Chuyên đề tốt nghiệp 1
LỜI NÓI ĐẦU
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã đặt ra cho các doanh nghiệp
Việt Nam nói chung cả những cơ hội và thách thức . Việc hội nhập sâu vào kinh tế
thế giới và khu vực đòi hỏi Việt Nam phải mở của thị trường sâu rộng cho doanh
nghiệp và hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam.Chính việc mở cửa thị trường là cuộc
cạnh tranh gay go quyết liệt cho các doanh nghiệp trong nước. Nó đã tạo áp lực làm
cho mức độ cạnh tranh trong hầu hết các ngành kinh doanh của nền kinh tế Việt Nam
tăng mạnh. Và ngành kinh doanh thép cũng không phải là một ngoại lệ.
Công ty TNHH XNK Thành Nam là công ty chuyên XNK thép Inox có trụ sở
chính đặt tại 6 BT1A, Khu đô thị mới Mỹ Đình II, Từ Liêm Hà Nội. Hoạt động trong
lĩnh vực kinh doanh thép, hiện nay công ty đang phải chịu những tác động tiêu cực
do mức độ cạnh tranh cao trong ngành mang lại. Bên cạnh đó, những nhược điểm
trong quá trình hoạt động kinh doanh đã làm hạn chế khả năng cạnh tranh của công ty
trên thị trường. Do đó , để có thể tồn tại và phát triển được trong tương lai thì yêu cầu
cấp bách đối với công ty là phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị
trường.
Với những lý do như trên và qua thời gian thực tập tại công ty TNHH XNK
Thành Nam, em đã chọn đề tài “Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công
ty TNHH XNK Thành Nam” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình với hi vọng sẽ
góp phần giúp công ty có biện pháp giải quyết những khó khăn hiện tại và có thể
nâng cao khả năng cạnh tranh trong tương lai.
Nội dung chính của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1 : Lý luận cơ bản về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Chương 2 : Phân tích thực trạng khả năng cạnh tranh của công ty TNHH XNK
Thành Nam
Chương 3 : Một số giải pháp cơ bản nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty
TNHH XNK Thành Nam
Lê Thị Tuyết Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp 2
động của thị trường. Cạnh tranh xuất hiện và gắn liền với sự phát triển của nền kinh
tế hàng hóa, ở đâu có sản xuất trao đổi hàng hóa thì ở đó có cạnh tranh. Vì vậy không
thể lẩn tránh cạnh tranh mà phải chấp nhận cạnh tranh, đón trước cạnh tranh và sẵn
sàng sử dụng vũ khí cạnh tranh hữu hiệu.
Lê Thị Tuyết Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp 4
1.1.2. Khái niệm về cạnh tranh
Là một thuật ngữ lâu đời và được sử dụng phổ biến , thường xuyên được nhắc
tới trong mọi lĩnh vực của xã hội. Thuật ngữ “ cạnh tranh” luôn thu hút được sự
quan tâm của giới nghiên cứu và được phân tích từ nhiều góc độ khác nhau. Với mỗi
góc độ nghiên cứu khác nhau thì cạnh tranh được định nghĩa khác nhau
Hiểu một cách chung nhất cho mọi lĩnh vực trong đời sống thì cạnh tranh được
định nghĩa là: “Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá
thể có chung môi trường sống với các điều kiện nào đó mà các cá thể cùng quan
tâm”.
Xét trong phạm vi lĩnh vực kinh tế, lịch sử đã cho thấy 2 trường phái tiêu biểu
về lý thuyết cạnh tranh:Thứ nhất, trường phái cổ điển với các đại biểu tiêu biểu như
A.Smith, John Stuart Mill, Darwin và C.Mác đã có những đóng góp nhất định trong
lý thuyết cạnh tranh sau này.Thứ hai, trường phái hiện đại với hệ thống lý thuyết đồ
sộ với 3 quan điểm tiếp cận: Tiếp cận theo tổ chức ngành với đại diện là trường phái
Chicago và Harvard; Tiếp cận tâm lý với đại diện là Meuger, Mises, Chumpeter
thuộc trường phái Viên; Tiếp cận “ cạnh tranh hòan hảo” phát triển lý thuyết của Tân
cổ điển. Trong 2 trường phái đó, đáng chú ý nhất là khái niệm về “cạnh tranh” dưới
thời Tư Bản Chủ Nghĩa của C.Mác “ Cạnh tranh TBCN là sự ganh đua , sự đấu
tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong
sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Cơ sở của cạnh
tranh ở đây là chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trường, nơi mà cạnh tranh luôn diễn ra liên tục và không
có đích cuối cùng. Các chủ thể hành vi kinh tế vì lợi ích riêng của bản thân mình mà
tiến hành cạnh tranh với nhau. Cạnh tranh được hiểu là “sự ganh đua giữa các chủ
lượng sản xuất mà còn kích thích sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, hiện đại hóa công
nghệ sản xuất kinh doanh của một nền kinh tế.
Cạnh tranh còn thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế, tạo ra môi
trường kinh doanh bình đẳng cho các thành phần kinh tế, góp phần hạn chế sự độc
quyền và bất bình đẳng trong kinh doanh, làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội
Lê Thị Tuyết Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp 6
Tuy nhiên, cái gì cũng có mặt trái của nó. Cạnh tranh có thể tạo ra sự bất bình đẳng
nếu như các chủ thể áp dụng các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh, làm sâu sắc
thêm sự phân hóa giàu nghèo của xã hội..Vì lý do đó, cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng
cũng phải được điều chỉnh bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước
* Đối với các doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp tham gia kinh doanh trên thị trường thì cạnh tranh có
một vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Cạnh tranh chính là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng
cải thiện hoạt động kinh doanh để tồn tại và phát triển. Cạnh tranh góp phần tạo ra
một môi trường kinh doanh bình đẳng hơn cho các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cạnh
tranh làm cho các doanh nghiệp đưa ra mức giá gần hơn với các chi phí cận biên và
từ đó phân bổ các đầu vào hiệu quả hơn. Cạnh tranh cũng có thể làm giảm sự mất cân
đối và làm cho hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp dễ dàng so sánh hơn. Đồng
thời nó làm cho các danh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu
quả phải tiến hành cải tổ bộ máy tổ chức, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất…nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, giảm giá thành nếu như
không muốn đối mặt với nguy cơ mất thị phần hoặc rời bỏ thị trường.
* Đối với người tiêu dùng
Cạnh tranh giúp người tiêu dùng nhận được nhiều lợi ích hơn khi tiêu dùng
hàng hóa. Bởi vì người tiêu dùng là một trong những nguyên nhân góp phần tạo nên
sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trên thị trường. Chính áp lực cạnh tranh
buộc các doanh nghiệp phải tiến hành nâng cao chất lương, giảm giá bán, tăng thêm
các tiện ích khác cho khách hàng : sửa chữa, bảo hành, các dịch vụ sau bán. Khi đó
khác biệt sẽ là một yếu tố quan trọng để doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh trong
ngành cho mình.
1.1.4.2 Căn cứ vào phạm vi cạnh tranh
* Cạnh tranh trong nội bộ ngành : Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong cùng một ngành, cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hóa nhằm giành giật
những điều kiện trong sản xuất và tiêu thụ có lợi hơn để thu lợi nhuận lớn. Thông
thường, cạnh tranh trong nội bộ ngành cực kì khốc liệt do có nhiều doanh nghiệp
Lê Thị Tuyết Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp 8
cùng kinh doanh các sản phẩm hàng hóa dịch vụ để thỏa mãn cho cùng một nhu cầu
nào đó của người tiêu dùng. Để có thể cạnh tranh được với các đối thủ còn lại trong
ngành thì các doanh nghiệp phải thường xuyên ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ
thuật , nâng cao chất lượng hàng hóa, giảm chi phí, giảm giá thành để thu hút khách
hàng, chiếm thị phần cao hơn đối thủ cạnh tranh
* Cạnh tranh giữa các ngành : Là sự cạnh tranh trong các ngành sản xuất kinh
doanh khác nhau, nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi hơn. Trong nền kinh tế quốc
dân, các ngành sản xuất kinh doanh khác nhau thì điều kiện vật chất kỹ thuật, môi
trường kinh doanh, nhu cầu thị hiếu….là khác nhau. Nên khi cùng một lượng vốn vào
ngành này thì có thể đạt được tỷ suất lợi nhuận cao hơn các ngành khác. Vì vậy dẫn
đến tình trạng những nhà sản xuất ở ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sẽ rút lui khỏi
ngành và chuyển sang đầu tư sản xuất ở những ngành mang lại tỷ suất lợi nhuận cao
hơn. Điều đó tạo nên sự cạnh tranh giữa các ngành với nhau.
