MỤC LỤC
Lời mở đầu
-------------------------------------------------------------------------------------------
1
Chương 1: Lý luận chung về cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh
tranh của
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh màng mỏng bao
bì trên thị
trường nội địa
1.1. Cạnh tranh và các hình thức cạnh tranh
-------------------------------------------------------------------------------------------
3
1.1.1. Khái niệm và vai trò của cạnh tranh
---------------------------------------------------------------------------------------------
3
1.1.2. Các hình thức cạnh tranh
---------------------------------------------------------------------------------------------
4
1.2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường nội địa
-------------------------------------------------------------------------------------------
7
1.2.1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
nội địa
---------------------------------------------------------------------------------------------
7
1.2.2. Công cụ cạnh tranh chủ yếu của doanh nghiệp
---------------------------------------------------------------------------------------------
11
1
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh trânh trên thị trường nội
địa doanh nghiệp
---------------------------------------------------------------------------------------------
26
2.2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH thương mại
sản xuất màng mỏng bao bì Dũng Bình trên thị trường nội địa
-------------------------------------------------------------------------------------------
28
2.2.1. Danh mực và đặc điểm của sản phẩm
---------------------------------------------------------------------------------------------
28
2.2.2. Đặc điểm về nguyên liệu sản xuất
---------------------------------------------------------------------------------------------
30
2.2.3. Đặc điểm về máy móc thiết bị
---------------------------------------------------------------------------------------------
31
2.2.4. Cơ cấu lao động
---------------------------------------------------------------------------------------------
32
2.2.5. Cơ cấu vốn kinh doanh của Công ty
---------------------------------------------------------------------------------------------
33
2.3. Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH
thương mại sản xuất màng mỏng bao bì Dũng Bình
-------------------------------------------------------------------------------------------
34
2.3.1. Kết quả sản xuất kinh doanh chủ yếu của Công ty TNHH thương mại
sản xuất
màng mỏng bao bì Dũng Bình trong những năm qua
3
---------------------------------------------------------------------------------------------
3.1.2. Một số định hướng chiến lược của Công ty trong thời gian tới
---------------------------------------------------------------------------------------------
48
3.2. Một số giả pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Công ty
TNHH thương mại sản xuất màng mỏng bao bì Dũng Bình trên thị
trường nội địa
-------------------------------------------------------------------------------------------
49
3.2.1. Các giải pháp
---------------------------------------------------------------------------------------------
49
3.2.2 Điều kiện thực hiện giả pháp
---------------------------------------------------------------------------------------------
51
Kết luận
-------------------------------------------------------------------------------------------
56
5
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm đầu của thế kỷ mới, khi tình hình kinh tế thế giới có
nhiều biến động và không mấy sáng sủa thì Việt Nam được đánh giá là quốc
gia có nền kinh tế phát triển nhanh. Nhờ chuyển đổi sang cơ chế thị trường
với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã tạo điều kiện cho thị trường
hàng hóa nói chung và thì trường hàng công nghiệp và xây dựng nói riêng ở
Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tốc độ
tăng trưởng hàng công nghiệp ngày càng tăng kéo theo nhu cầu về các mặt
hàng phục vụ công nghiệp đòi hỏi ngày càng cao cả về số lượng, chất lượng
và chủng loại sản phẩm.
Sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO mức
đầu tư vào Việt Nam ngày càng cao. Cùng với quy hoạch các khu công
doanh màng mỏng bao bì trên thị trường nội địa.
• Chương 2 : Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty Công ty
TNHH thương mại Sản xuất màng mỏng bao bì Dũng Bình trên
thị trường nội địa
• Chương 3 : Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
Công ty TNHH thương mại Sản xuất màng mỏng bao bì Dũng
Bình trên thị trường nội địa.
Em xin chân thành cám ơn thầy giáo Th.S: Nguyễn Thanh Phong,
cùng toàn thể cán bộ công nhân viên Công ty TNHH thương mại Sản xuất
màng mỏng bao bì Dũng Bình đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành bản
chuyên đề này. Vì thời gian nghiên cứu cũng như trình độ lý luận và kiến
thức của bản thân còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót
nhất định , rất mong nhận được sự góp ý từ phía các thầy cô và bạn đọc.
Hà nội, ngày 10 tháng 4 năm 2008.
Sinh viên thực hiện
Doãn Minh Khiêm
7
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH
VỰC KINH DOANH MÀNG MỎNG BAO BÌ TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA
1.1. Cạnh tranh và các hình thức cạnh tranh
Cạnh tranh là tất yếu trong nền kinh tế thị trường và vì thế có thể nói,
thị trường là vũ đài cạnh tranh là nơi gặp gỡ của các đấu thủ.
Vậy cạnh tranh là gì?
1.1.1. Khái niệm và vai trò của cạnh tranh
- Cạnh tranh đặc biệt phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất
tư bản chủ nghĩa. Theo Mác:” cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự
đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện
thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu
- Cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường
có rất nhiều người bán, họ đều quá nhỏ bé nên không ảnh hưởng gì đến giá
cả thị trường. Điều đó có nghĩa là không cần biết sản xuất được bao nhiêu,
họ đều có thể bán tất cả sản phẩm của mình tại mức giá thị trường hiện
hành. Vì vậy, một hãng trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo không có lý do
gì để bán rẻ hơn mức giá thị trường. Hơn nữa, nó sẽ không tăng giá của
mình lên cao hơn giá thị trường vì nếu thế thì hãng sẽ chẳng bán được gì-
người tiêu dùng sẽ đi mua hàng với mức giá rẻ hơn từ các đối thủ cạnh tranh
của hãng. Các hãng sản xuất luôn tìm biện pháp giảm chi phí và sản xuất một
số lượng sản phẩm ở mức giới hạn mà tại đó chi phí cận biên bằng doanh thu
cận biên. Đối với thị trường cạnh tranh hoàn hảo sẽ không có những hiện tượng
cung cầu giả tạo, không bị hạn chế chế bởi các biện pháp hành chính Nhà nước.
Vì vậy, trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo giá cả thị trường sẽ dần tới mức
chi phí sản xuất bởi lượng cung sản phẩm rất lớnmà tất cả đều được bán ở một
9
mức giá như nhau, nên bất kì một doanh nghiệp hay một đơn vị sản xuất kinh
doang nào đều có thể tiêu thụ hết số hàng mà mình sản xuât ra không giới hạn
về số lượng cung cấp ra thị trường.
- Cạnh tranh không hoàn hảo: Nếu một hãng có thể tác động đáng kể
đến giá cả thị trường đối với đầu ra của hãng thì hãng ấy được liệt vào “
hãng cạnh tranh không hoàn hảo”. Như vậy, cạnh tranh không hoàn hảo là
cạnh tranh trên thị trường không đồng nhất với nhau. Mỗi loại sản phẩm có
thể có nhiều nhãn hiệu khác nhau, mặc dù sự khác biệt giữa các sản phẩm là
không đáng kể. Chẳng hạn như: các loại thuốc lá, dầu nhờn, nước giải khát,
bánh kẹo... thậm chí cùng loại nhưng lại có nhãn hiệu khác nhau. Mỗi loại
nhãn hiệu lại có uy tín, hình ảnh khác nhau. Mặc dù sự khác biệt giữa các
sản phẩm là không đáng kể. Các điều kiện mua bán hàng rất khác nhau.
Người bán có thể có uy tín độc đáo khác nhau đối với người mua do nhiều lý
do khác nhau, như khách hàng quen, gây được lòng tin từ trước... Người bán
lôi kéo khách về phía mình bằng nhiều cách: quảng cáo, khuyến mại,
nhất, có ý nghĩa sống còn đối với các chủ Doanh nghiệp.Tất cả các Doanh
nghiệp đều muốn giành giật lấy lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần của
đối thủ. Kết quả để đánh giá Doanh nghiệp nào chiến thắng trong cuộc cạnh
tranh này là việc tăng doanh số tiêu thụ, tăng tỉ lệ thị phần. Cùng với nó là
tăng lợi nhuận, tăng đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất. Trong nền kinh tế
thị trường, cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, bởi thế, đã bước vào kinh
doanh thì bắt buộc phải chấp nhận.
1.1.2.3. Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế, người ta chia cạnh tranh
thành 2 loại: cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành.
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là sự cạnh tranh giữa các Doanh
nghiệp cùng sản xuất và tiêu thu một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó.
Trong cuộc cạnh tranh này, các chủ Doanh nghiệp thôn tính nhau. Những
Doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị
11
trường; những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh, thậm chí
bị phá sản.
- Cạnh tranh giữa các ngành: Là sự cạnh tranh giữa các chủ Doanh
nghiệp, hay đồng minh các chủ Doanh nghiệp trong ngành kinh tế khác
nhau, nhằm giành lấy lợi nhuận lớn nhất. Trong quá trình cạnh tranh này,
các chủ Doanh nghiệp luôn say mê với những ngành đầu tư có lợi nhuận nên
đã chuyển vốn từ ngành ít lợi nhuận sang ngành nhiều lợi nhuận. Sự điều
chuyển tự nhiên theo tiếng gọi của lợi nhuận này sau một thời gian nhất
định, vô hình chung hình thành nên sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành
sản xuất, để rồi kết quả cuối cùng là, các chủ doanh nghiệp đầu tư ở các
ngành khác nhau với số vốn bằng nhau chỉ thu được lợi nhuận như nhau, tức
là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân cho tất cả các ngành.
1.2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường nội địa
1.2.1. Khái niệm về năng lực canh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường nội địa
Giá trị sản phẩm DN bán ra trong nước
Giá trị sản phẩm trên thị trong nước
x100
- Thị phần của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trường nội địa. Đó là tỷ
lệ % giữa giá trị sản phẩm của doanh nghiệp bán ra trong nước so với giá trị
của toàn ngành trên thị trường nội địa.
- Thị phần của Doanh nghiệp so với phân khúc mà nó phục vụ. Đó
chính là tỷ lệ % giữa doanh số của Doanh nghiệp với doanh số của toàn phân
khúc.
- Thị phần tương đối: đó là tỷ lệ so sánh về doanh số của Doanh
nghiệp trên thị trường nội địa với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trên thị
trường này, chỉ tiêu này cho biết vị thế sản phẩm của doanh nghiệp trong
cạnh tranh trên thị trường nội địa như thế nào?
Các chỉ tiêu này mực độ lớn của thị trường nội địa, vai trò, và vị trí
của Doanh nghiệp. Nói lên mức độ hoạt động có hiệu quả hay không có hiệu
quả thông qua sự biến động của các chỉ tiêu này. Khi tiềm lực của thị trường
nội địa đang lên mà phần thị trường của Doanh nghiệp không thay đổi tức là
thị trường đã ngoài tầm kiển soát của Doanh nghiệp hay một phần của thị
trường đã rơi vào đối thủ cạnh tranh cho nên Doanh nghiệp cần phải xem xét
lại chiến lược kinh doanh của mình để mở rộng thị phần nội địa của Doanh
13
nghiệp, Doanh nghiệp có thể tăng khối lượng sản phