi, cổ tích…Như vậy ở ngay trong những sáng tác văn học buổi
đầu của nhân loại dấu ấn chủ thể sáng tạo đã xuất hiện, mặc dù tác giả chưa xuất
hiện với tư cách sáng tạo cá nhân nhưng đã dần tiến tới hình thành kiểu tác giả trong
sáng tác.
Sự ra đời và phát triển của văn học viết với những tác giả cụ thể đồng nghĩa với
sự phát triển các nhân tố sáng tạo cá nhân trong văn học. Các yếu tố thuộc về nhân
cách tác giả (tính cách, lập trường thẩm mĩ, thế giới quan, cá tính sáng tạo) ngày
càng thâm nhập sâu vào cơ cấu nghệ thuật của tác phẩm. Các trào lưu văn học thời
cận đại và hiện đại đã sáng tạo ra nhiều hình tượng về sự tự ý thức của tác giả. Ví
dụ mối liên hệ rõ rệt giữa tâm trạng lãng mạn chủ nghĩa với các vai “Nhà tiên tri,
người bị ruồng bỏ”. Đây là sự gia tăng dấu ấn chủ thể trong sáng tác, là cơ sở của
hình tượng tác giả trong tác phẩm cụ thể. Điều đó cũng cho thấy giữa cái tôi của tác
16
giả (ở ngoài đời) với cái tôi thứ hai của người nghệ sĩ trong tác phẩm có liên hệ với
nhau, song không phải là một.
Chủ nghĩa hậu hiện đại ngày nay còn hoài nghi sâu sắc vị thế của tác giả. Đặc
biệt là sự phát triển của kí hiệu học và sự đề cao vai trò sáng tạo của người đọc của

cách một “sử công” nhiều trách nhiệm trong ghi chép hiện thực hơn so với tác giả
“du kí”…Sự tự ý thức về vai trò xã hội và tư thế văn học vốn rất đa dạng đã làm cho
hình tượng tác giả bộc lộ rõ hơn trong tác phẩm. Chúng ta có thể nhận thấy hình
tượng người suy ngẫm, tu dưỡng đạo đức, tâm tình như trong thơ Nguyễn Trãi,
Nguyễn Bỉnh khiêm …
Trong thơ Hồ Xuân Hương lại có một kiểu tác giả giễu cợt, luôn sắc sảo và quyết
liệt.
Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo
Kìa đền thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu.
(Đề đền Sầm Nghi Đống)
Nhưng trong khúc ngâm thì xuất hiện một kiểu tác giả giãi bày, buồn, oán than
trước cuộc đời.
Lòng này gửi gió đông có tiện
Ngàn vàng xin gửi tới non yên
Non yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời
Trời xa xanh thẳm vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong
(Chinh phụ ngâm khúc -Đặng Trần Côn)
Trong thơ cách mạng Việt Nam cận hiện đại, người ta có thể tìm thấy hình tượng
tác giả hiện ra với tư cách là người mang bầu nhiệt huyết, kêu gọi cổ vũ vì lý tưởng
chung ở những sáng tác của Phan Bội Châu, Tố Hữu…Trong văn học hiện thực phê
phán ta thấy hình tượng tác giả xuất hiện như “người thư kí trung thành của thời
đại” luôn có nhu cầu nói ra hiện thực xã hội.
18
“Cơ sở tâm lí của hình tượng tác giả là cái tôi trong nhân cách mỗi người thể
hiện trong giao tiếp” [38.125]. Khi tạo nên thế giới nghệ thuật của mình là nhà văn
đã vận dụng và thể hiện khá trọn vẹn cái “tôi” của mình trong một số tác phẩm cụ

