Khóa luận: TRUYỆN LỊCH SỬ NGUYỄN HUY TƯỞNG DƯỚI GÓC NHÌN THỂ LOẠI - Pdf 38

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC\ TIỂU HỌC

NGUYỄN THỊ THANH VÂN

TRUYỆN LỊCH SỬ NGUYỄN HUY TƯỞNG DƯỚI
GÓC NHÌN THỂ LOẠI
(KHẢO SÁT QUA HAI TÁC PHẨM: LÁ CỜ THÊU SÁU CHỮ VÀNG VÀ KỂ
CHUYỆN QUANG TRUNG)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học trẻ em

Người hướng dẫn khoa học
GV. ThS. Đỗ Thị Huyền Trang
LỜI CẢM ƠN

HÀ NỘI, 2014
1


LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS. Đỗ Thị Huyền Trangngười đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa
luận. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Giáo dục
Tiểu học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã quan tâm, tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Trong khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Kính
mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo và các bạn.

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

3. Mục đích nghiên cứu

2

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4

5. Phương pháp nghiên cứu

4

6. Cấu trúc khóa luận

4

NỘI DUNG

5

Chương 1: Đôi nét về truyện lịch sử trong văn học Việt Nam trước
1945 đến nay và truyện lịch sử Nguyễn Huy Tưởng

5

1.1. Khái niệm “truyện lịch sử”

5

1.2. Các chặng đường phát triển của truyện lịch sử trong văn xuôi Việt


2.2. Khắc họa chân dung những con người làm nên lịch sử

25

2.2.1. Chân dung người anh hùng thiếu niên

25

2.2.2. Chân dung người anh hùng áo vải

29

2.2.3. Chân dung những con người bình dị đấu tranh bảo vệ đất nước

36

2.3. Truyện lịch sử Nguyễn Huy Tưởng đậm màu sắc anh hùng ca

47

KẾT LUẬN

54

TÀI LIỆU THAM KHẢO

56



Trong không khí hướng về cội nguồn hôm nay, việc nghiên cứu các tác
phẩm văn học viết về đề tài lịch sử có ý nghĩa quan trọng nhằm giáo dục
truyền thống, giáo dục những tình cảm thẩm mỹ và khẳng định bản sắc dân
tộc Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và giao lưu quốc tế. Tìm hiểu truyện
lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng, với chúng tôi cũng không nằm ngoài ý nghĩa đó.
Từ những lý do trên đây, kế thừa và tiếp thu các ý kiến có tính chất gợi
mở của các nhà nghiên cứu về Truyện lịch sử Nguyễn Huy Tưởng, cùng với
niềm say mê truyện lịch sử, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: Truyện lịch
sử Nguyễn Huy Tưởng từ góc nhìn thể loại (Khảo sát qua hai tác phẩm: Lá
cờ thêu sáu chữ vàng và Kể chuyện Quang Trung).
2. Lịch sử vấn đề
Từ lâu, cái tên Nguyễn Huy Tưởng đã trở lên quen thuộc với bạn đọc ở
nhiều lứa tuổi khác nhau. Nguyễn Huy Tưởng là nhà viết văn, viết kịch tài
năng. Cho đến nay, số lượng các bài viết, các công trình nghiên cứu, phê bình
và giới thiệu về con người và sự nghiệp của Nguyễn Huy Tưởng tuy chưa
sánh bằng những tên tuổi cùng thời như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Xuân
Diệu, Hàn Mạc Tử… nhưng cũng không phải là con số khiêm tốn. Hầu hết
những bài viết và các công trình nghiên cứu về ông đều là của các tác giả có
tên tuổi, uy tín trong giới nghiên cứu.
Các tác giả Nguyễn Bích Thu và Tôn Thảo Miên đã biên soạn và chọn
những bài phê bình, nghiên cứu có chất lượng về nhà văn trong cuốn Nguyễn
Huy Tưởng - về tác gia và tác phẩm. Đây là một công trình nghiên cứu khá
công phu và đầy đủ về Nguyễn Huy Tưởng trong những tác phẩm viết cho
thiếu nhi và cả người lớn. Cũng là một trong những tác giả tâm huyết với văn
học thiếu nhi, nhà văn Tô Hoài đã từng coi Nguyễn Huy Tưởng là một cây
bút sử thi hết sức hùng tráng. Trong bài viết Truyện viết cho thiếu nhi của
Nguyễn Huy Tưởng, ông đã nhận xét: “Anh thèm có những tài năng nào đó
đem được cả nghìn năm lịch sử dựng nước biến thành lịch sử chói lọi hàng




