Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH một thành viên sản xuất và thương mại Minh Kết - Pdf 30

Trường Đại Học Lương Thế Vinh Khóa luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều kiện và
yếu tố kích thích kinh doanh. Quy luật cạnh tranh là động lực phát triển sản
xuất. Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, hàng hoá bán ra nhiều số
lượng người cung ứng ngày càng đông thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt,
kết quả cạnh tranh là loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả và
sự lớn mạnh của những doanh nghiệp làm ăn tốt. Do vậy muốn tồn tại và
phát triển thì doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, phải tìm mọi cách nâng cao
khả năng cạnh tranh của mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách
hàng, các doanh nghiệp cần phải tìm ra biện pháp như đáp ứng nhu cầu thị
hiếu của khách hàng bằng cách sản xuất và kinh doanh những sản phẩm có
chất lượng cao, công dụng tốt nhưng giá cả phải phù hợp. Có như thế hàng
hóa bán ra của doanh nghiệp mới ngày một nhiều.Điều này hoàn toàn phụ
thuộc vào việc doanh nghiệp đó lựa chọn ngành nghề kinh doanh sản phẩm
đưa ra thi trường và chiến lược kinh doanh của công ty. Vậy cần có những
giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Xuất phát từ tầm quan trọng của cạnh tranh đối với mỗi doanh nghiệp,
sau một thời gian thực tập tại Công ty TNHH một tành viên sản xuất và
thương mại Minh Kết em quyết định lựa chọn đề tài “Một số giải pháp
nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH một thành viên sản xuất
và thương mại Minh Kết”
Ngoài lời mở đầu và kết luận chuyên đề luận văn được kết cấu như
sau:
Phần 1: Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh
Phần 2: Phân tích thực trạng khả năng cạnh tranh của công ty
Phần 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty
Sinh viên: Nguyễn Thị Ánh Dương 1 Lớp: QTKD B – K4
Trường Đại Học Lương Thế Vinh Khóa luận tốt nghiệp
Trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp được sự hướng dẫn
của thầy giáo Trần Trọng Phúc, cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của ban lãnh

hiệu quả và tất yếu những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ đứng vững
trên thị trường.
Tuy nhiên, ngoài những mặt tích cực, cạnh tranh không lành mạnh
cũng gây ra nhiều hậu quả tiêu cực cho xã hội như : gây tổn thất lãng phí
Sinh viên: Nguyễn Thị Ánh Dương 3 Lớp: QTKD B – K4
Trường Đại Học Lương Thế Vinh Khóa luận tốt nghiệp
cho xã hội, ô nhiễm môi trường .... Chính vì vậy, nhà nước cần có những
giải pháp hữu hiệu để hạn chế những tác hại tiêu cực của cạnh tranh.
* Các loại hình cạnh tranh.
Có nhiều cách phân loại cạnh tranh dựa trên những tiêu thức khác
nhau .
a. Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường, có ba loại :
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua
- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau
b.Căn cứ vào mức độ, tính chất của cạnh tranh trên thị trường, có 3
loại :
- Cạnh tranh hoàn hảo : Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường
có rất nhiều người mua và người bán và không có người nào có ưu thế để
có thể ảnh hưởng đến giá cả trên thị trường.
- Cạnh tranh không hoàn hảo : Tình trạng thị trường không đạt được
như trên, tức là có ít nhất một người bán hàng lớn đến mức có thể ảnh
hưởng đến giá cả trên thị trường.
- Cạnh tranh độc quyền : Đây là loại hình cạnh tranh mà trên thị
trường chỉ có một số người bán một số sản phẩm thuần nhất hoặc nhiều
người bán một loại sản phẩm không đồng nhất. Họ có thể kiểm soát gần
như toàn bộ số lượng sản phẩm hay hàng hoá bán ra trên thị trường. Thị
trường cạnh tranh độc quyền không có cạnh tranh về giá cả mà một số
người bán toàn quyền quyết định giá cả.
c. Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế, có :