1.1.4.3 Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh
Khi căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh trên thị trường thì chúng ta có
thể phân ra 3 loại cạnh tranh như sau
* Cạnh tranh giữa người bán với người bán
Đây là cuộc cạnh tranh cơ bản và khốc liệt nhất trên thị trường. Các doanh
nghiệp tìm cách giành giật khách hàng, chiếm lĩnh thị trường để có thể tiêu thụ được
càng nhiều hàng hóa càng tốt nhằm thu được lợi nhuận cao. Muốn giành lợi thế trong
cuộc cạnh tranh trên các doanh nghiệp phải áp dụng các biện pháp có thể để lôi kéo
* Khái niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Như chúng ta đã biết, cạnh tranh là một tất yếu khách quan của nền kinh tế thị
trường , bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tham gia vào thị trường đều phải chấp nhận
cạnh tranh. Tuy nhiên, để có thể giành ưu thế trong cạnh tranh là một điều rất khó
khăn. Do đó, các doanh nghiệp cần phải tự tạo ra và nâng cao khả năng cạnh tranh
cho chính mình.
Vậy “khả năng cạnh tranh” được hiểu như thế nào?
Năng lực cạnh tranh được xem xét trên 3 cấp độ.
Lê Thị Tuyết Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp 10
- Năng lực cạnh tranh quốc gia : là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng
trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế xã hội, nâng cao đời
sống người dân
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Được đo bằng khả năng duy trì và mở
rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong
nước và ngoài nước.
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm : được đo lường bằng thị phần của sản
phẩm hay dịch vụ cụ thể trên thị trường
Ở đây chúng ta quan tâm đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Hiện nay,
quan niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng có nhiều khác biệt. Có ý
kiến cho rằng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản
phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường.Có quan điểm gắn khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có những quan điểm đồng nhất khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh.Có một số ý kiến
tán thành quan điểm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác thực lực
và lợi thế của mình để thỏa mãn nhu cầu khách hàng và thu được lợi nhuận. Tuy nhiên,
nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình e rằng chưa đủ, bởi trong điều kiện tòan
cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngòai đôi khi là yếu tố quyết định. Thực tế chứng minh một
số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực bên trong yếu nhưng vẫn tồn
tại và phát triển trong một thế giới khốc liệt như hiện nay.
Những yếu tố này phần lớn thuộc về doanh nghiệp và nằm trong tầm kiểm sóat của
doanh nghiệp. Tổng hợp của những yếu tố này tạo thành sức mạnh chung của doanh
nghiệp để có thể cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường. Đồng thời, những yếu tố
này cũng chính là các công cụ cạnh tranh mà doanh nghiệp sẽ sử dụng để vượt qua
các đối thủ cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách tốt nhất. Sau đây là
những yếu tố cơ bản và quan trọng nhất tạo nên khả năng cạnh tranh của một doanh
nghiệp.
1.2.2.1 Sản phẩm
Lê Thị Tuyết Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp 12
Theo quan điểm truyền thống thì : “ Sản phẩm là tập hợp các đặc tính vật lý
học, hóa học, sinh học…có thể quan sát được, dùng để thỏa mãn những nhu cầu cụ
thể của sản xuất hoặc đời sống”.
Còn theo quan điểm của các chuyên gia Marketing, họ hiểu sản phẩm ở một
phạm vi rộng lớn hơn nhiều: “ Sản phẩm là tất cả những cái, những yếu tố có thể
thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn được đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích
thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng”.
Đối với một doanh nghiệp thương mại thì sản phẩm là một yếu tố căn bản và
quan trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh.Chữ tín của sản phẩm quyết định
chữ tín của doanh nghiệp và tạo lợi thế có tính quyết định trong cạnh tranh.Cạnh
tranh về sản phẩm thường được thể hiện qua các mặt như chất lượng sản phẩm, giá
cả của sản phẩm hay là các dịch vụ hỗ trợ kèm theo.
a, Chất lượng sản phẩm
Nói đến chất lượng của sản phẩm thì có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau.