trước, chúng tôi đi tìm hiểu đề tài Truyện lịch sử Nguyễn Huy Tưởng dưới
góc nhìn thể loại (Khảo sát qua hai tác phẩm: Lá cờ thêu sáu chữ vàng và
Kể chuyện Quang Trung).
3. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc khảo sát, phân tích hai tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ
vàng và Kể chuyện Quang Trung viết về đề tài lịch sử của Nguyễn Huy
Tưởng, khóa luận nhằm tìm hiểu và làm nổi bật lên những nét đặc trưng riêng
biệt, độc đáo của truyện lịch sử Nguyễn Huy Tưởng so với các tác giả khác.
Qua đó, khẳng định tài năng, vị trí, đóng góp của Nguyễn Huy Tưởng đối với
sự phát triển của nền văn học Việt Nam nói chung và văn học thiếu nhi nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu truyện lịch sử Nguyễn Huy Tưởng dưới góc nhìn thể loại.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu một số phương diện đặc sắc trong truyện lịch sử từ góc nhìn
thể loại qua các tác phẩm: Lá cờ thêu sáu chữ vàng và Kể chuyện Quang Trung.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử.
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp thống kê.
6. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của khóa
luận được triển khai trong 2 chương:
Chương 1: Đôi nét về truyện lịch sử trong văn học Việt Nam từ trước
1945 đến nay và truyện lịch sử Nguyễn Huy Tưởng.
Chương 2: Truyện lịch sử Nguyễn Huy Tưởng từ góc nhìn thể loại.



bổ ích và mỹ cảm văn học. Về phương diện bút pháp, một mặt phải dựa vào
lịch sử nhưng mặt khác vẫn cho phép hư cấu trong một chừng mực thích hợp,
nhằm phát huy trí tưởng tượng làm cho sự chân thực lịch sử được thăng hoa
thành chân thực nghệ thuật” [11].
Trong lời giới thiệu tiểu thuyết Quận He khởi nghĩa, tác giả Nguyễn
Lương Bích trình bày quan niệm của mình về tiểu thuyết lịch sử: “Một loại
hình văn học có tác dụng mạnh trong giáo dục tư tưởng cho quần chúng, nó
đem kiến thức lịch sử đến cho người đọc không bằng sử liệu, số liệu, không
bằng lí luận, phân tích mà bằng con đường tình cảm. Nó dùng nghệ thuật sáng
tạo, dùng hình ảnh văn học để làm rung động người đọc, làm cho người đọc
hiểu lịch sử thông qua những cái hay cái đẹp của văn học nghệ thuật” [2; 9].
Với kinh nghiệm sáng tác của mình, nhà văn Hà Ân, người chuyên viết
truyện lịch sử cho rằng: “Truyện lịch sử là những sáng tác văn học lấy đề tài
rút ra trong lịch sử, có mục đích giáo dục truyền thống cho các em, nhưng
chính là phải gợi cho các em những suy nghĩ về hiện tại và khơi lên những
ước mơ mới về tương lai cho tâm hồn các em. Đó cũng là cách nói lấy xưa để
phục vụ nay mà thôi” [1].
Trong công trình của các tác giả Bùi Văn Lợi, Đỗ Hải Ninh, Trần Thị
Quỳnh Hoa, Lê Thị Chung, đã khảo sát các truyện viết về lịch sử của Nguyễn
Tử Siêu, Lan Khai, Phan Trần Chúc... và Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Xuân
Khánh... và đều gọi là tiểu thuyết lịch sử.
Từ những ý kiến khác nhau của các tác giả nêu trên, tôi thấy những
cách gọi tên của các tác giả về khái niệm truyện lịch sử và tiểu thuyết lịch sử
thì khác nhau nhưng về nội dung lại có nhiều nét tương đồng. Thực tế cho
thấy, trong sáng tác, ranh giới của các thể loại nhiều khi chỉ có ý nghĩa tương
đối. Sự phân biệt giữa truyện, truyện vừa, truyện dài, tiểu thuyết được nhìn


nhận trong sự khác biệt về quy mô, dung lượng của tác phẩm. Trong khóa
luận này, chúng tôi coi truyện lịch sử là tên gọi của các truyện vừa, truyện dài,