chỉ tiêu định tính.
Sinh viên: Nguyễn Thị Ánh Dương 5 Lớp: QTKD B – K4
Trường Đại Học Lương Thế Vinh Khóa luận tốt nghiệp
*Các chỉ tiêu định lượng.
- Thị phần của doanh nghiệp : Đây là một chỉ tiêu thường được sử
dụng để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được
đo bằng tỷ lệ phần trăm doanh số của công ty so với doanh số của toàn
ngành. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng cạnh
tranh cao và ngược lại.
- Doanh thu : Dựa vào doanh thu có thể đánh giá được khả năng tiêu
thụ của doanh nghiệp là tốt hay không tốt. Để sử dụng được chỉ tiêu này thì
doanh nghiệp có thể chọn từ 3 đến 5 đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trong
ngành để đưa ra so sánh và kết luận.
Chỉ tiêu này dễ tính, đơn giản nhưng nhược điểm là dôi khi không
chính xác và khó lựa chọn ra doanh nghiệp nào là mạnh nhất.
- Tỷ suất lợi nhuận : Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp, nó
phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và cũng thể hiện tính hiệu
quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Công thức tính :
Lợi nhuận của doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận = —–———————————
Doanh thu của doanh nghiệp
- Quy mô về vốn : Một doanh nghiệp có tổng vốn kinh doanh lớn sẽ
có khả năng cạnh tranh cao hơn do có điều kiện mở rộng sản xuất, đổi mới
công nghệ.
- Năng suất lao động: Được đo bằng giá trị sản lượng / một công
nhân. Năng suất lao động càng cao phản ánh doanh nghiệp càng có khả
năng giảm chi phí, hạ giá thành, do đó có khả năng cạnh tranh càng cao
trên thị trường.
Sinh viên: Nguyễn Thị Ánh Dương 6 Lớp: QTKD B – K4

được và phụ thuộc vào các lực lượng sau đây :
- Sức ép của đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành : Khi trong ngành
kinh doanh của doanh nghiệp có số lượng đông đối thủ cạnh tranh hoặc có
nhiều đối thủ thống lĩnh thị trường thì cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt
hơn.
- Sự đe doạ của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn sẽ gia nhập thị trường
- Sức ép của nhà cung ứng : Quyền lực của nhà cung ứng được khẳng
định thông qua sức ép về giá nguyên vật liệu.
- Sức ép của khách hàng :Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp còn bị
đe doạ bởi chính năng lực, trình độ nhận thức, khả năng của người tiêu
dùng.
- Sự xuất hiện các sản phẩm thay thế : Khi trên thị trường xuất hiện
thêm sản phẩm mà doanh nghiệp đang sản xuất tất yếu sẽ giảm khả năng
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường.
3. Nhân tố bên trong doanh nghiệp.
a. Nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng nhất trong mọi hoạt động của
doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực bao gồm :
- Quản trị viên cấp cao : Gồm ban giám đốc và các trưởng phòng phó
ban. Đây là đội ngũ có ảnh hưởng quyết định đến kết quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp
Sinh viên: Nguyễn Thị Ánh Dương 8 Lớp: QTKD B – K4
Trường Đại Học Lương Thế Vinh Khóa luận tốt nghiệp
- Quản trị viên cấp trung gian : Đây là độ ngũ quản lý trực tiếp phân
xưởng sản xuất đòi hỏi phải có kinh nghiệm và khả năng hợp tác, ảnh
hưởng tới tốc độ sản xuất và chất lượng sản phẩm.
- Đội ngũ quản trị viên cấp thấp và cán bộ công nhân viên trực tiếp sản
xuất sản phẩm : Đội ngũ công nhân ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản
phẩm, do vậy cần tạo điều kiện cho họ hoàn thành tốt những công việc

chi phí lưu thông, chi phí yểm trợ và tiếp xúc bán hàng.
- Các yếu tố không thể kiểm soát được : Đó là quan hệ cung cầu trên
thị trường, cạnh tranh trên thị trường, sự điều tiết của nhà nước.
Trong doanh nghiệp chiến lược giá cả là thành viên thực sự của chiến
lược sản phẩm và cả hai chiến lược này lại phụ thuộc vào mục tiêu chiến
lược chung của doanh nghiệp. Một trong những nội dung cơ bản của chiến
lược giá cả là việc định giá, Định giá là việc ấn định có hệ thống giá cả cho
đúng với hàng hoá hay dịch vụ bán cho khách hàng. Việc định giá này căn
cứ vào các mặt sau:
- Lượng cầu đối với sản phẩm : Doanh nghiệp cần tính toán nhiều
phương án giá ứng với mỗi loại giá là một lượng cầu. Từ đó chọn ra
phương án có nhiều lợi nhuận nhất, có tính khả thi nhất.
- Chi phí sản xuất và giá thành đơn vị sản phẩm: giá bán là tổng giá
thành và lợi nhuận mục tiêu cần có những biện pháp để giảm giá thành sản
phẩm. Tuy nhiên không phải bao giờ giá bán cũng cao hơn giá thành, nhất
là trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Vì vậy doanh nghiệp
cần nhận dạng đúng thị trường cạnh tranh để từ đó đưa ra các định hướng
giá cho phù hợp với thị trường.
Sinh viên: Nguyễn Thị Ánh Dương 10 Lớp: QTKD B – K4
Trường Đại Học Lương Thế Vinh Khóa luận tốt nghiệp
a. Các chính sách để định giá
- Chính sách giá thấp : Là chính sách định giá thấp hơn thị trường để
thu hút khách hàng về phía mình. Chính sách này đòi hỏi doanh nghiệp
phải có tiềm lực vốn lớn, phải tính toán chắc chắn và đầy đủ mọi tình
huống rủi ro có thể xẩy ra đối với doanh nghiệp khi áp dụng chính sách giá
này.
- Chính sách giá cao : Là chính sách định giá cao hơn giá thị trường
hàng hoá. Chính sách này áp dụng cho các doanh nghiệp có sản phẩm độc
quyền hay dịch vụ độc quyền không bị cạnh tranh.
- Chính sách giá phân biệt : Nếu các đối thủ cạnh tranh chưa có mức

được trên thị trường thì doanh nghiệp phải có chiến lược sản phẩm đúng
đắn, tạo ra được những sản phẩm phù hợp, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị
trường với chất lượng tốt.
3. Hệ thống kênh phân phối
Trước hết để tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp cần phải chọn các kênh
phân phối, lựa chọn thị trường, nghiên cứu thị trường và lựa chọn kênh
phân phối để sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ nhanh chóng, hợp lý và
đạt được hiệu quả cao. Chính sách phân phối sản phẩm đạt được các mục
tiêu giải phóng nhanh chóng lượng hàng tiêu thụ, tăng nhanh vòng quay
của vốn thúc đẩy sản xuất nhờ vậy tăng nhanh khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp.
Thông thường kênh phân phối của doanh nghiệp được chia thành 5
loại sau:
Sinh viên: Nguyễn Thị Ánh Dương 12 Lớp: QTKD B – K4
Trường Đại Học Lương Thế Vinh Khóa luận tốt nghiệp

Sơ đồ 1 : Hệ thống kênh phân phối trong các doanh nghiệp
Theo sự tác động của thị trường, tuỳ theo nhu cầu của người mua và
người bán, tuỳ theo tính chất của hàng hoá và quy mô của doanh nghiệp
theo các kênh mà có thể sử dụng thêm vai trò của người môi giới. Bên cạnh
việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có thể đẩy mạnh các hoạt
động tiếp thị, quảng cáo, yểm trợ bán hàng để thu hút khách hàng. Nhưng
nhìn chung việc lựa chọn kênh phân phối phải dựa trên đặc điểm sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp cũng như đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản
phảm cần tiêu thụ. Đồng thời việc lựa chọn kênh phân phối cũng như lựa
chọn trên đặc điểm thị trường cần tiêu thụ, đặc điểm về khoảng cách đến
thị trường, địa hình và hệ thống giao thông của thị trường và khả năng tiêu
thụ của thị trường. Từ việc phân tích các đặc điểm trên doanh nghiệp sẽ lựa
chọn cho mình một thệ thống kênh phân phối hợp lý, đạt hiệu quả cao.
4. Các công cụ cạnh tranh khác