giả”, vì nó trực tiếp phản ánh được lập trường tác giả, những sự đánh giá và tình
cảm, cảm xúc của tác giả. Khi người kể chuyện thay thế tác giả để đứng ra kể câu
chuyện thì hình tượng tác giả biểu hiện trước hết thông qua hình tượng người kể. Sự
biểu hiện các biến cố theo quan điểm của người kể, người quan sát trực tiếp xưng
“tôi” có tác dụng khi nhấn mạnh tính hiện thực và tô đậm cảnh được tái hiện. Cũng
có sự tường thuật được đi từ ngôi thứ ba, nhưng có những căn cứ để khẳng định sự
có mặt của “người kể không rõ ràng” với giọng nói, cách đánh giá của mình; đó là
sự xuất hiện tính hội thoại chung của ngữ điệu, của cú pháp vốn là thuộc tính của
người kể. “Người kể không rõ ràng” rất gần với tác giả, song vẫn có một số nét khác
biệt-sự tri giác trực tiếp là đầy cảm xúc sự bình giá cởi mở tự nhiên…Tóm lại, việc
đối lập nhân vật và tác giả trở nên không chính xác, và đồng nhất tác giả và người
kể chuyện cũng không đúng. Trong từng trường hợp chúng ta cần thấy mối quan hệ,
sự thâm nhập của tác giả vào nhân vật và người kể chuyện.
Hình tượng tác giả với tư cách là người sáng tạo ra thế giới nghệ thuật rất gần với
cá tính sáng tạo, phong cách nhà văn. Trước hết hình tượng tác giả mang đậm cá
tính tác giả nhất là khi vai trò của cá tính sáng tạo của cái tôi cá nhân được ý thức
đầy đủ. Hình tượng một người luôn “khao khát giao cảm” trong thơ Xuân Diệu hay
một “người thơ” nhân ái, thông thái lạc quan như thơ Hồ Chí Minh…đều gắn với
kinh lịch, tu dưỡng của đời sống cá nhân mỗi người.
“Cá tính sáng tạo là đặc điểm phẩm chất, toàn vẹn của một nghệ sĩ bao gồm các
mặt triết học, mĩ học, tâm lí xã hội, thị hiếu, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật…Cá
tính sáng tạo là biểu hiện rực rỡ của phạm trù chủ quan, cái cá biệt, cái không lặp lại
trong tài năng độc đáo của của người nghệ sĩ” [11.30]. Cá tính sáng tạo không đồng
nhất nhưng thống nhất và thể hiện rõ nhất hình tượng tác giả. Sự thống nhất ấy biểu
hiện ở chỗ: Cá tính sáng tạo thường được tập trung ở cái nhìn nghệ thuật độc đáo, ở
cách cảm, cách nghĩ của nhà văn có khả năng đề xuất các nguyên tắc, biện pháp
20
nghệ thuật mới mẻ, tạo thành một ngôn ngữ mới mẻ trong việc biểu hiện những nội
dung mới của đời sống và tư tưởng. Chẳng hạn như: việc nhìn đời với nỗi niềm căm
phẫn nên trong hệ thống ngôn từ nghệ thuật ở tác phẩm của Vũ Trọng Phụng có

giao tiếp nghệ thuật với người tiếp nhận qua tác phẩm. Song không phải lúc nào ta
cũng có thể cảm nhận hình tượng tác giả qua cả ba yếu tố ấy. Chúng cũng có mặt
hoặc vắng mặt, cũng có lúc thể hiện đậm nhạt khác nhau trên từng tác phẩm, nhưng
bao giờ cũng gợi ý, định hướng, dẫn dắt người đọc cảm thụ, nhận biết về hình tượng
tác giả.
1.2.1 Cái nhìn nghệ thuật
Mỗi tác phẩm là một thế giới nghệ thuật thể hiện cách nhìn, thái độ của người
viết đối với đời sống, con người. Mỗi chi tiết, mỗi hình ảnh, biểu tượng được tái
hiện, tái tạo trong tác phẩm đều hiện ra qua cái nhìn của những chủ thể xác định, và
đều do người viết sáng tạo ra. Hình tượng tác giả là hình tượng chủ thể của cái nhìn
được thể hiện trong chỉnh thể nghệ thuật. Nghiên cứu của Đoxtoiepxki, M.Bakhtin
cũng tập trung vào cái nhìn nghệ thuật của nhà văn để lí giải các vấn đề liên quan.
Chính cái nhìn để phân biệt được nghệ sĩ này với nghệ sĩ khác, không hoà lẫn. Cái
nhìn cũng thể hiện được tiếng nói riêng của nghệ sĩ, tiếng nói riêng càng mạnh thì
hình tượng tác giả càng rõ nét. Nghiên cứu cá tính sáng tạo của nhà văn,
M.B.Khrapchenco chỉ ra: “Chân lý cuộc sống trong sáng tác nghệ thuật không tồn
tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối với thế giới, vốn có ở từng
nghệ sĩ thực thụ” ( Dẫn theo Trần Đình Sử). Điều này nhà văn Pháp Mác xen Prútxt
đã từng nói: “Đối với nhà văn cũng như đối với nhà hoạ sĩ, phong cách không phải
là vấn đề kĩ thuật mà là vấn đề cái nhìn” (Dẫn theo Trần Đình Sử).
Cái nhìn nghệ thuật thuật như là biểu hiện của hình tượng tác giả trong tác phẩm,
mang tính khái quát. Cái nhìn nghệ thuật là khái niệm gắn liền với chỉnh thể thế giới
hình tượng, chỉ có thể nhận ra khi cảm thụ chỉnh thể thế giới hình tượng của tác
phẩm. Cái nhìn còn thể hiện trong tri giác, cảm giác, quan sát của nhà văn và nó
giúp nhà văn có thể phát hiện cái xấu, cái đẹp, cái bi, cái hài… “Cái nhìn là một
năng lực tinh thần đặc biệt của con người”. Có thể nói thêm, cái nhìn là thể hiện tính
22
tích cực khẳng định tư cách chủ thể. Thường thì người ta quan sát, nhìn nhận để
điều chỉnh mình phù hợp với môi trường tự nhiên và các quan hệ xã hội. Trong
nghệ thuật, chủ thể đem kết quả cái nhìn, cách thức nhìn nhận, khám phá cuộc sống

nhìn bao giờ cũng bộc lộ lập trường, quan điểm thẩm mĩ của chủ thể nghệ thuật.
1.2.2 Giọng điệu nghệ thuật
Văn học là nghệ thuật ngôn từ. Văn bản ngôn từ của tác phẩm là phương duy
nhất để nhà văn giao tiếp nghệ thuật với người đọc. Chỉnh thể văn bản ngôn từ của
tác phẩm gắn với “hình tượng người phát ngôn ra văn bản ấy với một giọng điệu
nhất định” [38.149] mà nhà văn sáng tạo nên. Vì hình tượng tác giả gắn với hình
tượng chủ thể nghệ thuật giao tiếp với bạn đọc bằng tác phẩm, mà giọng điệu là một
yếu tố đặc trưng của hình tượng tác giả trong tác phẩm.
Cũng như giọng nói giúp nhận ra con người trong đời sống, giọng điệu giúp ta
nhận ra tác giả, nhận ra chân dung nghệ sĩ trong văn học. Vì giọng điệu luôn góp
phần quan trọng trong việc khu biệt đặc trưng phong cách, đôi khi còn tạo thành bản
sắc riêng, độc đáo của phong cách, một trào lưu hay một giai đoạn văn học. Theo
như Từ điển Tiếng Việt, giọng điệu là “giọng nói, lối nói biểu thị một thái độ nhất
định”. Trong văn chương, “giọng điệu được xem là nơi biểu thị thái độ cảm xúc, tư
thế của chủ thể phát ngôn qua lời văn nghệ thuật” [61.34]. Nói như Trần Đình Sử
thì “giọng điệu là yếu tố hàng đầu của phong cách nhà văn, là phương tiện biểu hiện
quan trọng của tác phẩm văn học”.
Ở chỉnh thể văn bản ngôn từ tác phẩm, ta có thể tiếp xúc với lời của vai giao tiếp
nghệ thuật, lời của các chủ thể nhân vật. Đó là những cấp độ yếu tố cụ thể biểu hiện
giọng điệu nghệ thuật của hình tượng tác giả. M.B Khrapchenco từng tiếp cận tác
phẩm văn học như “một kết cấu các giọng điệu” và theo ông “Đề tài, tư tưởng, hình
tượng chỉ được thể hiện trong một môi trường và giọng điệu nhất định đối với đối
tượng sáng tác, đối với những mặt khác nhau của nó. Hiệu suất cảm xúc của lối kể
chuyện, của hành động kịch, của lời lẽ trữ tình trước hết thể hiện ở giọng điệu chủ
yếu vốn là đặc trưng của tác phẩm văn học với tư cách là một thể thống nhất hoàn
24
chỉnh”. Giọng điệu là cách biểu hiện tấm lòng, thái độ, cách đánh giá của nghệ sĩ
với các hiện tượng đời sống. Nó là hiện thân ý thức của hình tượng tác giả trong
giao tiếp với người đọc.
Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, giọng điệu của tác phẩm là sự thống nhất

kịch. Đây cũng là một lưu ý cần thiết đối với chúng tôi khi tiến hành tìm hiểu đề tài.
Rõ ràng, giọng điệu là một yếu tố then chốt góp phần biểu hiện hình tượng tác giả
trong tác phẩm.
1.2.3 Ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ văn học là một hình tượng nghệ thuật do người nghệ sỹ sáng tạo ra
theo nguyên tắc nghệ thuật. Tính hình tượng và tổ chức đặc thù tạo nên tính nghệ
thuật của nó. Ngôn ngữ nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá
tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn, vì thế ngôn ngữ nghệ thuật cũng là
một phương diện quan trọng thể hiện hình tượng tác giả. Có thể khẳng định được
điều này như vậy là vì trong tác phẩm văn học, hình tượng tác giả là yếu tố quy định
ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn.
Trong quá trình sáng tác, cái nhìn nghệ thuật của người nghệ sĩ chi phối cách sử
dụng ngôn từ, hoá thân thành ngôn từ. Ngôn từ là sự ngoại hiện của cái nhìn nghệ
thuật vốn dĩ trừu tượng, sự triển khai giọng điệu vốn dĩ vô hình.Vậy thì muốn tìm
nét đặc sắc của cái nhìn, giọng điệu để nhận diện hình tượng tác giả ta lại phải đi từ
ngôn từ nhà văn, khái quát các đặc điểm của cái nhìn ẩn chứa trong đó, để tìm thấy
cái riêng của mỗi nhà văn.
Bước vào sáng tạo văn học, trước tiên, nhà văn phải biết sáng tạo ngôn ngữ. Nỗi
khổ tâm của người nghệ sĩ là ngôn từ bất lực trước khát vọng biểu hiện, miêu tả;
“Là không bút nào tả xiết”. Ngôn ngữ nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo cá nhân độc
đáo của mỗi nhà văn. Người nghệ sĩ luôn luôn trong việc ý thức cao trong việc sáng
tạo ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm của mình. Một nhà văn tài năng bao giờ cũng
là bậc thầy về ngôn ngữ nghệ thuật và luôn để lại dấu ấn đậm nét của mình trong
ngôn ngữ nghệ thuật với một nhãn quan ngôn ngữ riêng biệt, độc đáo. Đỗ Phủ đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status