Phiền, đã nói lên quan niệm nghệ thuật mới mẻ rất khác với tiểu thuyết trung
đại về cuộc sống, xã hội và con người. “Đã biết rằng dân ta chẳng thiếu chi
thơ văn phú truyện nói về những đấng anh hùng hào kiệt, những tay tài cao trí
cả rồi đó, mà những đấng thuộc về đời xưa, nay chẳng còn nữa. Bởi vì đó tôi
mới dám bày đặt một chuyện đời nay là sự thường có trước mắt ta luôn như
vậy sẽ có nhiều người lấy lòng vui mà đọc, kẻ thì cho quen mặt chữ, người thì
cho đặng giải buồn một giây”.
Những người cầm bút cảm thấy cần có một hướng đi mới trong sáng
tác, ngoài những đề tài quen thuộc. Đó là mong muốn được nói lên khát vọng
của cả một dân tộc, muốn tìm lại “hồn nước” một thời được cất lên từ các sĩ
phu yêu nước đầu thế kỷ XX. Nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thời đại,
trong điều kiện bấy giờ, để tránh sự kiểm duyệt khắt khe của kẻ thù, không
còn cách nào khác là lấy chuyện lịch sử ngày xưa để nói bóng nói gió sang
chuyện đương thời. Tái hiện quá khứ hào hùng của dân tộc là để ấp ủ lòng
yêu nước, nhắc nhở quốc dân đồng bào đừng bao giờ quên quá khứ và phải
làm điều gì đó cho hiện tại, cái việc mà ông cha đã làm. Các nhà văn không
chỉ nói không mà họ còn chứng tỏ bằng việc sáng tác những tác phẩm tiểu
thuyết lịch sử lấy đề tài từ lịch sử dân tộc, thể hiện một tinh thần yêu nước, tự
hào về truyền thống dân tộc, góp tiếng nói vào phong trào đấu tranh của nhân dân.
Trong những năm 1920 và đầu những năm 1930 truyện lịch sử phát
triển nhanh chóng với số lượng tác phẩm và tác giả ngày càng nhiều, chất
lượng cũng cao hơn trước. Nhiều tác phẩm đã gây được tiếng vang trong công
chúng cả nước như cuốn Giọt máu chung tình (1925) của Tân Dân Tử.
Truyện lịch sử lúc này ít đi theo hướng “ngoại sử” chuyển sang hướng “dã


sử”. Đặc điểm của tiểu thuyết “dã sử” là: có nhân vật chính là những anh
hùng dân tộc, nhân vật có thật trong lịch sử. Sở dĩ có sự chuyển hướng này,
theo chúng tôi, có lẽ một phần do xuất hiện nhiều tiểu thuyết dịch của Trung
Quốc có tính “dân tộc” như Hồi trống tự do, Hồng Tú Toàn, Trung Hoa

lịch sử để sáng tác nhằm khích lệ phong trào đấu tranh chống thực dân, phong
kiến và bộc lộ lòng yêu nước của mình. Trong số đó tiêu biểu là Phan Bội
Châu với Trùng Quang tâm sử, Nguyễn Tử Siêu với Bà Triệu, Hai Bà đánh
giặc...
Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu kể về những anh hùng hào
kiệt ở Nghệ An lấy danh nghĩa nhà Trần phát động cuộc khởi nghĩa chống
quân Minh xâm lược. Xây dựng một loạt nhân vật xuất thân từ quần chúng,
tác giả muốn kêu gọi, tập hợp các tầng lớp nhân dân lao động đoàn kết đứng
lên chống Pháp. Viết Hai Bà đánh giặc, Nguyễn Tử Siêu có mục đích “bồi
đắp thêm được chút đỉnh về cái quan niệm đối với Tổ quốc”, nhắc nhở mọi
người “cái nghĩa vụ đối với dân với nước”. Qua Ngọn cờ vàng, tác giả Đinh
Gia Thuyết muốn cho người đọc thấy được “lịch sử của một bậc nữ anh hùng
đại ái quốc của nước nhà”. Giáo sư Đinh Xuân Lâm trong Lời giới thiệu
Tuyển tập tiểu thuyết Nguyễn Triệu Luật đã viết: “Không phải chỉ có tiểu
thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật mà còn có của Lan Khai, Phan Trần
Chúc, Đào Trinh Nhất... kể cả Ngô Tất Tố với các cuốn Gia Định Tổng trấn
Tả quân Lê Văn Duyệt (1935), Vua Tây chúa Nguyễn (1938), Vua Hàm Nghi
với việc Kinh thành thất thủ (1935), Lịch sử Đề Thám (1935)...
Có thể nói rằng từ sau khởi nghĩa Yên Bái thất bại (1930), tiểu thuyết
lịch sử nở rộ là biểu hiện của nền văn học yêu nước, một phương tiện để ký
thác tình cảm của một số người cầm bút. Và tiểu thuyết lịch sử được bạn đọc
tìm đến, chính là để tìm thấy ở đây một niềm an ủi, một ý chí tự hào và lòng
hy vọng thầm kín vào tiền đồ của đất nước”.


Về hình thức, truyện lịch sử giai đoạn này vẫn chịu ảnh hưởng của lối
ghi chép biên niên, kết cấu chương hồi, câu văn biền ngẫu của tiểu thuyết
trung đại. Một số tác giả đã cố gắng tìm tòi, kết hợp được tính chân thực của
lịch sử với khả năng tưởng tượng, hư cấu của nhà văn trong việc khai thác
tâm lý, xây dựng tính cách nhân vật. Đó là trường hợp tác giả Phan Bội Châu

phẩm Đảo hoang, Chuyện nỏ thần, Nhà Chử của nhà văn Tô Hoài đã mở ra
một hướng khai thác mới: khai thác lịch sử gắn với phong tục và văn hóa.
Ông muốn đưa bạn đọc trở về với ngọn nguồn của những truyền thuyết, cổ
tích để tìm hiểu đời sống của dân tộc trong thời kỳ xa xưa. Dường như ở mỗi
truyện ông lại phát hiện ra một chân lý, chân lý đơn giản mà lớn lao của cuộc
đời. Khi nghĩ về quá khứ của dân tộc, Tô Hoài luôn tìm tòi và trân trọng
những giá trị truyền thống của dân tộc. Trong các truyện lịch sử của mình,
phong vị, hương sắc của đời sống và tâm hồn dân tộc đã được nhà văn thể
hiện sinh động và hấp dẫn.
Bên cạnh đó, ảnh hưởng tích cực của giao lưu văn học với nước ngoài
cũng giúp người cầm bút mở rộng tầm nhìn và nhận thức, tìm tòi cách thể
hiện mới. Trong xu thế đó, các nhà nghiên cứu phê bình và nhà văn cũng có
cách nhìn mới đối với tiểu thuyết lịch sử. Về mối quan hệ giữa tính chân thực
lịch sử với hư cấu lịch sử, giáo sư Phan Cự Đệ, trong Tiểu thuyết Việt Nam
hiện đại đã cho rằng: “Trong quá trình sáng tác, các nhà viết tiểu thuyết lịch
sử, vừa phải tôn trọng các sự kiện lịch sử, vừa phải phát huy cao độ vai trò
của hư cấu sáng tạo nghệ thuật... Nhà nghệ sĩ sẽ lấy quyền sáng tạo và hư cấu
để bổ sung cho những chi tiết, những thời kỳ mà lịch sử không nói đến” [4; 82].
Về đề tài sáng tác, khi nhận xét tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của Nguyễn
Mộng Giác, giáo sư Phan Cự Đệ viết: “Ông không quan niệm lịch sử chỉ là
những câu chuyện của các ông hoàng bà chúa, của các tướng lĩnh, là sử biên
niên của các trận đánh. Truyện lịch sử trước hết là tiểu thuyết, là thế sự, là


chất văn xuôi, là cuộc sống muôn màu muôn vẻ của thiên nhiên” [4; 102].
Quan niệm đó đã được sự đồng tình hưởng ứng của nhiều người sáng tác và
phê bình văn học. Từ sau đổi mới, truyện lịch sử phát triển mạnh và có nhiều
thành tựu.Các nhà văn đã có nhiều tìm tòi trong cách thể hiện. Kết cấu linh
hoạt, sự kiện không nhất thiết triển khai theo mạch thời gian mà có thể triển
khai theo mạch vận động của suy nghĩ, cảm xúc nhân vật. Yếu tố hư cấu được

học sinh ở Hải Phòng. Năm 1935, ông làm thư kí cho nhà đoan ở Hải Phòng,
rồi ra Hà Nội. Ông nuôi chí hướng viết văn để ký thác tấm lòng với đất nước.
Những sáng tác đầu tay của ông đều lấy đề tài lịch sử. Tiểu thuyết Đêm hội
Long Trì của ông đăng trên tạp chí Tri Tân năm 1942 (hiện nay đã được dựng
thành phim). Cũng năm đó, ông gia nhập tổ chức Văn hóa cứu quốc. Ông tiếp
tục viết Vũ Như Tô (kịch lịch sử 1943), Cột đồng Mã Viện (kịch lịch sử 1944),
An Tư công chúa (tiểu thuyết lịch sử 1944). Cả ba tác phẩm đều mang nét tiến
bộ trong quan điểm lịch sử, đề cao tính dân tộc, truyền thống yêu nước, trong
đó Vũ Như Tô là tác phẩm thành công nhất, đặt ra vấn đề mục đích sáng tác
của người nghệ sĩ.
Sau Cách mạng tháng Tám, ông tích cực hoạt động trong phong trào
văn nghệ cách mạng và là một trong những người lãnh đạo Hội Văn hóa cứu
quốc. Vở kịch Bắc Sơn ông viết năm 1946 đã mở đầu thành công cho nền
kịch cách mạng.
Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia thành lập Hội Văn nghệ
Việt Nam và góp phần xây dựng nền văn nghệ kháng chiến ngay từ những
ngày đầu. Ông tiếp tục sáng tác trên nhiều thể loại: Những người ở lại (kịch,
1948), Ký sự Cao Lạng (giải thưởng văn nghệ, 1951-1952), Truyện anh Lục
(tiểu thuyết, 1955-1956), Bốn năm sau (tiểu thuyết, 1959), Lũy hoa (truyện
phim, 1959), Sống mãi với thủ đô (tiểu thuyết, tập I - 1961, xuất bản sau khi
nhà văn qua đời).


Sáng tác cho thiếu nhi của ông đã được in thành tập Truyện viết cho
thiếu nhi, chủ yếu là truyện cổ tích và truyện lịch sử như Tìm mẹ, An Dương
Vương xây thành Ốc, Con cóc là cậu ông trời, Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Kể
chuyện Quang Trung, chỉ duy nhất có một truyện ký là Hai bàn tay chiến sĩ.
Ông là người tham gia sáng lập và đồng thời là giám đốc nhà xuất bản Kim Đồng.
Trong gần hai mươi năm sáng tác, Nguyễn Huy Tưởng đã đóng góp
cho văn học nước nhà nhiều tác phẩm có giá trị, thấm đượm chủ nghĩa yêu

hàng trăm nhân vật anh hùng” [16; 296]. Như một pho truyện trường thiên
cực kỳ hấp dẫn, một lần đã đọc qua suốt đời không thể quên. Do đó không
phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Huy Tưởng lấy truyền thống anh hùng của dân
tộc làm chủ đề chính trong những tác phẩm viết cho thiếu nhi của ông. Và nói
đến sáng tác cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng là nói đến sáng tác của
ông về đề tài lịch sử. Có thể nói đây là một hướng đi cần thiết, bổ ích với bạn
đọc lứa tuổi thiếu niên đang khao khát muốn vén tấm màn lịch sử để biết sự
thật con người và lịch sử hào hùng của dân tộc. Nguyễn Huy Tưởng đã đem
đến cho bạn đọc nhỏ tuổi một cảm quan về lịch sử dân tộc.
Sau cách mạng, ông viết cũng không nhiều. Nhưng những gì ông viết
đều có giá trị. Từ lúc vào nghề cho đến khi qua đời, Nguyễn Huy Tưởng vẫn
là một nhà văn rất có ý thức trách nhiệm đối với các em. Niềm mong muốn
của ông là làm sao bồi dưỡng cho thế hệ trẻ lòng yêu nước và lòng tự hào dân
tộc. Với Kể chuyện Quang Trung (1960) và nhất là với Lá cờ thêu sáu chữ
vàng (1960), ông có được những thành công đáng kể trong việc làm sống lại
hình ảnh hai nhân vật đẹp và đáng tự hào của dân tộc ta: một là nhân vật thiếu
nhi Quốc Toản, một nhân vật người lớn là Quang Trung. Bên cạnh hai nhân
vật chính, ông còn cho các em thấy được bộ mặt của bọn vua chúa bán nước
và vai trò lớn lao nhân dân trong lịch sử. Đây là điểm mới trong truyện lịch sử
viết cho thiếu nhi của ông.


Chương 2
TRUYỆN LỊCH SỬ NGUYỄN HUY TƯỞNG
TỪ GÓC NHÌN THỂ LOẠI

2.1. Sáng tạo lại lịch sử của dân tộc
Viết truyện lịch sử, điều quan trọng vẫn là phải tôn trọng các sự kiện lịch
sử. Nhưng tôn trọng mà không bị lệ thuộc, ràng buộc, thậm chí là nô lệ cho
các sự kiện. Trong những tác phẩm của mình, Nguyễn Huy Tưởng đã sáng tác

thành của Quốc Toản có phần đóng góp đáng kể của người tướng già. Điều đó
cũng chứng tỏ một quan niệm đúng đắn của Nguyễn Huy Tưởng khi đánh giá
nhân vật lịch sử dù đó là một anh hùng. Ông nhấn mạnh đến những yếu tố
khách quan đã tạo nên người anh hùng và đặt họ vào đúng vị trí nhân vật
trong hoàn cảnh lịch sử.
Chi tiết bóp nát trái cam của Trần Quốc Toản có thật trong lịch sử.
Nhưng đi vào trong tác phẩm của mình, Nguyễn Huy Tưởng một mặt đã dựa
vào tư liệu chính sử và mặt khác sáng tạo thêm những chi tiết mới khiến Trần
Quốc Toản hiện lên có tính cách và sinh động hơn hẳn một Trần Quốc Toản
khô khan, đơn giản trong lịch sử. Việc thuật lại tình huống này, Nguyễn Huy
Tưởng đã giúp cho nhân vật Hoài Văn phát triển tính cách đầy đủ hơn, thể
hiện được khát khao cháy bỏng của một thiếu niên trẻ tuổi có chí khí khác
người.
Thật ra xoay quanh tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng có một vài vấn đề
đặt ra:
- Có đúng là quân của Trần Quốc Toản thích vào hai tay chữ “Sát Thát”
trước nhất không? (Ý kiến của Hoàng Nguyên Cát) “Cảm nhận về nhà văn
Nguyễn Huy Tưởng qua công việc biên tập Lá cờ thêu sáu chữ vàng” [12; 367].


Dựa vào Nguyễn Huy Tưởng toàn tập - tập 2, Nxb Văn học Hà Nội,
1996, và theo Trang viết cho thiếu nhi - Nxb Văn học, 1996, thì chẳng phải
đội quân của Trần Quốc Toản thích vào cánh tay là một mẩu đối thoại giữa
Hoài Văn Hầu và quân sĩ:
“Hoài Văn hỏi: - Ai bày cho anh em cái việc này?
Một người nói: - Thấy đạo quân khác có anh em thích hai chữ “Sát Thát”
vào tay thì chúng tôi cũng làm theo. Thích vào người mới không quên được
mối tử thù. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, hai chữ này không thể nào phai
được. Sống ở trên vai, chết thì tan đi với xương cốt, nhập vào hồn phách bay
đi giết giặc” [14; 838].

Toản bắt Toa Đô thiết tường chẳng có gì là sai, vì Đại Việt sử kí toàn thư
cũng ghi về khí phách của Trần Quốc Toản như sau: “Khi đối trận với giặc tự
mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui chạy, không dám đối
địch” [10; 49]. Như vậy, thế mạnh về vũ khí của đội quân “phá cường địch,
báo hoàng ân” là gì nếu không phải là cung tên phát huy sức mạnh từ xa.
Một mũi tên của một đội quân thường dân cũng có thể hạ gục một viên tướng.
Sự sáng tạo hư cấu ở góc độ truyện lịch sử có thể chấp nhận được.
Còn vấn đề e rằng việc quá đề cao Trần Quốc Toản sẽ làm mờ đi các vị
anh hùng khác, các vị độc giả nhỏ tuổi có thể sẽ không hình dung được tài
năng của các vị anh hùng ấy, điều này không khó giải quyết khi nhà văn có đủ
bản lĩnh sáng tạo để tái hiện cho được các vị anh hùng khác ấy trên trang viết
của mình. Cũng thế, sự việc hình người đan bằng tre để lừa giặc được Đại
Việt sử kí toàn thư ghi lại như sau: “Dụ binh giặc đến huyện Từ Ninh (nay
thuộc huyện Vinh Châu, Tỉnh Vĩnh Phú) việc phụ đạo huyện ấy là Từ Đặc lên
núi Trĩ Sơn cố thủ. Giặc đóng ở đông Cư Đà (Phong Châu - Vĩnh Phú). Hà
Đặc lấy tre đan thành những hình người to lớn, cho mặc áo, cứ đến chiều tối



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status