Đây cũng là một công cụ cạnh tranh được nhiều doanh nghiệp sử
dụng, phương thức thanh toán gọn nhẹ, rườm rà hay nhanh chậm sẽ ảnh
hưởng đến công tác tiêu thụ và do đó ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp trên thị trường.
Các doanh nghiệp có thể áp dụng các phương pháp như:
- Đối với khách hàng ở xa thì có thể trả tiền hàng qua ngân hàng, vừa
nhanh vừa đảm bảo an toàn cho cả khách hàng lẫn doanh nghiệp.
- Với một số trường hợp đặc biệt, các khách hàng có uy tín với doanh
nghiệp hoặc khách hàng là người mua sản phẩm thường xuyên của doanh
nghiệp thì có thể cho khách hàng trả chậm tiền hàng sau một thời gian nhất
định.
- Giảm giá đối với khách hàng thanh toán tiền ngay hoặc mua với số
lượng lớn.
* Vận dụng yếu tố thời gian
Những thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ làm thay đổi
nhanh cách nghĩ, cách làm việc của con người, tạo thời cơ cho mỗi người,
mỗi đất nước tiến nhanh về phía trước. Đối với các doanh nghiệp yếu tố
Sinh viên: Nguyễn Thị Ánh Dương 14 Lớp: QTKD B – K4
Trường Đại Học Lương Thế Vinh Khóa luận tốt nghiệp
quyết định trong chiến lược kinh doanh hiện đại là tốc độ chứ không phải là
yếu tố cổ truyền như nguyên liệu lao động. Muốn chiến thắng trong công
cuộc cách mạng này, các doanh nghiệp phải biết tổ chức nắm bắt thông tin
nhanh chóng, phải chớp lấy thời cơ, lựa chọn mặt hàng theo yêu cầu, triển
khai sản xuất, nhanh chóng tiêu thụ để thu hồi vốn nhanh trước khi chu kỳ
sản xuất sản phẩm kết thúc.
1.1.4 Các yếu tố tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là những lợi thế của
doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh được thực hiện trong việc thoả
mãn đến mức cao nhất các yêu cầu của thị trường.
Các yếu tố được coi là lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với các

kinh tế hàng hoá, đảm bảo tự do trong sản xuất kinh doanh và đa dạng hoá
hình thức sở hữu, trong cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trên thị trường
quốc tế nói riêng, các doanh nghiệp luôn đưa ra các biện pháp tích cực và
sáng tạo nhằm đứng vững trên thị trường và sau đó tăng khả năng cạnh
tranh của mình. Để đạt được mục tiêu đó, các doanh nghiệp phải cố gắng
tạo ra nhiều ưu thế cho sản phẩm của mình và từ đó có thể đạt được mục
đích cuối cùng là lợi nhuận.
Khi sản xuất kinh doanh một lợi nhuận hàng hoá nào đó, lợi nhuận mà
doanh nghiệp thu được được xác định như sau:
Pr = P.Q - C.Q
Trong đó: + Pr: Lợi nhuận của doanh nghiệp
+ P: Giá bán hàng hoá.
+ Q: Lượng hàng hoá bán được
+ C: Chi phí một đơn vị hàng hoá.
Sinh viên: Nguyễn Thị Ánh Dương 16 Lớp: QTKD B – K4
Trường Đại Học Lương Thế Vinh Khóa luận tốt nghiệp
Như vậy để đạt được lợi nhuận tối đa doanh nghiệp có các cách như:
tăng giá bán P, tăng lượng bán Q, giảm chi phí C và để làm được những
việc này doanh nghiệp phải làm tăng vị thế của sản phẩm trên thị trường
bằng cách áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ, các phương thức sản
xuất tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã
đẹp... và tốn ít chi phí nhất. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phải có những
chiến lược Marketing thích hợp nhằm quảng bá sản phẩm, hàng hoá của
mình tới khách hàng giúp họ có thể nắm bắt được sự có mặt của những
hàng hoá đó và những đặc tính, tính chất, giá trị và những dịch vụ kèm theo
của chúng.
Chỉ khi nền kinh tế có sự cạnh tranh thực sự thì các doanh nghiệp mới
có sự đầu tư nhằm nâng cao sự cạnh tranh và nhờ đó sản phẩm hàng hoá
ngày càng được đa dạng, phong phú và chất lượng được tốt hơn. Đó chính
là tầm quan trọng của cạnh tranh đối với doanh nghiệp sản xuất kinh

