ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC
ĐỖ THU HIỀN N
N
G
G
U
U
Y
Y
Ễ
Ễ
N
NP
P
H
H
C
C
H
H
U
U
Y
Y
Ể
Ể
N
NT
T
I
I
Ế
Ế
P
PV
V
Ề
Ề
Á
Á
C
CG
G
I
I
Ả
ẢT
T
R
R
O
O
N
N
G
GV
V
Ă
Ă
T
T
H
H
Ờ
Ờ
I
IV
V
Ã
Ã
N
NT
T
R
R
Ầ
Ầ
N
NS
S
Hà Nội – 2004
Nguyễn Phi Khanh và sự chuyển tiếp về mặt loại hình tác giả
- 1 -
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài………………………………………………………
2. Đốitƣợng và phạm vi nghiên cứu………………………………………
3. Mụcđích và nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………
4. Phƣơngpháp nghiên cứu…………………………………………………
5. Lịch sử vấn đề nghiên cứu……………………………………………….
6. Cái mới của luận văn…………………………………………………
7. Kết cấu của luận văn…………………………………………………….
4
4
7
8
9
10
14
14
NỘI DUNG
Nguyễn Phi Khanh và sự chuyển tiếp về mặt loại hình tác giả
- 2 -
1.2.2. Sự khẳng định vị trí và xu hƣớng vận động của loại hình nhân cách nhà nho
41
1.2.2.1.Hiện tượng nho sĩ tham chính…………………………………………
1.2.2.2.Sự trưởng thành về số lượng và các cuộc đấu tranh giành địa vị….
1.2.2.3. Sự xuất hiện danh nho…………………………………………………
41
44
47
Chƣơng 2: Nguyễn Phi Khanh - trƣờng hợp tiêu biểu của loại hình
tác giả nhà nho thời Vãn Trần sang Hồ…………………
41
2.1. Loại hình tác giả và văn chương nhà Nho thời Trần-
Hồ…………
52
2.1.1. Loại hình tác giả nhà nho thế kỷ XIII- XIV………………
52
2.1.1.1.Sự đột biến về số lượng……………………………………………… …
2.1.1.2. Một số thuộc tính nổi bật “mang tính thời đại”……………………
2.1.1.3.Ảnh hưởng Phật- Đạo và học phong Đông A……………………
52
57
60
2.1.2. Văn chƣơng nhà nho giai đoạn Trần- Hồ…………………………
2.1.2.1. Định hình ở bước đầu những đặc trưng của văn chương Nho giáo
2.1.2.2.Tiếp tục truyền thống văn chương Đông A. …………………………
3.2.1. Khát vọng trí quân trạch dân………………………………………
3.2.2. Xã hội lý tƣởng……………………………………………………
3.2.3. Tâm sự u uất ………………………………………………………
3.2.4. Tình cảnh ẩn dật……………………………………………………
96
99
102
106
3.3. Hình tượng trung tâm………………………………………………
109
3.3.1. Hình tƣợng nhà nho đang tự khẳng định……………………………
3.3.2. Hình tƣợng Trần Nguyên Đán………………………………………
3.3.3.Hình tƣợng vị thánh quân trong mộng tƣởng ……………………….
109
115
118
3.4.Hệ thống thể loại và ngôn ngữ văn học……………………………
120
3.4.1.Thể loại……………………………………………………………
3.4.2. Ngôn ngữ văn học…………………………………………………
120
123
KẾT LUẬN
127
TÀI LIỆU THAM KHẢO
132
nhà nho đã tức vị ở phƣơng diện văn chƣơng trƣớc khi nho sĩ đạt sự ƣu thắng
trên chính trƣờng và Nho giáo có đƣợc địa vị độc tôn trong xã hội. Những điều
Nguyễn Phi Khanh và sự chuyển tiếp về mặt loại hình tác giả
- 5 -
kiện lý luận và thực tiễn nào đã quy định sự chuyển đổi đó? Và trên thực tế,
quá trình chuyển tiếp của các loại hình tác giả đã diễn ra nhƣ thế nào? Loại
hình tác giả nhà nho đã đƣợc hình thành nhƣ thế nào? Diện mạo của loại hình
tác giả nhà nho ở giai đoạn giao thời này có đặc điểm gì đáng lƣu ý, có những
điểm chung cơ bản và những đặc trƣng gì so với nhà nho những giai đoạn sau?
Sự chuyển đổi của loại hình tác giả có ý nghĩa nhƣ thế nào đối với sự phát triển
của văn học giai đoạn này, đặt trong tổng thể quá trình vận động của văn học
mƣời thế kỷ nói chung? Chúng tôi cho rằng đây là một trong những vấn đề mấu
chốt có ý nghĩa lý luận để giải quyết những khúc mắc cũng nhƣ nhận diện quy
luật phát triển của văn học Việt Nam trung đại.
Về mặt lịch sử, đây là một trong những thời kỳ có nhiều biến động bậc
nhất của lịch sử trung đại Việt Nam. Ở đó đã diễn ra sự suy tàn dẫn đến sụp đổ
của một trong những vƣơng triều đƣợc tôn vinh nhất trong lịch sử Việt Nam là
nhà Trần, sự kiện đoạt ngôi của Hồ Quý Ly đƣa nhà Hồ, một trong những triều
đại bị kết án nhiều nhất lên cầm quyền. Nhà Hồ tồn tại chỉ đƣợc dăm năm ngắn
ngủi, để đất nƣớc rơi trở lại vào tay đế quốc phƣơng Bắc, lần đầu tiên và cũng là
duy nhất trong thời tự chủ, sau mấy trăm năm tồn tại và phát triển rực rỡ của
nƣớc Đại Việt. Đó là một trong những thất bại cay đắng nhất của lịch sử dân tộc.
Nhƣng sự sôi động của giai đoạn này còn diễn ra ở một phƣơng diện
quan trọng hơn, có tác động sâu sắc và lâu dài hơn đối với con đƣờng phát
triển, diện mạo văn hoá cũng nhƣ vận mệnh của đất nƣớc. Các nhà nghiên cứu
xƣa nay vẫn thừa nhận rằng, thời Trần sang Hồ là giai đoạn ở Việt Nam đã diễn
ra một quá trình chuyển đổi từ Phật giáo sang Nho giáo trên quy mô hệ tƣ
tƣởng chủ đạo chi phối mọi mặt đời sống xã hội. Đây là một trong những bƣớc
ngoặt quan trọng nhất trong lịch sử trung đại Việt Nam, là bƣớc tiến dứt khoát
cuối cùng của Việt Nam về phía vùng văn hoá Đông Á. Nho giáo đã đƣợc du
nghiên cứu là để nhận diện một loại hình tác giả trong giai đoạn giao thời.
Nguyễn Phi Khanh và sự chuyển tiếp về mặt loại hình tác giả
- 7 -
Nguyễn Phi Khanh là một tác giả quan trọng của nửa cuối thế kỷ XIV.
Ở ông có nhiều điểm hội tụ những mâu thuẫn mà chúng tôi cho rằng có thể
đại diện cho những vấn đề lớn nhất của thời đại. Ông là một nho sĩ, thân
phụ của bậc đại nho tiêu biểu nhất của Việt Nam, Nguyễn Trãi; nhƣng ông
cũng lại là con rể của Trần Nguyên Đán, một đại quý tộc tôn thất nhà Trần. Đỗ
đạt dƣới triều Trần, nhƣng ông không đƣợc dùng cho đến tận khi nhà Trần diệt
vong, khoảng 26 năm; sang đời nhà Hồ, ông lập tức ra làm quan và đƣợc trọng
dụng. Con trai ông, Nguyễn Trãi cũng đỗ đại khoa và và làm quan dƣới triều
Hồ. Khi nhà Minh xâm lƣợc, ông bị bắt giải sang Trung Quốc cùng cha con Hồ
Quý Ly. Rõ ràng là có rất nhiều vấn đề khúc mắc trong cuộc đời cũng nhƣ tác
phẩm của Nguyễn Phi Khanh mà chúng tôi hy vọng có thể giải quyết bằng một
hƣớng tiếp cận loại hình học tác giả. Chúng tôi cũng cho rằng những kết quả
đạt đƣợc từ việc nghiên cứu một tác giả là Nguyễn Phi Khanh sẽ là bƣớc quan
trọng để phác thảo nên diện mạo chung của loại hình tác giả giai đoạn này.
Chính vì thế, chúng tôi chọn đề tài “Nguyễn Phi Khanh và sự chuyển
tiếp của loại hình tác giả trong văn học Việt Nam thời Vãn Trần sang Hồ”
cho luận văn của mình.
“Thời Vãn Trần sang Hồ” là một cách định danh mà chúng tôi dùng cho
giai đoạn khoảng nửa cuối thế kỷ XIV. Chúng tôi dùng cách gọi có tính quy
ƣớc này một phần lý do vì nó gợi mở cho thấy cả trạng thái vận động mang tính
lịch sử: nhà Trần suy vong (tính từ khi Trần Minh Tông qua đời, năm 1357),
nhà Hồ cƣớp ngôi (đến khi quân Minh xâm chiếm Đại Việt, năm 1407). Trong
luận văn, hai cách gọi này sẽ đƣợc dùng tƣơng đƣơng, thay thế nhau.
2. Đối tƣợng và phạm vi tƣ liệu nghiên cứu
Đối tƣợng của luận văn là Nguyễn Phi Khanh với tƣ cách là một loại
hình tác giả chứ không phải chỉ là một tác giả văn học đơn thuần. Chính vì thế,
Nguyễn Phi Khanh và sự chuyển tiếp về mặt loại hình tác giả
vấn đề lịch sử- tƣ tƣởng, kinh tế- chính trị… của thế kỷ XIV trong cái nhìn hệ
thống từ thời lập quốc tới khi nhà Minh xâm lƣợc, thậm chí kéo dài đến tận thời
Lê Thánh Tông. Luận văn đặt ra nhiệm vụ phải mô tả cho đƣợc quá trình
chuyển từ Phật giáo sang Nho giáo cũng nhƣ chỉ ra những cơ sở chủ quan và
khách quan quy định nó.
Bên cạnh đó, tuy xác định là sẽ chỉ tập trung vào nghiên cứu một tác giả
có tính đại diện, nhƣng chúng tôi vẫn không tránh khỏi việc đặt tác giả đó vào
tổng thể loại hình tác giả nhà nho thời kỳ khởi đầu. Luận văn sẽ trình bày một
cách khái quát nhất diện mạo cũng nhƣ những đặc điểm tiêu biểu của loại hình
tác giả nhà nho và văn học nhà nho thế kỷ XIV. Chúng tôi tin rằng đây là
những thao tác cần phải có để đạt đƣợc một cái nhìn vừa cụ thể, sâu sắc lại vẫn
khách quan và toàn diện về đối tƣợng.
Đƣơng nhiên, luận văn sẽ tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm là Nguyễn
Phi Khanh và tác phẩm của ông. Với con ngƣời Nguyễn Phi Khanh, chúng tôi
sẽ cố gắng lý giải những mâu thuẫn trong cuộc đời cũng nhƣ tƣ tƣởng của ông
đặt trong mối liên hệ với thời đại để tìm ra lôgic nội tại của vấn đề. Chúng tôi
đặc biệt coi trọng việc khảo sát tác phẩm của Nguyễn Phi Khanh về nhiều
phƣơng diện: quan niệm thẩm mỹ, cảm hứng chủ đạo, hình tƣợng trung tâm,
thể loại và ngôn ngữ văn học… Từ đó, chúng tôi hy vọng rút ra đƣợc những kết
luận có ý nghĩa về tác giả cũng nhƣ văn chƣơng nhà nho nửa cuối thế kỷ XIV.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Với luận văn này, chúng tôi sử dụng nhiều phƣơng pháp có tính chất tổng hợp.
Phƣơng pháp loại hình học đƣợc sử dụng xuyên suốt nhƣ một phƣơng
pháp cơ bản. Chúng tôi cũng luôn tiến hành so sánh, đối chiếu, chủ yếu là theo
Nguyễn Phi Khanh và sự chuyển tiếp về mặt loại hình tác giả
- 10 -
lịch đại trong suốt quá trình khảo sát đối tƣợng nhằm làm rõ những điểm chung
và đặc thù của loại hình tác giả nhà nho thế kỷ XIV.
Để làm rõ quá trình thay đổi của các hệ tƣ tƣởng cũng nhƣ các loại hình
tác giả, chúng tôi sử dụng phƣơng pháp mô tả.
xã hội. Hà Nội, 1981.
Các công trình trên đều chỉ coi thế kỷ XIV là một chặng trong quá trình
khảo sát, chính vì thế, khả năng tập trung vào giai đoạn này không cao. Nhƣng
với mức độ đậm nhạt khác nhau, các tác giả nói chung đều nhìn nhận thời
Trần là giai đoạn có sự chuyển hƣớng từ Phật giáo sang Nho giáo trên lĩnh
vực tƣ tƣởng ở Việt Nam và sự chuyển hƣớng này đã có tác động toàn diện
tới xã hội. Trong đó, giáo sƣ Trần Đình Hƣợu đặc biệt coi trọng cuộc chuyển
giao Phật giáo- Nho giáo thế kỷ XIV- XV nhƣ một trong ba bƣớc ngoặt lớn
nhất của lịch sử Việt Nam, ngang hàng với cuộc tiếp xúc của văn hoá bản địa
và văn hoá Trung Quốc cũng nhƣ sự kiện Việt Nam gia nhập thế giới cận hiện
đại bằng sự va chạm với văn minh phƣơng Tây [47, 117]. Tuy vậy, chƣa có
công trình nào chú trọng mô tả từng bƣớc sự chuyển giao đó nhƣ một quá trình
với lôgic nội tại mà thƣờng chỉ trình bày dƣới dạng các hiện tƣợng. Nhìn
chung, ngoài số ít bài viết ra thì chƣa có một chuyên khảo nào dành riêng cho
bƣớc ngoặt có tính lịch sử này.
5.2. Về văn học nửa cuối thế kỷ XIV: Chặng này vốn đƣợc coi là không
có nhiều thành tựu, thậm chí là “hầu như tẻ nhạt” [106, 152] trong lịch sử văn
học trung đại. Chính vì thế, các bộ văn học sử quan trọng đều chỉ dành cho nó
một dung lƣợng rất khiêm tốn so với các giai đoạn khác. Thậm chí, “Việt Nam
Nguyễn Phi Khanh và sự chuyển tiếp về mặt loại hình tác giả
- 12 -
văn học sử giản ước tân biên” của Phạm Thế Ngũ, một bộ sử đƣợc viết theo
tiêu chí thể loại, trong phần “Thi văn” chữ Hán đã bỏ qua thế kỷ XIV- một thế
kỷ mà tác phẩm để lại đa phần là thi ca. Nghĩa là, văn chƣơng giai đoạn này đã
hoàn toàn vắng bóng trong công trình của Phạm Thế Ngũ.
Bên cạnh đó, không có chuyên khảo nào về các tác giả, tác phẩm hoặc
các vấn đề văn học của giai đoạn này, số lƣợng bài nghiên cứu cũng không
nhiều và thành quả chƣa đáng kể. Nói chung, các nhà nghiên cứu đều có xu
hƣớng cho rằng văn học nửa cuối thế kỷ XIV không có nhiều vấn đề để nhắc
tới. Nhƣng họ cũng đều thống nhất rằng, đã có một sự chuyển tiếp về mặt
yêu thiên nhiên đất nước, và khí phách kiên cường của ông khi đứng trước bè
lũ thống trị, tinh thần hiên ngang của ông trước bọn giặc ngoại xâm”, và ông
đã chủ yếu đi sâu phân tích những đặc điểm đó. Tuy nhiên, chính ông cũng
nhận thấy rằng, trong thơ Nguyễn Phi Khanh, “những bài nói về nhân dân
chưa phải là nhiều lắm, trong khi những bài nói về tâm sự ở ẩn của mình lại
khá nhiều; mặt khác, đôi khi ông lại sa chân vào cái “nhàn” mà không có lối
ra”, và cho đó là mặt hạn chế của Nguyễn Phi Khanh. Nhƣng nhìn chung, Đào
Phƣơng Bình đã đánh giá rất cao tác phẩm của Nguyễn Phi Khanh: “Có thể nói
Phi Khanh chính là một trong những ngôi sao sáng của bầu trời văn học Việt
Nam cổ đại”.
Bài viết của Bùi Văn Nguyên có tính tổng hợp và đề cập đến nhiều
phƣơng diện hơn. Nhƣng Bùi Văn Nguyên lại quá phụ thuộc vào những chi tiết
về tiểu sử, gia thế Nguyễn Phi Khanh mà ông mới tìm thấy qua gia phả một số
dòng họ. Ông đã dùng tác phẩm của Nguyễn Phi Khanh chủ yếu để minh hoạ
cho những phát hiện đó. Hơn nữa, bài viết này dù dài tới 17 trang thì cũng vẫn
chỉ có quy mô của một lời giới thiệu tuyển tập. Chính vì thế, những vấn đề đặt
ra ở đây chƣa nhiều và cũng chƣa vấn đề nào đƣợc giải quyết thấu đáo.
Nguyễn Phi Khanh và sự chuyển tiếp về mặt loại hình tác giả
- 14 -
Ngoài ra, trong các cuốn văn học sử, tên tuổi cũng nhƣ tác phẩm của
Nguyễn Phi Khanh vẫn đƣợc thoáng nhắc tới, chủ yếu ở khía cạnh một tiếng
thơ bất bình với hiện thực xã hội đƣơng thời, với triều đình phong kiến: “Văn
học Việt Nam (Thế kỷ X- nửa đầu thế kỷ XVIII)” (Đinh Gia Khánh, Bùi Duy
Tân, Mai Cao Chƣơng, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997); “Giáo trình Văn học
Việt Nam thế kỷ X đến giữa thế kỷ XVIII” (Bùi Duy Tân, Đại học Huế, 1995);
“Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XVIII” (Bùi Văn Nguyên,
Nguyễn Sĩ Cẩn, Hoàng Ngọc Trì, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1989)…
Nhìn chung, những kết quả nghiên cứu đã có chƣa xứng đáng với
tầm cỡ một tác giả nhƣ Nguyễn Phi Khanh.
6. Cái mới của luận văn
THỜI VÃN TRẦN SANG HỒ 1.1. TỪ PHẬT GIÁO SANG NHO GIÁO, ĐỊNH HƢỚNG VẬN ĐỘNG CƠ
BẢN CỦA XÃ HỘI VIỆT NAM TỪ TRẦN SANG HỒ
1.1.1. Buổi đầu dựng nƣớc và kiếm tìm mô hình chính trị
Sau một ngàn năm Bắc thuộc với quá trình Hán hoá diễn ra nhƣ một xu
thế không thể cƣỡng lại đƣợc, Việt Nam đã chính thức là thành viên của vùng
văn hoá Đông Á. Nhƣng quá trình Hán hoá không phải đến năm 938 với sự
kiện Ngô Quyền toàn thắng trên sông Bạch Đằng là đã hoàn tất, mà còn kéo dài
gần nhƣ trong suốt thời trung đại Việt Nam, dĩ nhiên với tính chất và mức độ
đã khác rất xa so với buổi ban đầu.
Sau khi giành đƣợc độc lập, Việt Nam còn mất thêm một thời gian nữa
cho việc tạm thời ổn định đất nƣớc. Ngô Quyền ở ngôi đƣợc sáu năm, đến khi
ông qua đời (944), nhà Ngô mất vào tay họ Dƣơng, rồi loạn 12 sứ quân. Các sử
gia thời trung đại đặc biệt đánh giá cao Đinh Bộ Lĩnh chứ không phải Ngô
Quyền nhƣ các nhà làm sử cận hiện đại. Họ coi vua Đinh là mở đầu của phần
chính biên hay bản kỷ trong chính sử, có lẽ lý do chủ yếu vì ông ta là vị vua
đầu tiên của Việt Nam xƣng đế ở thời độc lập. Gần đây, có ý kiến lại muốn trả
vinh dự cho “ra đời một nhà nước có quy mô dân tộc, thống nhất được cả về
lãnh thổ hành chính lẫn quyền lực đối với mọi tầng lớp và mọi khu vực dân cư”
[70, 439] đầu tiên ở thế kỷ X trên mảnh đất Việt Nam này về với Đinh Bộ Lĩnh,
ngƣời đã có công dẹp loạn cát cứ 12 sứ quân, thống nhất đất nƣớc, quá trình mà
Nguyễn Phi Khanh và sự chuyển tiếp về mặt loại hình tác giả
- 17 -
lịch sử Trung Quốc phải mất hàng ngàn năm mới thực hiện đƣợc dƣới bàn tay
của vị hoàng đế đầu tiên Tần Thuỷ Hoàng.
