1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*
VI THỊ THANH HUỆ ĐẶC ĐIỂM KÝ CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC
TƯỜNG
DƯỚI GÓC NHÌN THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34 Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. HÀ VĂN ĐỨC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2011
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 5
2. Lịch sử vấn đề 7
3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu 9
4. Phương pháp nghiên cứu 9
5. Cấu trúc luận văn 10
NỘI DUNG 11
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ THỂ KÍ - THỂ KÍ TRONG SỰ NGHIỆP
SÁNG TÁC CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG 11
1.1. Khái quát về thể kí 11
1.1.1. Sự xuất hiện và phát triển của thể kí trong văn học Việt Nam 11
1.1.2 Những quan niệm khác nhau và đặc trưng của kí văn học 14
1.2. Kí trong sự nghiệp sáng tác văn học của Hoàng Phủ Ngọc Tường 19
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
5
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong văn xuôi, thể kí văn học đã xác lập cho mình một vị trí quan
trọng bởi những đặc điểm khả năng có tính ưu trội của mình. Là thể loại cơ
động, linh hoạt, nhạy bén trong việc phản ánh hiện thực đời sống song kí văn
học rất kén người sử dụng. Kí văn học là sân chơi thử sức cho mọi nhà văn
nhưng dùng kí để viết cho hay cho ấn tượng là không dễ. Kí đã lôi cuốn khơi
gợi lòng tin nơi độc giả bằng việc phản ánh chân thật hiện thực đời sống ở
những khía cạnh tiêu biểu, ở tính có vấn đề “tác phẩm kí vừa có khả năng
đáp ứng được yêu cầu bức thiết của thời đại, đồng thời vẫn giữ được tiếng nói
vang xa sâu sắc của nghệ thuật”[32,Tr.184]. Không chỉ có vậy, kí không gò
bó người viết trong một phương thức biểu hiện mà mở rộng khả năng sáng tạo
của nhà văn – khơi mạch nguồn vô tận của sự sáng tạo, của cảm xúc con
người. Khám phá sâu sắc về đối tượng, đề xuất được những tư tưởng quan
niệm có ý nghĩa đối với đời sống hiện thực, vừa chạm đến chiều sâu cảm xúc
con người…ta có thể thấy, kí là nơi gặp gỡ của những nhân tố: trí tuệ và cảm
xúc, sự thật cuộc sống và giá trị nghệ thuật đích thực…
Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) là một trong những tác giả tiêu biểu
có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của nền văn xuôi hiện đại
Việt Nam. Nắm bắt được thế mạnh của kí và như là duyên kì ngộ, HPNT đã
tìm thấy thể loại phù hợp để chuyển tải hết những cảm xúc suy tư trăn trở của
một đời cầm bút. Điều đáng ghi nhận với một tác giả không phải là ở khả
năng có thể sáng tác ở nhiều thể loại văn học mà là phần đóng góp thật sự của
người viết dù chỉ là với một thể loại văn học duy nhất. HPNT cũng trong
đọc, yêu kí của HPNT.
Đánh giá chung về sự nghiệp văn chương của HPNT có ý kiến cho
rằng: “ Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa
chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với tư duy đa chiều được 7
tổng hợp từ vốn tri thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí…tất
cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài
hoa”[68, tr197] Trong kí của HPNT hội tụ đủ những vẻ đẹp giá trị đó.
Lí do của việc lựa chọn đề tài này bởi vì chúng tôi là giáo viên dạy môn
Văn ở THPT. Sách giáo khoa lớp 12 có in tác phẩm: Ai đã đặt tên cho dòng
sông? là một trong những tác phẩm kí xuất sắc nhất của HPNT nói riêng và
trong nền văn học nước ta nói chung. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả của
Ai đã đặt tên cho dòng sông? từng được nhà văn Nguyên Ngọc đánh giá là
“một trong mấy nhà văn viết kí hay nhất của văn học ta hiện nay”. Tác phẩm
lần đầu tiên được đưa vào giảng dạy ở trường THPT và đã nhận được sự
hưởng ứng, thích thú của nhiều giáo viên và học sinh. Tuy nhiên, một tác
phẩm hay đôi khi lại không dễ dạy, không dễ học. Vì thế, bên cạnh những
thích thú, yêu mến nhất định, nhiều thầy, cô giáo và học sinh còn gặp khó
khăn trong cách cảm nhận về cái hay, cái đẹp của bài kí. Đi nghiên cứu sâu về
kí của HPNT sẽ hỗ trợ chúng tôi rất nhiều trong quá trình giảng dạy bộ môn ở
THPT. Đồng thời, xuất phát từ tình cảm yêu mến trân trọng tài năng và tâm
hồn nhà văn, ấn tượng với sự linh hoạt hiện đại của thể kí trong nền văn xuôi
hiện đại chúng tôi đã lựa chọn đi sâu nghiên cứu đề tài: Đặc điểm kí của
HPNT dưới góc nhìn thể loại.
2. Lịch sử vấn đề
Hiện nay các công trình nghiên cứu về HPNT khá phong phú và nhiều
cấp bậc, từ các công trình nghiên cứu đăng trên các báo, tạp chí cho đến luận
văn, luận án tiến sĩ. Hầu hết các bài viết công trình đều thể hiện sự dày công
phố Hồ Chí Minh, 2006); Văn xuôi Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc
Tường từ góc nhìn văn hoá của Ngô Minh Hiền (Luận án tiến sĩ Ngữ văn,
Viện Văn học, 2009)…
Đi tìm hiểu vấn đề chúng tôi thấy ở mỗi công trình nghiên cứu đều ghi
nhận giá trị từ những trang kí của HPNT cũng như đóng góp của ông đối với
thể kí nói riêng và văn học nói chung. Khi đọc qua tên đề tài ta cảm tưởng 9
như có sự trùng lặp nội dung nhưng thực chất ngoài những vấn đề mà mọi
công trình đều thừa nhận, chung quan điểm khi đánh giá, ta cần ghi nhận có
những cố gắng tìm tòi phát hiện riêng trong mỗi công trình. Chính điều đó đã
bồi đắp cho kí của HPNT những giá trị mới, mở ra nhiều cánh cửa để bạn đọc
tiếp cận với tác phẩm kí của ông. Nghiên cứu đặc điểm kí của HPNT dưới góc
nhìn thể loại không phải là vấn đề thực sự mới mẻ song là điều cần thiết bởi ở
mỗi đề tài đều đem lại cơ hội tiếp cận, nghiên cứu sâu vấn đề cho người tham
gia nghiên cứu. Đây là điều kiện giúp ta đi sâu hiểu đặc trưng làm nên giá trị
độc đáo cho thể kí bằng những lí luận, thống kê mang tính khoa học.Việc
nghiên cứu này cũng giúp ta có cái nhìn tổng thể toàn diện về giá trị tác phẩm
kí của HPNT cũng như tìm thấy những giá trị mới trong tác phẩm của ông.
3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu
Chất trí tuệ và cảm xúc, sự thật cuộc sống và giá trị nghệ thuật đích
thực, những nhân tố mới làm nên giá trị và phong cách riêng cho kí của
HPNT khi soi chiếu dưới góc độ đặc trưng thể loại là những vấn đề cơ bản mà
luận văn lựa chọn trình bày.
Kí của HPNT không phải là một thể loại thuần nhất. Trong sáng tác của
ông ghi nhận có sự giao thoa, thâm nhập của nhiều tiểu loại khác nhau như:
tuỳ bút, bút kí, nhàn đàm, truyện kí…Nhắc đến ông độc giả thường chú ý
nhiều đến bút kí – tiểu loại đem đến không chỉ áp đảo về số lượng mà còn ở
giá trị nội dung và nghệ thuật phong phú độc đáo của chúng. Luận văn chủ
1.1.1. Sự xuất hiện và phát triển của thể kí trong văn học Việt Nam
Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào khẳng định chắc chắn kí
có từ bao giờ? ra đời đầu tiên ở đâu? mà chỉ dừng lại ở những nhận định dè
dặt cho rằng những hình thức ghi chép có tính chất kí đã xuất hiện từ rất sớm
gắn liền với sự xuất hiện của chữ viết. Đó là hiện tượng phổ biến trong mọi
cuốn sách cổ ghi chép lại những điều mắt thấy tai nghe lưu truyền trong dân
gian. Ở thời kì “văn - sử - triết bất phân” công việc ghi chép vừa là sử học
vừa là văn học đồng thời còn thể hiện những tư tưởng triết học. Phạm vi đề tài
của luận văn không đi sâu vấn đề vừa nêu trên mà đi tìm hiểu vài nét sơ lược
về sự xuất hiện và phát triển của thể kí trong văn học Việt Nam, giúp người
viết có cái nhìn hệ thống về sự phát triển của thể kí, đó là sự phát triển có tính
chất kế thừa, tiếp nối truyền thống và sự có sự sáng tạo cho phù hợp với xu
thế phát triển của thời kì mới.
