Chuyờn tt nghip
stt Họ và tên
Mã
sinh
viên
Lớp Tên chuyên đề
Giảng
viên h-
ớng
dẫn
05 Hà Thị Hải Yến CQ463284 Thơng
Mại
46A
Nõng cao kh nng
cnh tranh ca Cụng ty
TNHH Tip Vn Thng
Long v cung cp dch
v logistics trong iu
kin Vit Nam gia nhp
WTO
Th.s
Ngô Thị
Mỹ
Hạnh
H Th Hi Yn - Thng mi 46A
1
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, thị trường toàn cầu
ngày càng trở nên nhạy cảm với những vấn đề về thời gian cũng như sự
cạnh tranh về giá cả. Bên cạnh đó là sự phát triển nhanh chóng của khoa
năng cạnh tranh của Công ty trước những công ty nước ngoài có kinh nghiệm
và tính chuyên nghiệp cao trong việc cung ứng dịch vụ logistics.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp tại Công ty TNHH Tiếp Vận Thăng
Long ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo bao
gồm những phần sau:
- Chương I: Tổng quan về logistics
- Chương II: Thực trạng kinh doanh logistics của Công ty TNHH
Tiếp Vận Thăng Long một số năm gần đây
- Chương III: Một số giải pháp để nâng cao khả năng cạnh tranh của
Công ty TNHH Tiếp Vận Thăng Long về cung cấp dịch vụ logistics trong
điều kiện Việt Nam gia nhập WTO
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của Th.s Ngô Thị Mỹ
Hạnh - giảng viên Khoa Thương mại, Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân và
Công ty TNHH Tiếp Vận Thăng Long đã giúp em hoàn thành chuyên đề thực
tập này.
Hà Thị Hải Yến - Thương mại 46A
3
Chuyên đề tốt nghiệp
CH ƯƠNG I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ
LOGISTICS
I - Sự hình thành và phát triển logistics
1. Một số khái niệm về logistics
Việc miêu tả khái niệm logistics dễ dàng hơn là việc định nghĩa khái
niệm này. Khái niệm logistics thường được sử dụng trong quá trình tổ chức và
thực hiện chi tiết một kế hoạch hoạt động nào đó.
Thuật ngữ logistics xuất hiện đầu tiên trong lĩnh vực quân sự, liên quan
đến việc di chuyển, cung cấp trang thiết bị, tiếp tế cho các đơn vị quân đội.
Trong hoạt động thương mại, quản lý logistics là một quá trình tương tác
nhằm tối ưu hoá các dòng nguyên vật liệu và nguồn cung cấp thông qua tổ
chức để đến với khách hàng. Khái niệm logistics được đưa ra tuỳ theo giác độ
hàng
Người giao nhận hành động như một đại lý thanh toán và chuyển hàng -
Clearing and forwarding agent. ở vai trò này , người giao nhận hành động như
một đại lý của người gửi hàng hoặc người nhận hàng và ràng buộc người gửi
hàng hoặc người nhận hàng như một bên chính trong vụ giao dịch đó.
2.1.2.Giai đoạn 2: Vai trò trung gian như người gom hàng
Nguời giao nhận thực hiện một số công việc nhất định như gom hang,
chuyên chở hàng hoá bằng đường bộ - road haulage và khai báo hải quan với
vị trí như là chủ hàng. Trên thực tê, những người giao nhận này thực hiện tất
cả các chức năng trong chuỗi vận tải và có thể tổ chức thực hiện toàn bộ việc
vận chuyển từ nhà máy của người gửi hàng cho đến cảng đến. Tuy nhiên họ
không tự phát hành chứng từ vận tải của chính họ trên quãng đường vận tải
mà không phải là người chuyên chở thực sự. Điều này cũng tương tự trong
lĩnh vực vận tải đường biển. Vận đơn của người gom hàng - House bill of
Hà Thị Hải Yến - Thương mại 46A
5
Chuyên đề tốt nghiệp
lading, chỉ là vận đơn nội bộ giữa người gom hàng với người gửi hàng và
người gửi hàng vẫn phải tiếp tục dựa vào vận đơn đường biển - Ocean bill of
lading được người vận tải đường biển cấp để có thể thanh toán qua ngân hàng
và dùng trong trường hợp xảy ra mất mát hoặc tổn thất đối với hàng hoá.