Nhưng thường gặp, thông dụng nhất là 3 định nghĩa sau:
(1) “ Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu
dùng” ( European Organization for Quanlity Control)
(2) “ Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” ( Philip B. Crosby)
(3) “ Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó
khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và những nhu cầu tiềm ẩn”
cho sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng. Vì vậy, các yếu tố bổ sung
này trở thành một trong những vũ khí cạnh tranh của các nhãn hiệu sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm luôn là một trong những nhân tố quyết định khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Nó tạo uy tín, danh tiếng, cơ sở cho sự
tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp.Tăng chất lượng sản phẩm tương đương
với tăng năng suất lao động xã hội … Do đó doanh nghiệp cần chú trọng nâng cao
chất lượng sản phẩm bằng các biện pháp như: nghiên cứu tìm tòi , phát minh sang
kiến để tăng thêm hiệu quả sử dụng, tính năng sản phẩm, thay thế vật liệu tạo ra sản
Lê Thị Tuyết Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp 14
phẩm có những ưu thế vượt trội. Sử dụng khoa học công nghệ cao, hiện đại tạo ra sản
phẩm mới…
b, Giá cả
Trong thực tiễn kinh doanh, có nhiều quan niệm khác nhau về giá cả. Đứng
dưới các góc độ khác nhau thì quan niệm về giá là khác nhau
- Với hoạt động trao đổi , giá cả được định nghĩa: “ Giá cả là mối tương quan
trao đổi trên thị trường”.
- Với người mua: “ Giá cả của một sản phẩm hoặc dịch vụ là khỏan tiền mà
người mua phải trả cho người bán để được quyền sở hữu, sử dụng sản phẩm hay
dịch vụ gì đó”
- Người bán định nghĩa : “ Giá cả của một hàng hóa, dịch vụ là khỏan thu nhập
mà người bán nhận được nhờ việc tiêu thụ sản phẩm đó” .
Mặc dù có nhiều quan niệm về giá như vậy nhưng chung quy lại thì giá đều thể
hiện là : “ Sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa”. Giá cả là một yếu tố rất nhạy
cảm trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động thương mại nói riêng bởi vì
nó liên quan đến lợi ích cá nhân có tính mâu thuẫn giữa người mua và người bán. Giá
càng cao người bán càng có lợi còn giá càng thấp người mua càng có lợi. Sự vận
động ngược chiều về lợi ích này được giải quyết thông qua mức giá.
Mức giá có vai trò cực kỳ quan trọng trong cạnh tranh. Nếu như chênh lệch về
giá giữa doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh lớn hơn chênh lệch về giá trị sử dụng sản
mua).Đây là biện pháp có thể đem lại nhiều lợi thế so với đối thủ cạnh tranh. Tuy
nhiên hạ giá là phương pháp cuối cùng doanh nghiệp sẽ thực hiện trpng cạnh tranh
bởi giá cả hạ có ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Do đó DN cần
phải lựa chọn thời điểm thích hợp để tiến hành sử dụng giá cả làm vũ khí cạnh tranh
Chính sách chiếu cố giá tương tự như giảm giá do chi phí bỏ ra để mua hàng
của khách hàng cuũng giảm đi so với giá công bố . Nhưng khỏan giảm giá này
thường kèm thêm điều kiện đua ra bởi người bán “ giúp người bán về việc gì đó” hay
dưới dạng “ được cho thêm một cái gì đó” ngoài hàng hóa đã mua.
c, Các dịch vụ hỗ trợ
Lê Thị Tuyết Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp 16
Đây chính là các dịch vụ bán và dịch vụ sau bán bao gồm lắp đặt, sửa chữa, bảo
hành, hướng dẫn sử dụng, các dịch vụ trong thanh tóan….. Các dịch vụ này là một
yếu tố cấu thành sản phẩm hoàn chỉnh. Nó cũng là một công cụ đắc lực trong cạnh
tranh bằng sản phẩm của doanh nghiệp. Nếu mà DN có các dịch vụ hỗ trợ tốt và phù
hợp với sản phẩm, đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng thì sẽ góp phần
nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
Do đó, để có thể bảo đảm cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho khách hàng một cách
tốt nhất doanh nghiệp cần chú trọng tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất trong thanh
tóan, có phương tiện bán hàng văn minh, tạo điều kiện để có công nghệ bán hàng đơn
giản hợp lý. Hình thành mạng lưới dịch vụ hỗ trợ rộng khắp ở những địa bàn dân cư.
Thường xuyên cung cấp các dịch vụ sau khi bán hàng cho người sử dụng đặc biệt là
những sản phẩm có bảo hành hoặc hết thời hạn bảo hành.
1.2.2.2 Các nguồn lực cơ bản trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Các nguồn lực cơ bản của doanh nghiệp phản ánh các yếu tố mang tính chủ
quan và dường như có thể kiểm sóat được ở mức độ nào đó mà doanh nghiệp có thể
sử dụng để làm công cụ cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường hoặc làm cơ sở để
nâng cao năng lực cạnh tranh cho mình. Trong doanh nghiệp có nhiều nguồn lực cấu
thành năng lực cạnh tranh, tuy nhiên quan trọng và cơ bản nhất phải kể đến 2 nguồn
lực sau đây: nguồn lực tài chính và nguồn nhân lực
sức mạnh của một doanh nghiệp. Và quả thực như vậy, nếu không có con người với
những trình độ, chuyên môn, kỹ thuật nghiệp vụ nhất định thì bộ máy doanh nghiệp
không thể vận hành được. Họ chính là người quyết định doanh nghiệp sẽ sản xuất và
kinh doanh cái gì? Bán sản phẩm cho ai? Sản xuất và kinh doanh như thế nào? Sản
xuất và kinh doanh bao nhiêu?... Còn các yếu tố vốn, tài sản chỉ là các điều kiện cần
thiết để quá trình hoạt động của doanh nghiệp có thể thực hiện được.
Với tầm quan trọng như vậy nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng hàng đầu
cấu thành nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đánh giá và phát triển nguồn
nhân lực trở thành một nhiệm vụ ưu tiên mang tính chiến lược trong kinh doanh. Khi
nghiên cứu về nguồn nhân lực, chúng ta quan tâm đến các vấn đề cơ bản sau đây
- Trình độ, kinh nghiệm, năng lực của ban lãnh đạo
Lê Thị Tuyết Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp 18
- Trình độ tay nghề của nhân viên, năng suất lao động, kỷ luật lao động
- Số lượng lao động, kiến thức, kinh nghiệm, sức khỏe, khả năng hòa nhập
- Chiến lược con người và kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của doanh
nghiệp
- Chế độ làm việc, chính sách đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nhân sự
Khi doanh nghiệp thương mại có nguồn nhân lực trình độ cao, kỷ luật tốt sẽ làm
cho quá trình kinh doanh của DN suôn sẻ, hiệu quả đem lại lợi thế lớn cho DN trong
cuộc chạy đua với các doanh nghiệp khác trên thương trường. Tạo nên khả năng cạnh
tranh cho doanh nghiệp.
1.2.2.3 Trình độ tổ chức, quản lý của doanh nghiệp
Nói đến trình độ tổ chức, quản lý của doanh nghiệp có nghĩa là nói đến sự hợp
lý của cơ cấu bộ máy tổ chức, tính hiệu quả của hệ thống quản lý và công nghệ quản
lý. Bao gồm các hoạt động như bố trí nhân sự, xây dựng bộ máy quản lý, lập kế
hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch, tổ chức khoa học nơi làm việc, giám sát quá
trình tổ chức thực hiện sản xuất kinh doanh…
Tổ chức bộ máy kinh doanh là việc thiết lập mô hình tổ chức và mối liên hệ về
chức năng nhiệm vụ giữa các phòng ban, các bộ phận trong DN và trong nội bộ các
cả trung bình trên thị trường, chất lượng sản phẩm được nâng cao tạo lợi thế trong
tiêu thụ và cạnh tranh.
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Để có thể đánh giá một cách tòan diện về khả năng cạnh tranh của một doanh
nghiệp chúng ta cần phải xem xét đến rất nhiều các chỉ tiêu khác nhau. Tuy nhiên,
trong đó chỉ có một số ít chỉ tiêu cơ bản là phản ánh rõ nét, đầy đủ và chính xác nhất
khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp. Bên cạnh các chỉ tiêu mang tính định
lượng cao thì cũng có một số chỉ tiêu định tính phản ánh được khả năng cạnh tranh
của DN. Sau đây chúng ta sẽ xem xét một số chỉ tiêu cơ bản mà chúng ta có thể sử
dụng để đánh giá khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung.