Dù Ngô Quyền đã có công “nối lại chính thống” của “nước Đại Việt ta”
(lời Lê Văn Hƣu) [11, 148] thì công kiến thiết đất nƣớc của ông lại chƣa đƣợc
là bao. Đó không phải do lỗi của cá nhân mà đơn giản là những bƣớc phát triển
việc hành thích nhà vua đơn giản và dễ dàng đến mức khó tin. Điều nhà viết sử
này chê trách Đinh Tiên Hoàng nhất chính là chuyện không làm đúng “phận
sự”, “sửa lễ nhạc hình chính”. Chƣa nói đến ông vua nổi tiếng bạo ngƣợc nhƣ
Kiệt- Trụ là Lê Ngoạ Triều với các trò giết ngƣời man rợ, ngay cả các ông vua
sáng nghiệp cũng nuôi hổ dữ, đặt vạc dầu, xử phạt tàn bạo. Bạo lực thật sự vẫn
có sức mạnh chƣa thay thế nổi trong thời loạn. Nhƣng cũng phải nói lại rằng đó
là giải pháp khó tránh khỏi để đƣa một xã hội còn chƣa thoát khỏi trạng thái
hỗn loạn nhƣ thế vào quy củ. Có thể thấy là các vị vua thời này chƣa phải là
mẫu hình các vị đế vƣơng của Nho giáo.
Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi, lập ra triều Lý, lần lƣợt dời đô về
Thăng Long, đặt quốc hiệu là Đại Việt, mở ra một “kỷ nguyên mới” cho đất
nƣớc. Đến đây, một hƣớng đi dài lâu cho nƣớc Đại Việt mới thực sự đƣợc mở
ra. Công cuộc xây dựng nƣớc Đại Việt đến đây mới có thể coi là thực sự bắt
đầu: “Triều Lý đã thiết lập quy mô của Đại Việt về nhiều phương diện: từ chủ
quyền lãnh thổ, mô hình chính trị, ngôi vua (kiến cực), định đô, định điển chế
hiến chương, các quan hệ đối ngoại với lân bang và đặc biệt là sự lựa chọn hệ
tư tưởng chủ đạo” [70, 347]. Lý Công Uẩn lên ngôi nhờ một biến cố cung đình
là kết quả của sự chuẩn bị, tính toán rất cao tay. Ngƣời đứng sau tất cả những
chuyện đó là một nhà sƣ- Vạn Hạnh thiền sƣ. Có thể nói, thế lực Phật giáo đã
có công trong sự ra đời của nhà Lý. Thực tế sau này, nhà Lý rất sùng bái Phật
giáo, nhƣng cũng là trong bối cảnh phồn thịnh chung của Phật giáo tại Việt
Nam bấy giờ. Thế nhƣng, thật đáng ngạc nhiên, chính đây cũng lại là mốc quan
trọng ghi nhận sự có mặt mang tính tất yếu của Nho giáo. Việc dời đô về Thăng
Nguyễn Phi Khanh và sự chuyển tiếp về mặt loại hình tác giả
- 19 -
Long không chỉ có ý nghĩa lớn lao về mặt chiến lƣợc mà nó cho thấy Lý Công
Uẩn đã không còn nhìn võ công và bạo lực nhƣ những yếu tố quan trọng nhất
của kẻ làm vua. Ông đã tiến gần hơn đến hình ảnh của một vị đế vƣơng kiểu
Nho giáo. “Thiên đô chiếu” đã phản ánh khát vọng trở thành một vị đế vƣơng
đích thực của Lý Công Uẩn: “Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan
mọi thành phần trong xã hội, “ở Giao Chỉ, Phật giáo đã chinh phục quần
chúng bình dị trước”, và đã “không gặp nhiều trở ngại như khi đi vào đất Hán.
Đạo Phật thấm vào văn minh Giao Châu tự nhiên và dễ dàng như nước thấm
vào lòng đất.” [57, 46]. Đó cũng là một nguyên do để Phật giáo bám rễ vào đất
này sâu bền đến nhƣ thế. Khi Nho giáo đƣợc đƣa vào Việt Nam sau đó không
lâu, Phật giáo đã có một vị thế khá vững chắc trong khi Nho giáo phải đợi rất
lâu sau đó mới dần len chân vào đƣợc.
Sang đến thời tự chủ, Phật giáo vẫn giữ đƣợc vị thế chủ đạo của mình
trong đời sống xã hội. Thân thế gắn liền với nhà chùa (xuất thân, nơi nuôi
dƣỡng, học hành), lên ngôi nhờ thế lực của Phật giáo, vị vua sáng nghiệp của
nhà Lý đã làm rất nhiều việc cho sự củng cố và mở mang địa vị của Phật giáo
trong nƣớc: “Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, Tôn Miếu chưa dựng, Xã
Tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên- đức, lại sửa chữa phủ
quán ở các lộ, và cấp độ điệp cho hơn nghìn người ở Kinh sư làm tăng, thế thì
tiêu phí của và sức dân về việc thổ mộc biết chừng nào mà kể? (…) Bậc vua
sáng nghiệp, tự mình cần kiệm còn lo con cháu ngày sau xa xỉ, mà Thái tổ để
phép cho con cháu như thế, cho nên đời sau mới xây tường cao ngất trời, tạc
cột chùa bằng đá, làm chùa thờ Phật lộng lẫy hơn cung điện của vua. Rồi
người dưới bắt chước, có kẻ huỷ thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiệp, trốn thân
thích, nhân dân quá nửa làm sãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa, nguồn gốc
há không phải là đấy.” [11, 192].
Nguyễn Phi Khanh và sự chuyển tiếp về mặt loại hình tác giả
- 21 -
Không nói trong dân gian, ngay cả giữa chốn triều đình, Phật giáo vẫn
nắm giữ phần chủ đạo. Các vị vua và hoàng tộc đều sùng bái đạo Phật, vua nhà
Trần còn có nhiều ngƣời cuối đời xuất gia. Đó không phải chỉ là sự sùng bái
đơn thuần nhƣ đối với một thứ tôn giáo, các vị vua Trần còn là những ngƣời có
tri thức rất sâu rộng về đạo Phật, thực sự là những nhà Phật học uyên thâm,
thậm chí Trần Nhân Tông còn là vị tổ thứ nhất của thiền phái Trúc Lâm. Cùng
với sự trƣởng thành, trí thức hoá của tầng lớp quý tộc, từ Phật giáo trong dân
học thuyết này đã có một vị thế rất mờ nhạt bên cạnh Phật giáo trong suốt thời
kỳ này.
Khi đất nƣớc độc lập, tình hình đã có những thay đổi về chất. Yêu cầu
xây dựng một nhà nƣớc tập trung đã khiến Nho giáo bắt đầu dần có chỗ đứng
thực sự trong xã hội Việt Nam bất chấp vị thế sẵn có của Phật giáo. Lập nƣớc
năm 1009, đến năm 1070, nhà Lý cho lập Văn miếu, tạc tƣợng Chu công,
Khổng tử, Tứ phối, vẽ tƣợng Thất thập nhị hiền để tế lễ; năm 1076, lập Quốc tử
giám. Năm 1075, khoa thi đầu tiên minh kinh bác sĩ và thi nho học tam trƣờng
đƣợc tổ chức
(1)
. Nhƣng theo “Toàn thư” thì những khoa thi thời này vẫn chƣa
đƣợc tổ chức thành hệ thống và định kỳ, nội dung thi cử cũng chƣa phải chỉ có
Nho giáo, mục đích cũng rất đa dạng. Có thể thấy rằng nhà nƣớc sử dụng Nho
giáo nhƣ một thứ tri thức buộc phải có để quản lý xã hội, chứ chƣa thành hệ
thống, chƣa thực sự có tác động sâu xa đến toàn bộ đời sống đất nƣớc. Thế
nhƣng, những sự kiện này vẫn có ý nghĩa quan trọng nhƣ là xác nhận của nhà
nƣớc về sự hiện diện của Nho giáo ở Việt Nam.