Những người giao nhận này chỉ còn cách một bước với dịch vụ vận tải đa
phương thức.
2.1.3.Giai đoạn 3: Vai trò tiến bộ như người kinh doanh vận tải đa
phương thức
• Sự ra đời của vận tải đa phương thức (VTĐPT)
VTĐPT ra đời vào cuối những năm 20, đầu những năm 30 của thế kỉ
20. Trong giai đoạn đầu những năm 30, VTĐPT chưa được áp dụng nhiều.
Chỉ từ sau năm 1960, VTĐPT mới được mở rộng và phát triển do kết quả tác
động của nhiều yếu tố: sự tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, quá trình
giảm chi phí giao hàng, rút ngắn thời gian lưu thông hàng hoá, giảm tỷ lệ tổn
thất, mất mát hàng hoá trong container, tỷ lệ hao hụt chỉ vào khoảng 0,5% đến
1% (trong khi đó nếu vận chuyển bằng phương pháp thông thường thì tỷ lệ
hao hụt tới 8%), góp phần thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương, góp
phần giảm bớt trách nhiệm cho chủ hang và việc trao đổi tập quán thương mại
quốc tế, giảm được phí bảo hiểm cho hàng chuyên chở.
Bên cạnh đó, việc chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu đường biển
bằng container có một số hiệu quả xã hội. Container hoá trong vận chuyển
hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển đạt những hiệu quả về mặt xã hội
như sau: tăng năng suất lao động xã hội, tiết kiệm chi phí cho sản xuất xã hội,
tạo điều kiện áp dụng quy trình kỹ thuật mới trong ngành vận tải, góp phần
đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tạo ra những
việc làm mới, dịch vụ mới, giải quyết lao động xã hội, đảm bảo an toàn cho
lao động ngành nghề trong xã hội.
Ngoài những lợi ích trên đây, container hoá trong vận tải biển còn
mang lại nhiều lợi ích khác nữa như:
- Thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng quan hệ hợp tác buôn bán với
các nước trên thế giới
Hà Thị Hải Yến - Thương mại 46A
7
Chuyên đề tốt nghiệp
- Thay đổi cơ cấu mặt hàng, cơ cấu thị trường trong kinh doanh xuất
nhập khẩu
- Góp phần cải thiện cán cân thanh toán trong hoạt động thương mại
quốc tế
- Tạo điều kiện cho đất nước hoà nhập vào sự vận động chung về kinh
tế xã hội với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Tóm lại, vận chuyển hàng hoá bằng container giữ một vị trí quan trọng
trong hệ thống vận tải phục vụ nền kinh tế quốc dân. Đây là phương thức vận
tải tiên tiến đã và đang mang lại hiệu quả cao trong chuyên chở, đặc biệt là
2.1.4. Giai đoạn 4: Vai trò mới như người cung cấp dịch vụ logistics
Ở Bắc Mỹ, Tây Âu và ở các nước phát triển trong khu vực Châu Á -
Thái Bình Dương - ESCAP, những người giao nhận hiện nay đang cung cấp
một loạt các dịch vụ như những người cung cấp dịch vụ logistics “bên thứ ba”
- Third Party Logistics Provider.
Trong nền kinh tế toàn cầu rất sôi động hiện nay, một công ty sản xuất
phải chú ý đến những điểm ưu việt của logistics để có thể để có thể đạt được
lợi thế cạnh tranh cũng chính là nhằm để thoả mãn được nhu cầu ngày càng
tăng của khách hàng và vượt qua được các đối thủ cạnh tranh. Những quy
trình logistics của một công ty (không chỉ gồm quá trình vận tải, xử lý và đưa
nguyên vật liệu thô vào sản xuất và hoàn thiện khâu đưa thành phẩm ra thị
trường) hiện nay đã vượt ra khỏi ranh giới doanh nghiệp cũng như vượt qua
biên giới quốc gia và tìm đến khách hàng cũng như người cung cấp. Không
còn giống như việc kinh doanh trước đây, các quy trình quản lý cần phải được
thay đổi và tiếp thêm sức sống mới cùng với văn hoá của doanh nghiệp.
Những nhà quản lý cần phải sáng tạo, có tầm nhìn xa và nắm vai trò chủ đạo,
hướng dẫn trong việc phát triển, mở rộng ranh giới và hiệu quả của hoạt động
logistics.
Do nguồn tài nguyên sẵn có của nhiều doanh nghiệp sản xuất còn hạn
chế, nên sẽ là sáng suốt nếu các doanh nghiệp này tập trung nguồn tài nguyên
của họ vào lĩnh vực cho phép họ cung cấp những dịch vụ có giá trị có một
không hai cho khách hàng và sử dụng những dịch vụ của một bên thứ ba –
Hà Thị Hải Yến - Thương mại 46A
9
Chuyên đề tốt nghiệp
“outsourcing” - đối với những hoạt động mà doanh nghiệp không có sẵn
nguồn tài nguyên hoặc không thực sự xuất sắc. Việc outsourcing như trên sẽ
hiệu quả và kinh tế hơn nhiều so với việc doanh nghiệp tự làm lấy. Đối với
những doanh nghiệp đi sau trong lĩnh vực logistics thì vẫn có những cơ hội
đáng kể cho họ để thiết lập một sự cộng tác chiến lược với một người cung
logistics
- Thông qua chuỗi cung cấp, thời gian và số lần quá cảnh giảm đi và dễ
dự đoán hơn, thời gian quay vòng cũng được giảm xuống thông qua chuỗi
cung cấp.
- Cải tiến được những kiến thức chuyên môn logistics chiến lược và sự
quản lý logistics tổng thể thống nhất với các mục tiêu kinh doanh của công ty.
Để có được một sự hợp tác chiến lược thành công cần có những nhân tố
quyết định. Không có một sự cộng tác nào tự nó xảy ra mà cần có sự cam kết
thực sự giữa những người lãnh đạo cao nhất, từ đó truyền đạt xuống co toàn
bộ nhân viên dưới quyền trong tổ chức của cả hai bên đối tác. Đối với doanh
nghiệp sản xuất điều này có nghĩa là phải có một chiến lược sử dụng dịch vụ
bên thứ ba được xác định một cách rõ ràng và một cam kết cũng phải rõ ràng
sử dụng những nguồn tài nguyên hợp lý để hoàn thành được công việc. Một
cơ cấu định giá hợp lý thoả mãn nhất cũng là một trong những nhân tố đóng
góp vào sự thành công. Khi hai bên kết hợp với nhau, mối quan hệ này nên
được xây dựng vun đắp trên cơ sở những mong muốn, dự tính thực tế và thoả
thuận cùng có lợi với sự phân công vai trò và trách nhiệm rõ ràng cho cả hai
bên. Khi giá cả được định ra dựa trên kết quả thì những vạch ranh giới phải
được thiết lập vững chắc để những hoạt động có thể được xác định và đánh
giá một cách liên tục. Việc liên lạc thường xuyên phải được duy trì giữa hai
bên với những điểm cụ thể được chỉ ra trên hợp đồng.
Hãng sản xuất phải chỉ định một người quản lý có khả năng giao tiếp
tuyệt vời và tư duy chiến lược để có thể quản lý, giám sát mối liên kết giữa
hai bên. Người quản lý này phải tập trung vào việc làm thế nào để sự cộng tác
trên có thể đạt được kết quả logistics hoàn hảo cho công ty mình chứ không
phải giám sát hoạt động hàng ngày của đối tác chiến lược của công ty.
Hà Thị Hải Yến - Thương mại 46A
11
Chuyên đề tốt nghiệp
‘Outsourcing’ là một lựa chọn hoàn toàn có thể thực hiện được của các
Chuyên đề tốt nghiệp
tải từ bức tranh tổng thể tổng chi phí. Ví dụ như một thay đổi trong cước phí
cao của ngành hàng không có thể dẫn đến một khoản tiết kiệm khá lớn về
hàng tồn kho và chi phí kho bãi do giảm được chi phí lưu kho để đáp ứng
được yêu cầu của khách hàng. Những hoạt động có mối liên hệ bên trong này
bao gồm: vận tải, phân phối, nhập kho hàng thành phẩm, định mức hàng tồn
kho, đóng gói và giải quyết khâu nguyên liệu.
2.2.2 Hệ thống Logistics - Logistics System
Trong suốt những năm 70 và 80 của thế kỷ 20, các công ty đã bắt đầu
nhận ra rõ ràng hơn những khoản tiết kiệm phụ thêm có thể thu được nhờ việc
kết hợp những khía cạnh hướng nội (inbound) - liên quan đến quản lý nguyên
vật liệu và khía cạnh hướng ngoại (outbound) - chính là hoạt động phân phối
vật chất. Sự kết hợp của hai mặt trong và ngoài doanh nghiệp này được mô tả
là hệ thống logistics của công ty.
Bốn nhân tố đóng góp và sự phát triển của những khái niệm liên quan
đến logistics đó chính là sự toàn cầu hoá trong mua bán hàng hoá và các dịch
vụ vận tải; sự cạnh tranh toàn cầu; các nguồn cung cấp đa dạng và công nghệ
thông tin.
Logistics là một trách nhiệm khó khăn nhất của một công ty. Nó được
‘kéo’ và ‘đẩy’ một cách liên tục từ nhiều hướng khác nhau, cả từ bên trong
lẫn bên ngoài: việc bán hàng, kế toán, hoạt động kinh doanh, mua bán, khách
hàng, người bán hàng lẻ, người chuyên chở…Nhân tố làm cho nhiệm vụ càng
khó khăn hơn đó là sự mâu thuẫn trong trách nhiệm logistis - kiểm soát chi
phí và tối đa hoá các dịch vụ. Rất nhiều nhà lãnh đạo của các công ty không
hiểu rõ logistics là gì hay nó thực sự là về cái gì. Rất khó có thể đo đếm được
thành công trong logistics. Khó có thể chỉ ra được những cống hiến của hệ
thống cho công ty và những giá trị gia tăng mà hệ thống đã tạo ra. Cần phải
nắm ngay lấy những số liệu, nhiều nguồn và biện pháp khác nhau. Dịch vụ
này không có trong bất kì một bản kê tài chính nào. Nhưng sự hiệu quả của
Hà Thị Hải Yến - Thương mại 46A
khách hàng cuối cùng. Những lợi thế cạnh tranh về logistics toàn cầu có nghĩa
Hà Thị Hải Yến - Thương mại 46A
14
Chuyên đề tốt nghiệp
là phải áp dụng những giải pháp logistics hàng đầu, những dịch vụ thực tế tốt
nhất nhằm vượt qua được cả sự mong đợi của khách hàng và các đổi thủ cạnh
tranh về cả chất lượng, giá cả, giao hàng và các yếu tố giá trị gia tăng vượt
qua bất cứ ranh giới nào ở bất kì đâu trên thế giới.
2.2.3. Quản lý chuỗi cung cấp - Supply Chain Management (SCM)
Quản lý chuỗi cung cấp - SCM có thể được miêu tả là một thuật ngữ
chiến lược về việc hiểu và quản lý một chuỗi các hoạt động từ người cung cấp
- đến người sản xuất - cho đến khách hàng cùng với các chứng từ có liên
quan, giám sát và điều hành hệ thống có thể tăng giá trị cho sản phẩm. Thuật
ngữ này đưa vào xem xét tầm quan trọng của việc mở rộng mối quan hệ với
những đối tác và sự liên kết giữa những nhà sản xuất và người cung cấp của
họ (vendors), mối liên hệ giữa khách hàng và các bên cung cấp dịch vụ
logistics có liên quan khác, ví dụ như các công ty vận tải, nhập kho và những
nhà cung cấp công nghệ thông tin. Vì các công ty đã bắt đầu nhận ra triển
vọng của sự thống nhất cả chiều ngang lẫn chiều dọc giữa các bên tham gia
trong hoạt động thương mại quốc tế nên điều này đã dẫn đến sự hình thành
một dạng logistics mới - một mô hình mới được biết đến với cái tên là quản lý
chuỗi cung cấp - supply chain management (SCM).
Trong những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp đã tranh luận và đưa ra
một thoả thuận ngắn hạn nhằm tiến hành một cuộc cách tân trong quản lý
chuỗi cung cấp - SCM, nâng cao chất lượng vượt qua cả sự mong đợi của
khách hàng, sử dụng dịch vụ logistics của bên thứ ba, hợp nhất quy trình, đổi
mới trong sự cộng tác với các nhà cung cấp, các mục tiêu ISO, TQM, JIT, sự
cải tiến không ngừng, tái tổ chức các công việc kinh doanh…Đó là toàn bộ
những giải pháp hoàn toàn có cơ sở nhưng chỉ một số ít công ty là thiết lập
những cam kết dài hạn hoặc thực sự thay đổi nhận thức cố hữu trong nội bộ
business and supply chain system. Một lĩnh vực trong vận dụng chuỗi cung
cấp thường bị bỏ qua đó chính là Logistics trình tự ngược. Sự tái chế của bộ
phận ắc quy ô tô chính là một ví dụ minh hoạ cho vai trò của hệ thống kinh
doanh và các chuỗi cung cấp trình tự ngược mang tính đa cấp bậc và liên
Hà Thị Hải Yến - Thương mại 46A
16
Chuyên đề tốt nghiệp
doanh nghiệp. Định hướng người sử dụng cuối cùng cho bộ nạp năng lượng
tự động có ưu điểm cả về môi trường và tính kinh tế, tăng khả năng tái sử
dụng của nguyên vật liệu trong khi vẫn giữ được mức chi phí thấp. Kết quả
cuối cùng chính là xấp xỉ 95% các đường dẫn được sử dụng trong hệ thống
năng lượng mới làm bằng nguyên liệu tái chế được.
Như vậy, quản lý chuỗi cung cấp, qua nhiều cách giải thích và nhận
thức khác nhau có thể đạt được nhờ mối quan mới hệ giữa những đối tác làm
ăn, những thành tựu công nghệ tiên tiến và những phân tích và tái tổ chức
công việc có giá trị. Những sự đổi mới này đã liên tục làm thay đổi nhận thức
về SCM, đặc biệt là những nhận thức về các chức năng khác nhau của
logistics và những đối tác trong chuỗi cung cấp.
3. Sự cần thiết phát triển logistics trong doanh nghiệp
Thứ nhất, chi phí vận tải tăng nhanh, các phương thức phân phối truyền
thống ngày càng đắt đỏ hơn, vì vậy cần phải chú ý tới việc kiểm soát chặt chẽ
những chí phí này vào những năm 70 của thế kỷ 20. Kiểm soát chi phí vận tải
ngày càng cần thiết hơn do giá nhiên liệu tăng vọt. Vận tải lúc này không thể
được coi là một nhân tố ổn định trong phương án kinh doanh của các doanh
nghiệp nữa. Như vậy thực tế đòi hỏi phải có nghệ thuật quản lý ở cấp độ cao
hơn để can thiệp vào những lĩnh vực liên quan đến vận tải cả trong lĩnh vực
chính sách cũng như quá trình thực hiện.
Thứ hai, hiệu quả trong sản xuất đã đạt tới đỉnh cao, vì vậy khó có thể
tìm thêm những biện pháp nhằm tiết kiệm thêm nữa những chi phí từ sản
xuất. Vì vậy muốn tối ưu hóa quá trình sản xuất vật chất, các doanh nghiệp
được nhà cung cấp nào thường xuyên cung cấp các dịch vụ có chất lượng
dưới mức tiêu chuẩn. Nhiều doanh nghiệp nhận thấy sự cần thiết phải nâng
cấp hệ thống phân phối của mình. Và khi các doanh nghiệp chuyển sang áp
dụng hệ thống JIT (Just in time) thì họ cũng đặt ra cho các nhà cung cấp một
yêu cầu rất chính xác về vận chuyển nguyên vật liệu hoặc giao hàng.
II- Đặc điểm và vai trò của logistics
1. Đặc điểm của logistics
Hà Thị Hải Yến - Thương mại 46A
18
Chuyên đề tốt nghiệp
Logistics có thể coi là tổng hợp các hoạt động của doanh nghiệp trên
các khía cạnh chính, đó là logistics sinh tồn; logistics hoạt động và logistics hệ
thống.
- Logistics sinh tồn có liên quan đến các nhu cầu cơ bản của cuộc sống.
Tại bất kỳ thời điểm nào, trong bất cứ môi trường nào, logistics sinh tồn cũng
tương đối ổn định và có thể dự đoán được. Con người có thể nhận thức được
nhu cầu như: cần gì, cần bao nhiêu, khi nào cần và cần ở đâu… Logistics sinh
tồn là hoạt động cơ bản của các xã hội sơ khai và là một thành phần thiết yếu
trong một xã hội công nghiệp hóa. Logistics sinh tồn cung cấp nền tảng cho
logistics hoạt động.
- Logistics hoạt động mở rộng các nhu cầu cơ bản bằng cách liên kết
các hệ thống sản xuất các sản phẩm.Logistics liên kết các nguyên liệu thô
doanh nghiệp cần trong quá trình sản xuất, các dụng cụ sử dụng nguyên liệu
đó trong quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm có được từ sản xuất. Khía
cạnh này của logistics cũng tương đối ổn định và có thể dự đoán được. Nhưng
logistics hoạt động lại không thể dự đoán được khi nào máy móc có sự cố, để
sửa chữa thì cần có cái gì và thời gian sửa chữa…Như vậy logistics hoạt động
chỉ liên quan tới sự vận động và lưu kho của nguyên vật liệu vào trong, qua
và đi ra khỏi doanh nghiệp và là nền tảng cho logistics hệ thống.
- Logistics hệ thống liên kết các nguồn lực cần có trong việc giữ cho hệ
bản mà dịch vụ logistics cung cấp trên đây mà có thể cần cung cấp thêm các
dịch vụ khác của logistics.
Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận:
vận tải giao nhận gắn liền và nằm trong logistics.
Logistics là sự phát triển của dịch vụ vận tải giao nhận ở trình độ cao
và hoàn thiện. Qua các giai đoạn phát triển, logistics đã làm cho các khái
niệm vận tải giao nhận truyền thống ngày càng đa dạng và phong phú. Từ chỗ
thay mặt khách hàng để thực hiện các công việc đơn điệu, lẻ tẻ, tách biệt như:
thuê tàu, chuẩn bị hàng, đóng gói, tái chế hàng, làm thủ tục thông quan… cho
tới cung cấp trọn gói một dịch vụ vận chuyển từ kho đến kho đúng nơi đúng
Hà Thị Hải Yến - Thương mại 46A
20
Chuyên đề tốt nghiệp
lúc để phục vụ nhu cầu khách hàng. Từ chỗ đóng vai trò là đại lý, người ủy
thác trở thành một bên chính trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách
hàng, chịu trách nhiệm trước các nguồn luật điều chỉnh đối với hành vi của
mình. Không phải như trước kia chỉ cần vài xe tải, kho chứa hàng… là có thể
triển khai cung cấp dịch vụ vận tải giao nhận cho khách hàng. Ngày nay, yêu
cầu dịch vụ cung cấp cho khách hàng đa dạng, phong phú, người cung cấp
dịch vụ phải tổ chức quản lý một hệ thống đồng bộ từ giao nhận đến vận tải,
cung ứng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất kinh doanh, bảo quản hàng hóa
trong kho, phân phối hàng hóa đúng nơi, đúng lúc, sử dụng thông tin điện tử
để theo dõi, kiểm tra… Rõ ràng dịch vụ vận tải giao nhận không còn đơn
thuần như trước mà được phát triển ở mức độ cao với đầy tính phức tạp.
Người vận tải giao nhận trở thành người cung cấp dịch vụ logistics.
Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức.
Dịch vụ logistics chính là sự phát triển sâu rộng của dịch vụ vận tải đa
phương thức. Toàn bộ hoạt động vận tải có thể được thực hiện theo một hợp
đồng vận tải đa phương thức và sự phối hợp mọi chu chuyển của hàng hóa do
người tổ chức dịch vụ logistics đảm nhiệm. Điểm giống nhau ở chỗ, trên cơ
sản xuất, giúp thoả mãn nhu cầu của mỗi người.
2.2. Đối với các doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp, logistics có vai trò rất to lớn. Logistics giúp
giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ có
thể thay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hoá quá trình chu
chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ…Logistics giúp giảm chi phí, tăng
khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Có nhiều doanh nghiệp thành công
lớn nhờ có được chiến lược và hoạt động logistics đúng đắn. Ngược lại có
không ít doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí thất bại, phá sản do có những
quyết định sai lầm trong hoạt động logistics. Ví dụ: chọn sai vị trí, chọn
nguồn tài nguyên cung cấp sai, dự trữ không phù hợp, tổ chức vận chuyển
không hiệu quả.
Ngày nay, để tìm được vị trí tốt hơn, kinh doanh hiệu quả hơn, các tập
đoàn đa quốc gia, các công ty đủ mạnh đã và đang nỗ lực tìm kiếm trên toàn
Hà Thị Hải Yến - Thương mại 46A
22
Chuyên đề tốt nghiệp
thế cầu nhằm tìm được nguồn nguyên liệu, nhân công, vốn, bí quyết công
nghệ, thị trường tiêu thụ, môi trường kinh doanh… tốt nhất và thế là logistics
toàn cầu hình thành và phát triển.
Ngoài ra, logistics còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt
là marketing hỗn hợp (4P-Right Product, Right Price, Proper Promotion,
Right Place). Chính logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm
đến đúng nơi cần đến, vào đúng thời điểm thích hợp: sản phẩm/dịch vụ chỉ có
thể làm thoả mãn khách hàng và có giá trị khi và chỉ khi nó đến được vói
khách hàng đúng thời hạn và địa điểm quy định.
Để thực hiện hoạt động logistics cần có những chi phí nhất định. Hình
sau cho thấy những khoản chi phí cơ bản trong hoạt động logistics.
Sơ đồ 1.1: Cân đối chi phí trong marketing và logistics
Hà Thị Hải Yến - Thương mại 46A
sản xuất kinh doanh của xã hội. Vận tải là người cung cấp các phương tiện,
dịch vụ nhằm di chuyển nguồn nguyên liệu đó từ nơi cung cấp tới nơi doanh
nghiệp cần. Tại đó, nguyên liệu được sản xuất, chế biến thành sản phẩm và
vận tải giao nhận lại một lần nữa làm công việc cung cấp hệ thống phân phối
vật chất cho sản phẩm. Như vậy, vận tải giao nhận đảm nhận việc di chuyển
nguyên liệu vào trong doanh nghiệp sau đó phân phối sản phẩm từ doanh
nghiệp ra thị trường đã tạo thành một vòng tuần hoàn trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hà Thị Hải Yến - Thương mại 46A
24
Chuyên đề tốt nghiệp
2. Yếu tố Marketing
Marketing cũng là một yếu tố cơ bản của logistics. Như đã đề cập ở
trên “logistics là một phần của quá trình cung ứng hàng hóa, theo đó lên kế
hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách có hiệu quả luồng hàng và việc cất trữ
hàng hóa và các thông tin có liên quan từ giai đoạn khởi đầu cho tới khi tiêu
thụ nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng”. Như vậy điều quan trọng ở khái
niệm này có thể thấy, tất cả các hoạt động cuối cùng đều tập trung vào khách
hàng- khách hàng là “thượng đế”. Vì vậy trong logistics điểm được nhấn
mạnh nằm ở dịch vụ hiệu quả dành cho khách hàng. Việc chuyển hướng sang
nền kinh tế thị trường, nơi khách hàng là “ thượng đế” là một cuộc cách mạng
lớn trong sản xuất kinh doanh. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải thay đổi tư
duy về marketing, phải điều tra nghiên cứu thị trường, nhu cầu thị trường cần
gì? Bao nhiêu?để có kế hoạch sản xuất và cung cấp sản phẩm đáp ứng nhu
cầu thị trường. “Bán cho khách hàng cái mà họ cần” đã trở thành phương
châm kinh doanh mới.
3.Yếu tố phân phối
Phân phối là một yếu tố cơ bản không thể thiếu được trong chuỗi dây
chuyền của logistics. “Phân phối” là một khái niệm phản ánh sự di chuyển
hàng hóa của một doanh nghiệp (người sản xuất, người kinh doanh hay bất kỳ