Văn xuôi Hoàng Phủ Ngọc Tường dưới góc nhìn thể loại - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ THU NGA VĂN XUÔI HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
DƯỚI GÓC NHÌN THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành : Lý luận văn học
Mã số : 60.22.32
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lý Hoài Thu HÀ NỘI, 2010




Chƣơng 1.KHÁI LƢỢC CHUNG VỀ THỂ KÝ VÀ HÀNH TRÌNH
SÁNG TÁC CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƢỜNG 11
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 11
1.1.1. Khái niệm về thể loại 11
1.1.2. Những đặc trƣng thể loại 15
1.2. HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA
HOÀNG PHỦ NGỌC TƢỜNG 17
1.2.1. Đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp văn chƣơng
Hoàng Phủ Ngọc Tƣờng 17
1.2.2. Hành trình sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tƣờng 19
Chƣơng 2.QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VÀ
CON NGƢƠ
̀
I TRONG VĂN CHƢƠNG HOA
̀
NG PHU NGO
̣
C TƢƠ
̀
NG……22
2.1. QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ ĐỜI SỐNG XÃ HỘI TRONG
VĂN XUÔI HOÀNG PHỦ NGỌC TƢỜNG 22
2.1.1. Những trang văn bám sát hiện thực cuộc sống 22
2.1.2. Những góc nhìn khác về hiện thực đời sống 31
2.2. QUAN NIỆM VỀ CON NGƢỜI TRONG VĂN XUÔI HOÀNG
PHỦ NGỌC TƢỜNG 41
2.2.1. Thế giới nhân vật 41




3.2.2. Giọng triết lý sâu sắc 83
3.2.3. Giọng nghị luận xã hội 85
3.3. NGÔN TỪ TRẦN THUẬT……………………………………… 90
3.3.1. Ngôn từ triết lý và ảo hóa 89
3.3.2. Ngôn từ đậm chất thơ lãng mạn, bay bổng 91
3.3.3. Ngôn từ giàu tính liên tƣởng 94
3.3.4. Các biện pháp tu từ 97
3.4. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH ẢNH VÀ BIỂU TƢỢNG
TRONG VĂN XUÔI HOÀNG PHỦ NGỌC TƢỜNG 101
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116














những năm 30 của thế kỉ XX, ký mới thật sự được khẳng định như một thể
loại đồng đẳng với các thể loại khác với nhiều tác phẩm giá trị của các tác giả
nổi tiếng. Từ đó đến nay, người viết ký không phải là ít, nhưng có một vị trí
và đóng góp đối với thể loại thì thật ít tên tuổi. Và, “Hoàng Phủ Ngọc Tường
là một trong số rất ít nhà văn viết bút ký nổi tiếng ở nước ta vài chục năm
nay” [19, tr.847]. Nhiều người đã cho rằng đối với thể ký ở Việt Nam, sau
Nguyễn Tuân là Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT). Chính Nguyễn Tuân cũng
đánh giá cao những trang ký của HPNT là những trang văn “rất nhiều ánh
lửa”. Có thể nói, trong dòng ký hiện đại Việt Nam, ký của ông là sự tiếp nối






















Lấy mốc khởi nghiệp văn chương từ năm 1972 ở tuổi 35 khi tập bút ký
Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu được xuất bản, cho đến nay, HPNT đã miệt
























5
mài hơn 30 năm trên trường văn vinh quang có, nhưng cũng không ít nhọc
nhằn. Chừng ấy năm với hơn chục tập sách đã làm nên tên tuổi HPNT bởi
“phần đóng góp khiêm tốn nhưng vô cùng quý báu của Hoàng Phủ Ngọc




















6
văn Nguyễn Văn Bổng; Ký văn hóa của Hoàng Phủ Ngọc Tường của nhà văn
Trần Thùy Mai (tạp chí Sông Hương số 05/2002), Chiêm cảm Huế di tích và
con người của Hoàng Bình Thi; Hoàng Phủ Ngọc Tường, một tâm hồn Huế
của NSND, đạo diễn điện ảnh Đặng Nhật Minh (Tạp chí Sông Hương số
05/2002).
Ngợi ca những trang ký của HPNT phản ánh chân thực, sinh động hiện
thực chiến tranh, hiện thực đời sống hiện đại và vẻ đẹp tâm hồn của một nhà
văn “có cái tâm đỏ thắm vì CON NGƯỜI vì TỔ QUỐC” có bài viết chia sẻ
cùng HPNT của nhà văn Nguyên Ngọc trong tập bút ký Rượu hồng đào chưa
nhắm đã say (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2001); Hoàng Phủ Ngọc Tường -