Ở Việt Nam, nếu tính cả một số thể có tính chất vay mượn từ Trung
Quốc như bi, kí, tự, bạt…kí xuất hiện từ thời Lí, Trần, càng về sau các tác
phẩm càng trở nên phong phú, sáng tạo và có giá trị. Nửa cuối thế kỉ XVIII và
đầu thế kỉ XIX, hoàn cảnh xã hội Việt Nam có nhiều biến động sâu sắc, hiện
thực đời sống vô cùng phong phú. Đây cũng là thời kì ghi nhận sự phát triển
sôi động của đời sống văn học. Nền văn học dân tộc thuộc ý thức hệ phong
kiến đạt đến đỉnh cao. Văn chương lúc này không chỉ phản ánh hiện thực bên
ngoài mà còn thể hiện sâu sắc đời sống tâm hồn của con người. Liên quan đến
yêu cầu thời đại và ý thức xã hội mới nền văn học đã đặt ra yêu cầu phải có
những loại thể mới phù hợp với nội dung đang cần phản ánh cùng với quan 12
điểm thẩm mỹ, trình độ tác giả đang ngày càng nâng cao…và kí là sự lựa
chọn phù hợp. Từ đó đã cho ra đời một số tác phẩm kí tiêu biểu như: Vũ trung
tuỳ bút của Phạm Đình Hổ, có những tác phẩm kí đến từ ghi chép lịch sử như:
Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác, Quân trung từ mệnh tập của Nguyễn
nhất định như Truyện và ký sự của Trần Đăng, Ở rừng của Nam Cao, Ký sự
Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng, Vỡ tỉnh của Tô Hoài, Sống như anh của
Trần Đình Vân, Những ngày nổi giận của Chế Lan Viên, Họ sống và chiến
đấu của Nguyễn Khải, Đường lớn của Bùi Hiển, Miền đất lửa của Nguyễn
Sinh và Vũ Kì Lân, Rất nhiều ánh lửa của Hoàng Phủ Ngọc Tường v.v…Đó
thường là những trang kí ca ngợi nhân dân đất nước trên con đường đấu tranh
anh dũng vì độc lập tự do của dân tộc.
Sau khi chiến tranh chống Mỹ cứu nước đi đến thắng lợi đất nước
thống nhất, sự phong phú nhiều chiều của hiện thực đời sống, chính sách cởi
mở của thời kì Đổi mới đã tạo điều kiện cho các cây bút thoả sức sáng tạo
song cũng đặt ra cho yêu cầu thách thức làm sao ở nhiều thể loại trong đó có
kí sự phản ánh kịp thời, phong phú đầy đủ và ở thế trực tiếp nhất hiện thực
phong phú sôi động ấy. Bản thân HPNT đã từng thú nhận: “một nhà văn
trong thời đại tôi, tôi tạm dịch nghĩa, là một tay chúa Chổm mang nợ đất
nước của mình cho đến chết”[15, tr.428]. Kí trong thời kì Đổi mới cũng đem
đến cho bạn đọc nhiều trải nghiệm thú vị. Nhằm đổi mới tư duy, đổi mới cách
đánh giá tình hình, Báo cáo chính trị tại đại hội Đảng lần thứ VI đã nhấn
mạnh: nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và nói rõ sự thật. Vấn đề
này đã liên quan trực tiếp và sâu sắc đến toàn bộ hoạt động sáng tác của thể
kí. Sự khởi sắc, cởi mở của hoạt động sáng tác tác phẩm kí theo tinh thần đổi
mới trước hết biểu hiện ở sự ra đời của các tác phẩm kí với những tìm tòi mới
về nội dung và sự phát triển đa dạng của phong cách, tiểu loại Nêu cao ý
thức trách nhiệm, tinh thần thẳng thắn, trung thực, các nhà viết kí đã dũng
cảm nhìn thẳng vào sự thật phong phú, phức tạp, phát hiện những vấn đề gai
góc của đời sống, khám phá hiện thực con người trên nhiều bình diện, nhiều 14
góc cạnh. Bên cạnh đó, họ tích cực đi vào các vấn đề nóng bỏng của cuộc
sống, mạnh dạn nói lên những thật cay đắng và gai góc trong xã hội mà trước
thứ cấp (sour - littéraire), chỉ đáng để viết nhì nhằng trên báo chí, gọi là để
phản ánh kịp thời; còn nếu viết sâu hơn nữa thì không phải là ký. Tôi không
công nhận một cách nhìn thể ký như vậy. Tôi sẽ vừa viết đúng sự thật, vừa cố
gắng viết cho sâu” [94].
Trên con đường phát triển của lịch sử văn học dân tộc, thể kí đã khẳng
định được vai trò, khả năng thích ứng với tình hình thực tế của mình. Cũng có
không ít quan điểm khẳng định vị trí vai trò của kí trong đời sống xã hội và
đời sống văn học. Cho đến giờ có rất nhiều khái niệm được đưa ra. Có ý kiến
cho rằng: “Kí là một thuật ngữ được dùng để gọi tên một thể loại văn học bao
trùm nhiều thể hoặc tiểu loại: bút kí, hồi kí, du kí, kí chính luận, phóng sự, tuỳ
bút, tản văn, tạp văn, tiểu luận (ét-xe)”[43, tr.5]. Theo từ điển thuật ngữ văn
học: “ Kí là một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học,
gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, kí
sự, nhật kí, tuỳ bút,…[35, tr.137]. Với kinh nghiệm nhiều năm gắn bó với
nghề viết văn, nhà văn Tô Hoài cũng ghi nhận: “Từ chỗ bắt đầu như chỉ là
những ghi chép có tính chất ghi chép tài liệu, kí đã trở thành một vũ khí lợi
hại của các nền văn học tiến bộ và cách mạng trong cuộc đấu tranh chống kẻ
thù giai cấp”[33, tr.212]. Tóm lại, có ý kiến xoay quanh việc phân loại, xếp
nhóm cho kí, song cũng có ý kiến ghi nhận những đóng góp của kí trên mặt
trận đấu tranh vì sự tiến bộ xã hội và sự phát triển của đời sống văn học, như
nhà nghiên cứu lí luận Hà Minh Đức thừa nhận: “Sự có mặt của các thể kí
văn học đã góp phần làm cho nền văn học cân đối, nhiều màu sắc và giàu
tính chiến đấu” [32, tr.325]. Không dừng lại ở việc phản ánh hiện thực cuộc
sống vốn như nó có ở thế trực tiếp nhất và ở những nét sinh động, tươi mới
nhất, kí còn tạo ra không gian sáng tạo, ghi nhận nhiều sự tìm tòi sáng tạo
trong thi pháp. Có một khái niệm đã đẩy kí đi xa hơn khả năng phản ánh hiện
thực đưa kí về đúng địa hạt của chúng mà bấy lâu nay vô tình bị lãng quên 16
Hiện thực khách quan phản ánh trong kí văn học được tái tạo thông qua
cảm xúc thẩm mĩ của nhà văn. Mặc dù có điểm xuất phát từ hiện thực, song kí
văn học cho phép tác giả sử dụng thủ pháp hư cấu. Sự hư cấu ở đây không có
nghĩa là thêm thắt, bịa đặt vô căn cứ. GS. Hà Minh Đức đã từng đưa ra ý kiến
về vấn đề này như sau: “Trong tác phẩm kí văn học, “hư cấu nghệ thuật”
được vận dụng giới hạn trong khuôn khổ người thật việc thật và người viết có
thể hư cấu ở thành phần không xác định” [32, tr.190]. Trên cơ sở nắm được
cái lõi và bản chất của sự kiện vấn đề người viết vẫn có thể bồi đắp thêm
những chi tiết cho tác phẩm thêm phần sinh động. Sự hư cấu trên nguyên tắc
tôn trọng tính xác thực của đối tượng miêu tả đó là một thách thức đối với
người viết kí song khi vượt qua được điều đó hư cấu mà vẫn giữ được tính
xác thực độ tin cậy của đối tượng, niềm tin cho độc giả đó sẽ là tín hiệu tích
cực của nghệ thuật.Với vấn đề hư cấu trong kí, HPNT là một trong số ít tác
giả làm được điều này và tạo nên nét riêng trong kí của ông.