Dần đến thời Trần, sự phân công phạm vi ứng dụng và ảnh hƣởng giữa
Phật và Nho trong triều đình trở nên rõ ràng và sâu sắc hơn, đồng nghĩa với sự
gia tăng vị thế của Nho giáo trong triều đình. Trần Thái Tông đã nói về chuyện (1)
Phân tích những điểm mâu thuẫn về các sự kiện này giữa hai cuốn sử “Việt sử lược” và “Đại Việt
sử ký toàn thư” cũng nhƣ bối cảnh lịch sử Việt Nam và Trung Quốc lúc đó, A.Pôliacôp [80] và
K.Taylor [112] cho rằng những sự kiện trên đây thực tế phải diễn ra muộn hơn thế. Có thể đó chỉ là
những thêm thắt của các Nho sĩ đời sau.
Nguyễn Phi Khanh và sự chuyển tiếp về mặt loại hình tác giả
- 23 -
đó nhƣ sau: “Trẫm thầm nhủ: Phật không chia Nam Bắc, đều có thể tu mà tìm;
từ việc nhìn lại cách mà Nho giáo đã tiếp cận ngai vàng ở Trung Quốc. Từ
Khổng Tử đến Hán Vũ Đế, Nho giáo phải mất hơn 400 năm để bƣớc lên địa vị
độc tôn. Quãng thời gian đó, Nho giáo đã phải nếm trải tất cả những đòn đánh
của số phận, mà khắc cốt ghi tâm nhất là cuộc đụng độ với Pháp gia thời Tần
Thuỷ Hoàng suýt dẫn đến diệt vong. Thậm chí đến tận Hán Cao Tổ, Nho giáo
vẫn phải nuốt thêm một nỗi nhục ở lần ra mắt đầu tiên. Vậy thì cái gì đã làm
cho tình hình thay đổi? Điều chúng ta nhận thấy ở đây là, phải chăng đến tận
thời Hán Vũ Đế, cơ sở xã hội Trung Quốc mới phát triển đến độ tƣơng thích
với khả năng ứng dụng của Nho giáo. Dĩ nhiên, Nho giáo lúc này so với thời
tiên Tần đã khác rất xa, nó đã kịp tự vũ trang bằng cách dùng trong chừng mực
nào đó những học thuyết khác để bổ khuyết cho bản thân, rõ rệt nhất là sự kết
hợp với Pháp gia làm thành công thức “nội Pháp ngoại Nho”. Nhƣng vấn đề ở
chỗ Nho gia là kẻ chiến thắng cuối cùng chứ không phải Pháp gia. Nho giáo là
học thuyết chống loạn cứu thế, chủ trƣơng duy trì trật tự xã hội bằng những
nguyên tắc đạo đức. Nó hoàn toàn không thích hợp với một xã hội hỗn loạn của
mƣu mô và bạo lực với những cuộc chiến tranh kiêm tính liên miên nhƣ thời
Khổng Tử. Nhƣng với một xã hội thời bình thì lại khác:“Vua Cao Tổ biết rằng
mình có thể ngồi trên mình ngựa mà lấy được thiên hạ, nhưng không thể ngồi
trên mình ngựa mà trị được thiên hạ” [54, 14]. Nho giáo đem lại cho kẻ làm
vua một quyền năng nhân danh cả cõi Trời và cõi Ngƣời. Mức độ ràng buộc mà
Nho giáo tạo dựng cho mối quan hệ giữa thiên tử và thần dân thì không thứ luật
pháp, bạo lực hay mƣu mô nào có thể so sánh đƣợc. Thực tế, chúng ta có thể
thấy, so với vụ cƣớp ngôi của nhà Trần thì cuộc chuyển giao quyền lực giữa
nhà Tiền Lê và nhà Lý diễn ra nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Điều đó có phần tƣơng
ứng với sự gia tăng của yếu tố Nho giáo trong xã hội.