7
Tường của nhà văn Nguyễn Văn Bổng (bài phát biểu trong buổi lễ trao giải
thưởng văn học, Hội Nhà văn Việt Nam 1981-1982); Viết về tập bút ký
“ngọn núi ảo ảnh” của nhà thơ Hoàng Cát (báo Văn Nghệ số 12/1999);
Hoàng Phủ Ngọc Tường trong mắt tôi của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng (báo
Văn hóa và Đời sống, Xuân Quý Mùi); Từ A đến Z với Hoàng Phủ Ngọc
Tường của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo (tạp chí Sông Hương số 161-7/2002);
Hoàng Phủ Ngọc Tường - người ham chơi của nhà thơ Ngô Minh (báo Tuổi
trẻ số ngày 20/9/2007) và Người theo "chủ nghĩa" mê đi của Hạnh Lê (báo
Quảng Nam số 2/2007);
Trên đây là một số lời đánh giá nhận xét về con người và văn xuôi
HPNT, ngoài ra, còn khá nhiều bài viết với tấm lòng trân trọng, yêu mến
những trang hoa của ông mà trong phạm vi luận văn có hạn chúng tôi đã
không trích dẫn. Đó là các bài viết: Đọc tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường
(Đặng Tiến), Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn sống để viết (Trần Thuỳ Mai), Đọc
“Ai đã đặt tên cho dòng sông” nghĩ về chặng đường sáng tác của Hoàng Phủ
Ngọc Tường (Phạm Phú Phong), Đọc Nhàn đàm của Hoàng Phủ Ngọc Tường
(Hoàng Sĩ Nguyên),






8
Ngô Minh Hiền ( Luận án tiến sĩ ngữ văn, Viện Văn học, 2009); Đặc trưng
nghệ thuật trần thuật ký Hoàng Phủ Ngọc Tường của Vũ Thị Lệ Mỹ (Luận
văn thạc sĩ khoa học văn học, Đại học Huế, trường đại học Khoa học,
2009);
Tóm lại, tìm hiểu lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy những bài viết
đều đã nói đến những nét tiêu biểu về con người và văn chương HPNT. Ông
là nhà văn được đánh giá cao với vị trí là một trong những đỉnh cao trong ký
Việt Nam, có nhiều đóng góp cho thể loại và văn học nước nhà. Tuy nhiên,
những đánh giá đó mới chỉ là những lời nhận xét chung, khái quát tùy theo
tấm lòng của người yêu quí con người và văn chương HPNT mà những công
trình nghiên cứu hệ thống về văn chương HPNT còn rất ít. Vì vậy, dựa vào
cảm nhận, đánh giá quý báu của những người đi trước như những con đuờng
đã mở, chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu hệ thống, cụ thể về văn chương HPNT
dưới góc nhìn thể loại, soi chiếu văn chương của ông theo các đặc trưng thể
loại, góp phần khám phá vẻ đẹp của những trang ký đầy sáng tạo của ông.
Qua đó, con đuờng bạn đọc đến với nhà văn Hoàng Phủ cũng như thể ký
ngày càng rộng mở hơn.
3. Mục đích - đối tƣợng - phạm vi nghiên cứu
Mục đích
Mục tiêu mà luận văn xác định là: chỉ ra những đặc sắc nội dung và nét
độc đáo của nghệ thuật biểu hiện mang tính riêng của thể loại in đậm trên các
trang văn xuôi của HPNT.
Luận văn sẽ góp một tiếng nói khẳng định vị trí, đóng góp của HPNT
về sự tiếp nối và phát triển thể ký ở Việt Nam nói chung, ký trữ tình nói riêng