Do hướng đến những phạm vi thông tin và nhận thức đa dạng, ký cũng
rất phong phú, bao gồm nhiều thể, nhiều tiểu loại. Một số tiểu loại thường
xuất hiện trong kí của HPNT là:
Hồi ký: đó là những ghi chép có tính chất suy tưởng của cá nhân về quá
khứ, một dạng gần như tự truyện của tác giả. Hồi ký cung cấp những tư liệu
của quá khứ mà đương thời tác giả chưa có điều kiện nói được. Khác với nhật
ký, do đặc thù thời gian đã lùi xa, sự kiện trong hồi ký có thể bị nhớ không
chính xác hoặc tưởng tượng thêm mà người viết không tự biết. Ở tiểu loại này
HPNT thường chọn đề tài hồi kí về chiến tranh.
Bút ký: nằm trung gian giữa ký sự và tùy bút, bút ký thiên về ghi lại
một cảnh vật mà nhà văn mắt thấy tai nghe, thường trong các chuyến đi. Bút
ký tái hiện con người và sự việc một cách phong phú, sinh động, nhưng qua
đó biểu hiện khá trực tiếp khuynh hướng cảm xúc suy nghĩ của tác giả, mang
màu sắc trữ tình. Kết hợp linh hoạt các phương thức nghị luận, tự sự, trữ tình
19
ấy lại chứa đựng bên trong sự phi lí bởi hành vi ứng xử của chính con người.
Trên tinh thần dân chủ cởi mở, với cách viết ngắn gọn súc tích, nhàn đàm của
HPNT phản ánh trung thực những thử thách nhức nhối đang đặt ra trong cuộc
sống, ở đó ông được nương theo dòng cảm xúc, suy nghiệm cuộc đời, gửi
gắm đến bạn đọc triết lí sống quan niệm nhân sinh giản dị mà sâu sắc.
Hiện nay nếu ta chỉ căn cứ điểm nào nổi trội trong tác phẩm để quy về
một thể loại nhất định sẽ là phiến diện bởi trên thực tế có sự giao thoa giữa
các thể loại. Thể kí trong sáng tác của HPNT có hiện tượng giao thoa khó
phân định rạch ròi giữa các tiểu loại. Một số tiểu loại chủ yếu xuất hiện
trong kí của HPNT: tuỳ bút, bút kí, nhàn đàm, truyện kí…trong số đó HPNT
viết nhiều bền bỉ nhất vẫn là bút kí. Ngay cả tiểu loại nhàn đàm cũng được
HPNT coi là những bút ký thu nhỏ [94]. Sự chọn lựa không chỉ thể hiện tinh
thần kế thừa giá trị văn hoá văn học mà thế hệ đi trước tạo dựng, HPNT còn
chọn bút kí bằng sự tinh tế, nỗi ưu tư thế sự, nhu cầu sáng tạo, và bằng cả
thái độ dũng cảm, tự tin vào khả năng sáng tạo của mình. Dù viết dưới hình
thức nào kí của ông vẫn là những bức tranh chân thực về đời sống qua đó tác
giả có dịp bộc lộ trực tiếp cảm xúc, suy tư, quan điểm của mình trước những
hiện tượng của đời sống. Dù viết nghiêng theo tiểu loại nào, kí của HPNT sẽ
là nơi gặp gỡ của những nhân tố: trí tuệ và cảm xúc, sự thật cuộc sống và giá
trị nghệ thuật đích thực.
1.2. Kí trong sự nghiệp sáng tác văn học của Hoàng Phủ Ngọc Tường
1.2.1. Đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Hoàng Phủ
Ngọc Tường
Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937 tại
Huế. Nguyên quán ở làng Bích Khê, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Nhưng Huế có sức ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời ông bởi HPNT đã từng
bộc bạch: “Huế là nơi tôi đã sinh ra, lớn lên, đã tranh đấu và chiến đấu, đã
yêu thương, đã sống một đời công dân và một cuộc đời riêng tư”[16, tr.31];
sinh đi vào xã hội miền Nam và toả ra đến tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ, sinh 21
viên. Trong bài Sartre trong đời tôi Nguyễn Văn Trung đã tìm thấy ở Sartre
một hướng suy nghĩ phù hợp với người trí thức dấn thân: “Chúng ta không có
thời đại nào khác, ngoài thời đại hiện nay của chúng ta. Có thể có thời đại
khác thanh bình hơn, đẹp hơn, nhưng đó không phải thời đại của ta, thời đại có
chiến tranh nóng lạnh giữa hai khối, thời đại có mối đe doạ thường xuyên của
bom nguyên tử, thời đại đế quốc chủ nghĩa, thực dân xâm lăng… Chúng ta
không có quyền lựa chọn hoàn cảnh, thời đại, nhưng chỉ có thể lựa chọn trong
hoàn cảnh, thời đại của ta” [66, tr.19]. Tiếp nhận tư tưởng triết học của chủ
nghĩa hiện sinh một cách có chọn lọc kết hợp với sự thấu nhận tinh thần của
quẻ Vị Tế trong Kinh Dịch của tư tưởng triết học phương Đông, HPNT không
giam mình trong sự cô đơn với phản ứng “nổi loạn”, “tận hưởng cuộc đời”
thường thấy của một bộ phận thanh niên nông nổi một thời không tìm thấy
đường đi trong chiến tranh - ảnh hưởng từ chủ nghĩa hiện sinh. HPNT đã sống
với triết học hiện sinh ở phương diện tư tưởng khác đó là chúng giúp ông gợi
lên những suy tư, trăn trở về thân phận con người, ý thức trách nhiệm trước
tình cảnh đất nước và chọn lựa thái độ ứng xử cũng như hành động nhập cuộc
vì thế nhân. Ta nhìn thấy ở ông tâm thế của kẻ vượt sông với thái độ nhập thế
sôi nổi đầy trách nhiệm với đời.
Tham gia sáng tác ở nhiều thể loại: truyện ngắn, thơ, kí, nhàn đàm…thể
loại nào HPNT cũng gặt hái được những thành công nhất định nhưng bao giờ
những tác phẩm kí nói chung bút kí nói riêng cũng được coi là những sáng tạo
tiêu biểu có giá trị hơn cả. Bút kí của ông luôn in đậm dấu ấn riêng, vừa mê
đắm, vừa tài hoa, bộc lộ bản lĩnh sáng tạo đặc sắc của người nghệ sĩ. Làm sao
có thể lựa chọn thể loại có được khả năng diễn tả được mọi ý muốn sáng tác
của con người? Cuối cùng ông đã chọn thể tùy bút, bút kí như là một giải
pháp hữu hiệu nhất có lẽ bởi như có nhà nghiên cứu lí luận đã thừa nhận:
để ông trả món nợ cuộc đời đã ấn định cho người nghệ sĩ. HPNT đã kế thừa
phát huy xuất sắc thể kí của thế hệ đi trước đồng thời ông thổi hồn vào thể bút
kí, tạo nên sự biến đổi về chất, làm cho thể bút kí mang một sức sống mới. 23
Chính HPNT đã làm cho thể bút kí thăng hoa và ngược lại, thể văn cũng làm
nên một HPNT với vị trí xứng tầm với thế hệ đàn anh, là một trong số những
nhà bút kí tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam hiện đại.
Tính đến nay đã có 9 tập bút kí của ông được xuất bản: Ngôi sao trên
đỉnh Phu Văn Lâu (1972), Rất nhiều ánh lửa (1979), Ai đã đặt tên cho dòng
sông (1984), Bản di chúc của cỏ lau (1984), Hoa trái quanh tôi (1995), Huế-
Di tích và con người (1996), Ngọn núi ảo ảnh (2000) Trong mắt tôi (2001) và
Rượu hồng đào chưa nhắm đã say (2001). Ngoài ra còn có một số bút kí đăng
trên các báo. Gần đây nhất cuốn Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường (Tập I –
II - II và IV) có thể tạm xem như là Toàn tập của HPNT. Trong đó, Tập I, 340
trang, gồm 80 bài được chọn ra trong 114 bài viết từ nǎm 2000 trở về trước,
thu thập những bài Nhàn Đàm đã đăng rải rác trên báo Thanh Niên; Tập II,
860 trang, gồm có 31 bút ký rút ra từ 9 tác phẩm đã in từ 1972 đến nay, những
ký sự thời thế và chiến tranh pha ít nhiều chính luận được sắp xếp lại theo trật
tự thời gian, đó là những tác phẩm tiêu biểu đã xác lập cho HPNT một vị trí
xứng đáng cho nhà viết kí nói riêng và trong nền văn học Việt Nam hiện đại
nói chung; Tập III, 410 trang, gồm 49 bài được chọn ra từ các tập bút ký và
nhàn đàm đã được xuất bản và có thể xem như phần nối dài của tập II, được
dành cho những bút ký thiên về chính luận, biên khảo và bút ký nhân vật
nhưng dù viết về đề tài gì, dù nghiêng về phong cách ngôn ngữ văn bản nào,
bút ký của HPNT vẫn chỉ là một. Trong tập này, các bài được sắp xếp theo
từng cụm đề tài về địa dư, lịch sử, từng nhân vật để bạn đọc có thể theo dõi
một cách tập trung; chẳng hạn, những bài viết về Huế, về Nguyễn Trãi, Trịnh
Công Sơn, Phùng Quán, Đinh Cường Tập IV, 200 trang, là phần Thơ, bắt
dòng nước rủi do bị lạc đường…Nhưng khi dòng nước đã nhập được vào sông
nhất định nó sẽ ra đến biển” [15, tr.38]. Thái độ nhập thế sôi nổi đầy trách
nhiệm với đời của HPNT đã chứng tỏ quan điểm sống tích cực, khát vọng vươn
ra biển lớn ấy là tình cảm thiêng liêng trong mỗi con người Việt Nam đó là
lòng yêu nước một cách tự nguyện, ý thức trách nhiệm của một công dân với 25
dân tộc. Đây là điều kiện để nhà văn cắm rễ sâu vào đời sống hiện thực. Nếu
HPNT không trải qua một cuộc đời đầy ắp những sự kiện với cuộc chiến diễn
ra dữ dội, thì không thể và không có những trang viết về những vấn đề thời sự
nóng bỏng của cuộc chiến tranh và đào sâu phản ánh số phận con người trong
chiến tranh và trong hoà bình chân thực và tỉnh táo đến thế.
HPNT tự coi mình là “người ham chơi”, như nhà văn Nguyên Ngọc đã
từng thấy ở HPNT một người “ham sống đến mê mải, sống và đi, đi để được
sống, với đất nước, với nhân dân, với con người, đi say mê và say mê viết về
họ…”[15, tr.847]. Ở góc độ nào đó chơi cũng mang nét hàm nghĩa văn hoá
nếu mục đích của chơi là hưởng thụ văn hoá, thẩm mỹ, triết lý nhân sinh…
Bởi vậy, HPNT thấu suốt “ ham chơi là cách sống đạt đạo của con người đã
nhìn thấy từ lâu bản chất phù hư của thế giới, hiểu rõ rằng những giá trị vật
chất có khả năng đến đâu trong cuộc mưu cầu hạnh phúc cho con người” [14, tr
63]. Bởi nhận thấy “hình như trong mỗi con người Huế ham chơi vẫn tiềm ẩn
một “cái tôi thứ hai” sẵn sàng nhảy vào lửa”[15, tr.839] nên HPNT đã sống
một đời bằng tâm thế của “kẻ lên đường”, “kẻ vượt sông” luôn nhìn về phía
trước hăm hở trong niềm khát vọng nhập thế, để thâm nhập sâu vào đời sống xã
hội. Có thể thấy đây là yếu tố đặc biệt cần của con người cầm bút. Trong một lần
trò chuyện với giới trẻ yêu mến kí của ông, HPNT có tâm sự: “vừa rồi Garcia
Marquez đã xuất bản cuốn tự truyện “Sống để kể lại”. Đó chính là sứ mạng của
nhà văn. Trước hết, anh ta phải sống đã, sống cho đúng nghĩa của một con
người. Rồi mới viết. Nhà văn không đứng cao hơn thời đại của mình. Anh ta là