các tiến bộ khoa học công nghệ kỹ thuật vào sản xuất nhằm tăng năng suất
lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm. Những điều này sẽ đem lại hiệu
quả kinh tế cho quốc gia, các nguồn lực sẽ được tận dụng triệt để cho sản
xuất, trình độ KHKT của đất nước sẽ không ngừng được cải thiện.
Như vậy, có thể nói cạnh tranh là động lực phát triển cơ bản nhằm kết
hợp một cách hợp lý giữa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích xã hội. Cạnh tranh
tạo ra môi trường tốt cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.Tuy nhiên,
trong cuộc cạnh tranh khối liệt này không phải bất kỳ doanh nghiệp nào
cũng có lợi, có doanh nghiệp bị huỷ diệt do không có khả năng cạnh tranh,
có doanh nghiệp sẽ thực sự phát triển nếu họ biết phát huy tốt những tiềm
lực của mình. Nhưng cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay
thế, thay thế các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí nguồn lực
xã hội bằng doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, nhằm đáp ứng nhu cầu của
xã hội, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển.
Sinh viên: Nguyễn Thị Ánh Dương 18 Lớp: QTKD B – K4
Trường Đại Học Lương Thế Vinh Khóa luận tốt nghiệp
Tóm lại: Cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của mỗi
quốc gia cũng như của từng doanh nghiệp.
1.2 Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh được phân loại như sau:
* Năng lực cạnh tranh của sàn phẩm là khả năng sản phẩm đó tiêu thụ
được nhanh trong khi nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên thị
trường. Hay nói một cách khác, năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo
bằng thị phần của sản phẩm đó. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ
thuộc vào: chất lượng, giá cả, tốc độ cung cấp, dịch vụ đi kèm, uy tín của
người bán, thương hiệu, quảng cáo, điều kiện mua bán….
* Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp
tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng
cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và
phát triển vững.

cao uy tín của doanh nghiệp.
Nhiệm vụ cụ thể của quản trị Marketing là : nghiên cứu khách hàng và
thị trường để trên cơ sở đó đề ra các chiến lược về thị trường, về sản phẩm,
tiêu thụ.... Cụ thể bao gồm những nội dung sau :
- Nghiên cứu các thông tin về thị trường
- Hoạch định chính sách sản phẩm
- Hoạch định chính sách giá cả
Sinh viên: Nguyễn Thị Ánh Dương 20 Lớp: QTKD B – K4
Trường Đại Học Lương Thế Vinh Khóa luận tốt nghiệp
- Hoạch định chính sách phân phối
- Chính sách hỗ trợ tiêu thụ
Nâng cao khả năng cạnh tranh tất yếu phải tăng cường hoạt động
Marketing trong doanh nghiệp. Thông qua Marketing, các doanh nghiệp sẽ
có được những thông tin chính xác về thị trường, nhờ đó hoạch định được
một chính sách sản phẩm phù hợp, một chiến lược về giá tối ưu, đồng thời
tổ chức được quá trình phân phối và hỗ trợ tiêu thụ một cách hiệu quả... Từ
đó, sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, giành thắng lợi trong
cạnh tranh, đảm bảo sự tồn tại và phát triển vững chắc của doanh nghiệp.
1.4.3 Lĩnh vực nhân sự
Quản trị nhân sự là một tập hợp các biện pháp của chủ thể quản trị tác
động lên đối tượng bị quản trị ( bao gồm : lao động trí óc, lao động sản
xuất trực tiếp và lao động quản lý ) nhằm thực hiện tốt nhất những nhiệm
vụ sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời phải chú ý thoả đáng
đến lợi ích của người lao động cũng như đến sự phát triển mọi mặt của
người lao động.
Nội dung của hoạt động quản trị nhân sự gồm :
- Tuyển chọn nguồn nhân lực
- Sử dụng nguồn nhân lực
- Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một yêu cầu tất yếu đối với