Đối tượng nghiên cứu là văn xuôi HPNT dưới góc nhìn thể loại.
Phạm vi nghiên cứu là các sáng tác văn xuôi đặc sắc của HPNT, ở đó
in đậm những đặc trưng thể loại khẳng định tài năng, phong cách, đóng góp
của tác giả khiến tên tuổi của ông được tỏa sáng trên văn đàn văn học Việt
Nam hiện đại. Cụ thể, chúng tôi tập trung tìm hiểu các sáng tác văn xuôi của
HPNT từ năm 1972 đến năm 2002 được chọn lọc trong tuyển tập HPNT và
các tập xuất bản sau năm 2002:  -  1:
Nhàn đàm (Trần Thức tuyển chọn, Nhà xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí Minh,
2002); - : Bút ký (Trần Thức tuyển
chọn, Nhà xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2002);    
- : Bút ký (Trần Thức tuyển chọn, Nhà xuất bản Trẻ, TP
Hồ Chí Minh, 2002);      (Nhà xuất bản Đà Nẵng,
2003);  (Nhà xuất bản Trẻ,
2005);  (Nhà xuất bản Văn nghệ, 2007)
Chúng tôi cũng mạnh dạn so sánh đối chiếu tác phẩm ký của HPNT
với một số tác phẩm của các nhà văn viết ký khác như Nguyễn Tuân, Tô
Hoài, Vũ Bằng. Nhưng các nghiên cứu, so sánh đó không được tách ra thành
các chuyên mục riêng mà đặt trong hệ thống với các tác phẩm của HPNT.
Đặc biệt, việc so sánh không nhằm chỉ ra sự hơn kém mà chỉ giúp phần hiểu
sâu sắc hơn về những nét độc đáo trong sáng tác của HPNT.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp thống kê - phân loại
Phương pháp so sánh - đối chiếu
Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp liên ngành





văn xuôi Hoàng Phủ Ngọc Tƣờng
Chƣơng 3: Một số phƣơng diện của nghệ thuật biểu hiện 











là xuất phát điểm để nhà văn trình bày quan điểm thẩm mỹ của mình. Do đó,
để viết được những trang ký hay thì điều quyết định chính là tài năng chứ
không phải là sự tình cờ. Viết ký khó và viết nhiều mà hay thì càng không
đơn giản chút nào nên trong thực tế tồn tại nhiều quan niệm, cách tiếp cận
khác nhau về thể loại này.
Có hai hướng quan niệm trái ngược nhau trong việc đánh giá thể loại
ký. Nhiều người, trong đó có cả các nhà văn, nhà phê bình văn học có cái
nhìn “xem thường”, “hạ thấp”, "thiếu tín nhiệm" đối với ký, coi ký “là công
việc của tay trái, ký là thể loại đàn em so với các thể loại văn học khác”, "là
một loại thủ công nghiệp mang tính chất gia công ( ) là phương tiện để các
nhà văn thời đại “lấy ngắn nuôi dài” ( ) là một sản phẩm văn học thứ cấp




















giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút ký,
hồi ký, du ký, phóng sự, ký sự, nhật ký, tuỳ bút,…” [42, tr.137]. Giáo sư Hà
Minh Đức, Phương Lựu, Trần Đình Sử gặp nhau trong việc định nghĩa ký là
thể văn xuôi tự sự với nhiều dạng tường thuật, miêu tả, biểu hiện, bình luận
























13
về những sự kiện và con người có thật trong cuộc sống, nên phải tôn trọng























14
Bút ký: là một bộ phận của ký văn học, bút ký được xếp vào thể loại
trữ tình. Những trang bút ký kết hợp việc ghi chép con người, sự kiện cùng
với việc bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ, tư tưởng tác giả. Đây là “một thể loại
phóng khoáng, tự do mà cá tính nghệ sĩ thường trực tiếp tham gia vào đặc
điểm thể loại” [40, tr.206]. Bút ký không chỉ có những trang thi vị ngọt ngào
đằm thắm mà còn có những trang chính luận phản ánh hiện thực đời sống ở
cái thế trực tiếp, bày tỏ thái độ thẳng thắn đấu tranh, phê phán, châm biếm.
















15
mặt trận chiến đấu và sản xuất; những chính khách; những nhà hoạt động
cách mạng;
Mỗi tiểu loại trên có những nét riêng nhưng về cơ bản đều mang đặc
trưng chung của thể ký như là nền tảng của thể loại đã trầm chắc, lắng đọng
trong suốt chặng đường hình thành và phát triển. Đọc ký của HPNT, có tác
phẩm là truyện ký, có tác phẩm là nhàn đàm, có tác phẩm là bút ký, tùy bút,
nhưng tất cả các tác phẩm của ông đều bám sát đặc trưng cơ bản “người thật
việc thật” của ký. Tuy nhiên, điều đặc biệt là ký HPNT không bị khuôn theo
đặc trưng đó một cách cứng nhắc mà phần lớn các tác phẩm đều thấm đẫm
chất trữ tình. Vì thế, dù viết theo tiểu loại nào của ký, HPNT cũng khẳng
định một phong cách đặc trưung của người sở trường với dòng ký trữ tình.
1.1.2. Những đặc trƣng thể loại
“Về ký, thực tế là không thể nói đến cái gì xác định được đặc trưng thể
loại của nó” [53, tr.421]. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là việc tìm









16
hiểu đặc điểm của tác phẩm ký” [40, tr.217]. Tôn trọng tính xác thực của đối
tượng miêu tả, tác phẩm ký chủ yếu nhằm thông tin sự thật. "ký sự có địa chỉ
chính xác của nó” [53, tr.426] nên đòi hỏi người viết phải là người tham dự,
có mặt chứng kiến hoặc được nghe kể lại một cách tỉ mỉ sự việc bởi điều này
góp phần quan trọng xác minh sự thật và tính xác thực của việc miêu tả. Với
đặc trưng phản nổi bật là ánh chân thực cuộc sống của ký như vậy, nhiều
người quan niệm ký không được phép hư cấu. Pôlêvôi quả quyết chắc chắn:
“ký sự nhất thiết không được hư cấu” [53, tr.429]. Cũng với quan điểm này,
nhà văn Bùi Hiển nói: “Thêm hư cấu hoặc để đưa đẩy sự việc hoặc để dấu ấn
nhưng kết quả chỉ khiến cho sự việc trở thành thực thực, hư hư trong trí
người đọc, không có lợi” [53, tr.428]. Tuy nhiên, ký không phải là những
trang văn “thật” đến mức tuyệt đối. Nhà văn vẫn có thể hư cấu qua vai trò
trung gian của chủ thể và "dù ở dạng này hay dạng khác, cái “quyền hư cấu”
vẫn quay trở lại trong tay nhà văn một cách không có gì cản nổi.” [20,
tr.175+176].
Một đặc trưng quan trọng làm tạo thành nét riêng thể loại nữa của ký là
“sự hợp nhất truyện và nghiên cứu”. Đến với ký, chúng ta có thú vị được
khám phá tìm hiểu nhiều thông tin mới lạ. Nói như vậy không có nghĩa tác
phẩm thuộc các thể loại khác không có giá trị này nhưng trong ký, tác giả có
một khoảng rộng để đưa những thông tin mang tính chất nghiên cứu đa dạng,
phong phú về nhiều ngành như lịch sử, địa lý, văn hóa, triết học, sinh học,…


17
tự khám phá. Viết về những điều mắt thấy tai nghe, ký như một mũi nhọn
trực tiếp thể hiện suy nghĩ, quan điểm, tư tưởng của tác giả. Về đặc trưng
này, có người gọi ký là “sự nhức nhối của trí tuệ”. Và, “Ký có thể phản ánh
bất kỳ sự thật nào trong xã hội, kể cả những điều khủng khiếp nhất. Vấn đề là
ở cách nhìn và thái độ tiếp cận” [43, tr.14]. Như vậy, nhà văn tỉ mỉ quan sát,
ghi ghép, miêu tả,… tưởng chừng như lạnh lùng nhưng thực ra để có được
những trang ký đã phải lao động trí óc cực nhọc với sự nhức nhối chân thành
để đưa ra những ý kiến, quan điểm, suy nghĩ mà không bị rơi vào phiến diện,
áp đặt chủ quan.
Một số đặc trưng cơ bản của thể loại như trên chính là căn cứ để chúng
tôi tiếp cận tác phẩm của HPNT và thấy được vai trò của tác giả là một trong
những người đã góp phần đặt một mảng màu tô thêm vẻ đẹp cho thể loại.
1.2. HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƢỜNG
1.2.1. Đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp văn chƣơng Hoàng Phủ Ngọc
Tƣờng
Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937 tại Huế.
Nguyên quán ở làng Bích Khê, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Nhưng,
Huế chính là nơi tác giả “đã sinh ra, lớn lên, đã tranh đấu và chiến đấu, đã
yêu thương, đã sống một đời công dân và một cuộc đời riêng tư” [20, tr.31],
là linh hồn, máu thịt của những trang văn Hoàng Phủ. Xuất thân từ một gia
đình chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho học và các thế hệ đi trước "chìm đắm
trong mùi hương sách vở của các Nho sĩ Trung Quốc với bộ văn phòng tứ
bảo riêng, là bút, nghiên, giấy, mực" [24, tr.99], tâm hồn HPNT đã in dấu
"tửu, thư, hoa, mộng" và ảnh hưởng không nhỏ tới các trang văn.
HPNT đã có những giai đoạn sống khác nhau. Từng tốt nghiệp Đại học
Sư phạm Sài Gòn khóa I ban Việt Hán năm 1960, là cử nhân Triết Đại học
Văn khoa Huế năm 1964, và trong quãng thời gian từ 1960 đến 1966 dạy học
tại trường Quốc Học Huế. Những năm 60, không khí đấu tranh của nhân dân

mà vinh quang. Những năm tháng đó không dài nhưng “giống như ý niệm hạt
nhân của nguyên tử, mang toàn bộ trọng lượng” [24, tr.149], nó in dấu ấn sâu
đậm xuống mọi suy nghĩ, buồn vui suốt cuộc đời nhà văn. Sau giải phóng,
HPNT tham gia công tác quản lý tại các Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế và
Quảng Trị, là hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Năm 1998, căn bệnh hiểm
nghèo đã ảnh hưởng lớn tới sức khỏe và sự nghiệp sáng tác của ông. Từ ngày
bệnh, “người ham chơi” HPNT không thể đi lại, cũng không thể cầm bút viết.
Tuy nhiên, hơn chục năm nay, tác giả vẫn từng ngày chiến đấu và chiến
thắng căn bệnh nghiệt ngã với việc viết văn bằng miệng! Sự lên đường
bằng trí tuệ, hoài niệm, kí ức, nghị lực, của ông đã để cho đời những trang
văn lấp lánh giá trị văn hóa, nghệ thuật, lịch sử.
Cả cuộc đời cầm bút, HPNT đã xuất bản hơn chục tập sách: Ngôi sao
trên đỉnh Phu Văn Lâu (Bút ký,1972); Rất nhiều ánh lửa (Ký, 1979); Ai đã
đặt tên cho dòng sông (Bút ký1984); Bản di chúc của cỏ lau (truyện ký,
1984); Người hái phù dung (Thơ, 1992); Hoa trái quanh tôi (Bút ký, 1995);
Huế di tích và con người (Bút ký, 1996); Người ham chơi (Nhàn đàm, 1998);
Ngọn núi ảo ảnh (Bút ký, 2000); Trong mắt tôi (Bút ký phê bình, 2001);
Rượu hồng đào (Bút ký, 2001); Miền gái đẹp (Nhàn đàm, 2001); Tuyển tập
Hoàng Phủ Ngọc Tường (4 tập, 2002); Trịnh Công Sơn và cây đàn Lya của
Hoàng tử bé (Bút ký văn hoá, 2005); Miền cỏ thơm (Bút ký, 2007). Ông đã
được nhận một số giải thưởng văn học như: Giải thưởng Hội nhà văn Việt
Nam (1980); Tặng thưởng Văn học Uỷ ban toàn quốc LH các Hội VHNT
Việt Nam (1999, 2008); Giải A giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô (1998








xuất phát từ tâm huyết của người nghệ sĩ đã đưa HPNT đến với ký và thơ.
Ông đến với ký có lẽ vì hai lí do chính. Thứ nhất, theo như tác giả tâm sự,
viết ký "chẳng qua là việc vá lại chiếc áo cừu của thực tế. Và cũng là “nối
nghiệp cơ cừu” cha mẹ truyền lại" [117]. Thứ hai, ký là thể loại phù hợp với
cá tính, con người HPNT. Hơn nữa, theo quan niệm của nhà văn: "bút ký - ký
là một thể loại văn học có thể diễn tả mọi ý muốn sáng tác của con người”
[83] mà sau khi ra khỏi chiến tranh ông càng thấu hiểu hơn: “tôi nghiệm ra
một điều là tôi cần phải nói gì về trải nghiệm, tiểu thuyết và truyện ngắn có
vẻ như không giúp được tôi điều này. Thế là tôi chọn ký, tôi có thể nói tuỳ
thích những gì đang diễn ra trong tâm hồn tôi, những trải nghiệm đẹp và cả
khổ đau nữa.” [90]. Đây cũng là xu hướng của thời đại và văn học Việt Nam
bắt đầu thời kỳ đổi mới (từ năm 1986). Hòa cùng với dòng chảy này, ký của
HPNT “nhìn thẳng vào sự thật”, nói lên sự thật bằng cái tâm chân thành của
người nghệ sĩ với một phong cách, cá tính riêng độc đáo. Chúng ta nhắc đến
HPNT bởi trong dòng chảy chung với những đặc trưng cơ bản của thể loại,
ký của ông vẫn có những hồn nét riêng không lẫn với bất cứ ai.















không cho đó là hư cấu” [112]. Những quan niệm của HPNT về phạm vi,
cách thức hư cấu trong ký đã phần nào hoá giải được sự mâu thuẫn giữa
những vấn đề có tính nguyên tắc giữa một bên là lượng thông tin xác thực
trong ký và một bên là quyền sáng tạo nghệ thuật của nhà văn, góp phần tháo
gỡ sự băn khoăn và lúng túng của không ít nhà văn cầm bút sáng tác ở thể
loại này. Bằng thực tế viết ký của bản thân trong suốt quá trình hơn nửa đời
người, HPNT đã rút ra những kinh nghiệm sáng tạo nghệ thuật thiết thực và
bổ ích dành cho những người viết ký. Đó không chỉ là yêu cầu đối với người
viết ký mà còn là những yếu tố không thể thiếu đối với bất cứ ai muốn theo













































22




















23
giấy”, để viết những trang sử bằng văn chân thành về cuộc chiến tranh chống
Mỹ. Sau chiến tranh, độ lùi thời gian với những chuyến đi thực tế tới những
miền đất nóng bỏng trong cuộc chiến và trực tiếp gặp những người thực, việc
thực đã khiến những suy ngẫm về chiến tranh và cuộc sống của ông càng sâu
lắng hơn. Nhà văn đã tái hiện chân thực, khá chi tiết về tội ác, sự thất bại của
giặc và quá trình chiến đấu anh dũng của quân dân Việt Nam với cái nhìn
chân thật của người đã từng trải qua và thấm hiểu "nỗi buồn chiến tranh".
Tội ác của đế quốc Mỹ đến nay vẫn để lại nỗi đau trên đất và người
Việt. Tội ác đó cũng được ghi lại trong nhiều tác phẩm nghệ thuật. HPNT đã
thêm tiếng nói của mình qua các bài ký chân thực như Hành lang của người













24
buộc phải rời làng mạc, có những nơi sau chiến tranh tính lại dân bám trụ
"cứ ba người thì chết một” [19, tr.490+491] Đặc biệt, đọc những trang ký
rực lửa căm hờn trong Vành đai trong lửa, tưởng như những trang sử đau
thương, bi ai của bao năm trước hiện về. Giặc Minh xưa kia là:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ”
(Bình Ngô đại cáo)
Và nay là: “…trong một trận càn vào vùng giải phóng, bọn lính thuỷ
đánh bộ Mỹ đã giết một lúc 145 người, hầu hết là người già, phụ nữ và trẻ
em, trong đó 115 người đã chết ngay chỉ trong mười lăm phút đầu của trận
càn. Gia đình ông Cương có sáu người đều gục chết bên mâm cơm, một em
bé bị báng súng đánh dập đầu, còn lại những bát cơm chan canh và máu. Mẹ
con chị Nhớ, mẹ bị bắn chết, đứa bé mới sinh hai hôm bị chúng xé làm hai
mảnh ném vào lửa…” [19, tr.488] Tàn sát con người, kẻ thù còn rải chất
độc tàn sát cả thiên nhiên. Nhà văn xót xa khi đặt chân đến đâu cũng thấy
thiên nhiên chảy máu và tàn lụi. Kẻ thù rải chất độc da cam “như những cơn
mưa độc thời mông muội” khiến cỏ khô cũng không tồn tại nổi và nhiều khu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status