1.2.3.1 Các chỉ tiêu định lượng
a, Các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh
* Doanh số bán
Lê Thị Tuyết Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp 20
Doanh số hàng bán = Giá bán đơn vị sản phẩm x Số lượng hàng bán
Đấy là một chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh khả năng tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
kinh doanh của doanh nghiệp.Chỉ tiêu này cho thấy quy mô kết quả hoạt động kinh
doanh trong kỳ. Tính tóan được chỉ tiêu này sẽ giúp chúnh ta có thể dễ dàng xác định
được doanh thu của doanh nghiệp. Từ đó có thể tính tóan nhanh chóng các chỉ tiêu
khác phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
* Tổng doanh thu
Tổng doanh thu = doanh số bán – (giảm giá hàng bán + chiết giá + hàng bán ra
nhưng khách hàng trả lại + hao hụt hàng hóa không truy cứu được trách nhiệm +
VAT theo phương pháp trực tiếp)
Đối với các doanh nghiệp thương mại, doanh thu được hình thành chủ yếu từ
các hoạt động bán hàng và các họat động dịch vụ. Ngòai ra, doanh thu còn được hình
thành từ các hoạt động tài chính và hoạt động bất thường. Doanh thu của doanh
nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với tòan bộ hoạt động của doanh nghiệp, nó là nguồn để
doanh nghiệp trang trải các chi phí, thực hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở
1
=
∑
∑
V
LN
x 100%
Trong đó:
M
1
: mức doanh lợi trên vốn kinh doanh
∑
LN
: Tổng lợi nhuận
∑
V
: Tổng vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này cho thấy cứ một đồng vốn kinh doanh bỏ ra thì mang lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận
- Hai là : Mức doanh lợi trên doanh thu
M
2
=
∑
∑
DT
LN
x 100%
Trong đó : M
2
LĐ
DT
hoặc W =
∑
∑
LĐ
TN
Trong đó :
W : Năng suất lao động bình quân của một lao động trong kỳ
∑
TN
: Tổng thu nhập
∑
LĐ
: Tổng lao động
Chỉ tiêu này cho thấy trung bình một lao động của doanh nghiệp thực hiện được
bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ hoặc bao nhiêu đồng thu nhập trong kỳ.
c, Một số chỉ tiêu về Vốn
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại là thể hiện bằng tiền của tòan bộ
tài sản doanh nghiệp dùng trong kinh doanh. Vốn kinh doanh được chia thành vốn cố
định và vốn lưu động. Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền tài sản cố định của doanh
nghiệp thương mại dùng trong kinh doanh còn vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền
của tài sản lưu động và vốn lưu thông. Sau đây là một số chỉ tiêu về vốn cần xem xét
khi đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
* Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định
- Sức sản xuất của vốn cố định
Lê Thị Tuyết Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp 23
Sức sản xuất của VCĐ =
VCĐ
DT
∑
Trong đó : L : Số vòng quay của VLĐ
Chỉ tiêu này cho biết VLĐ quay được bao nhiêu vòng trong kỳ. Nếu số vòng
quay càng nhiều chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn cao và ngược lại
- Số ngày của một vòng quay của vốn lưu động
N ( ngày) =
L
T
Trong đó: N : số ngày của một vòng quay của VLĐ
T : Thời gian theo lịch trong kỳ
Lê Thị Tuyết Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp 24
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết để cho vốn lưu động quay được một
vòng.Thời gian càng ngắn thì tốc độ luân chuyển vốn lưu động càng lớn chứng tỏ
hiệu quả sử dụng vốn cao và ngược lại
d, Thị phần của doanh nghiệp trên thị trường
Thị phần ( Market share) là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp
chiếm lĩnh . Thị phần là thước đo thị trường quan trọng. Dẫn đầu về thị phần sẽ đem
lại thế chủ động , giành vị trí hàng đầu trong tâm trí người tiêu dùng và giành phần
lớn lợi nhuận. Thị phần của DN được xác định theo công thức sau đây:
Thị phần = Tổng doanh số bán hàng của DN / Tổng doanh số của thị trường
Hoặc
Thị phần = Số sản phẩm bán ra của DN / Tổng sản phẩm tiêu thụ của thị
trường
Thị phần nói rõ phần sản phẩm tiêu thụ riêng của doanh nghiệp so với tổng sản
phẩm tiêu thụ trên thị trường. Bên cạnh đó, khi nói đến thị phần ta còn phải xem xét
thị phần tương đối (Relative Market Share) :
Thị phần tương đối = Phần doanh số của DN / Phần doanh số của đối thủ
cạnh tranh
đem lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Bên cạnh nhãn hiệu sản phẩm thì thương hiệu, uy tín của doanh nghiệp trên thị
trường cũng là một yếu tố định tính phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp.Thương hiệu thể hiện hình ảnh, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, trong
lòng người tiêu dùng. Vì vậy khi doanh nghiệp có hình ảnh tốt, đã định vị trong tâm
trí người tiêu dùng , có uy tín với khách hàng và bạn hàng sẽ giúp doanh nghiệp
giành lợi thế trong việc cạnh tranh trên thị trường.
* Sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng
Sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng được hiểu là mức độ về trạng thái cảm
giác của người tiêu dùng bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng
sản phẩm của doanh nghiệp với những kỳ vọng của họ. Đây cũng là một chỉ tiêu
quan trọng đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Khi mà các sản phẩm của
Lê Thị Tuyết Lớp: Thương mại 46B