sản xuát thiết bị điện giai đoạn 2011-2015 khoảng 136 nghìn tỷ đồng, tăng
trưởng bình quân giá trị sản xuất khoảng 17-18% năm, phấn đấu đáp ứng
70% nhu cầu trong nước về các loại thiết bị đường dây, trạm biến áp, 55%
nhu cầu trong nước về các loại động cơ điện và một số chủng loại máy phát
điện thông dụng
Cũng theo quy hoạch, giai đoạn 211-2015, tăng trưởng xuất khẩu
của ngành thiết bị điện đạt 18%/năm và giai đoạn 2016-2025 đạt 15%/năm,
đặc biệt các loại dây và cáp điện chất lượng cao có kim ngạch xuất khẩu
tăng 35%/năm, tiến đến năm 2025 Việt Nam có thể sản xuất cung ứng trọn
bộ thiết bị điện trong các công trình đường dây điện và trạm biến áp. Quy
hoạch cũng nhằm đưa ngành sản xuất thiết bị điện Việt Nam đạt trình độ
tiên tiến trong khu vực về sản xuất máy biến thế, động cơ điện, máy phát
điện, khí cụ điện trung và cao thế, dây và cáp điện phục vụ trong nước và
xuất khẩu.
Với kế hoạch phát triển như thế, nhiều công ty tư vấn nước ngoài,
các thương hiệu lớn nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất thiết bị điệncho
rằng ngành điện, thiết bị điện Việt Nam là một trong những ngành hấp dẫn
đầu tư nhất trong khu vực.
Sinh viên: Nguyễn Thị Ánh Dương 23 Lớp: QTKD B – K4
Trường Đại Học Lương Thế Vinh Khóa luận tốt nghiệp
1.2 Khó khăn
- Công nghệ lạc hậu
- Đội ngũ kỹ thuật trình độ còn hạn chế
- Nguồn vốn đầu tư không tập trung, hiệu quả đầu tư chưa cao
2. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty TNHH một thành viên sản xuất và thương mại Minh Kết
được thành lập ngày 10/10/2005 và hoạt động theo giấy phép kinh doanh
số 0102000602 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Nam Định cấp.
Tên Công ty : Công ty TNHH một thành viên sản xuất và thương
mại Minh Kết.

3.2 Ngành nghề kinh doanh
Sản xuất mua bán thiết bị ngành điện cung cấp cho các công trình của
các Công ty điện lực ví dụ như Ghíp nhôm, ghíp càng cua, khoá néo, dây
đồng, chuỗi đỡ chống sét, cách điện thuỷ tinh, cầu chì, cầu dao, vòng cheo,
ty sứ, van chống sét, đầu cốt đồng, đầu cốt xử lý, dây cáp điện, máy biến
thế, nguyên liệu đầu vào cho các công ty cùng ngành khác…. Công ty có
một mạng lưới bán hàng đó là hệ thống các đại lý cấp 1, cấp 2, cấp 3 và các
cửa hàng bán lẻ nhằm cung cấp sản phẩm cho tất cả những nơi có nhu cầu
trên thành phố và các tỉnh lân cận không kể những công trinh lớn. Tất cả
các đại lý đó đều hạch toán độc lập.
4 Cơ cấu tổ chức quản lý
Cơ cấu tổ chức đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của Công ty.
Một cơ cấu tổ chức hợp lý, gọn nhẹ có phân công cụ thể quyền hành và
trách nhiệm cụ thể rõ ràng, sẽ tạo nên một môi trường nội bộ thuận lợi cho
Sinh viên: Nguyễn Thị Ánh Dương 25 Lớp: QTKD B – K4

Trích đoạn Phũng kế toỏn tài chớnh của Cụng ty Phũng tổ chức hành chớnh Một số nhận xột Đỏnh giỏ thực trạng khả năng cạnh tranh của Cụng ty Đỏnh giỏ chung về khả năng cạnh tranh của Cụng ty TNHH một thành viờn SX&TM Minh Kết
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status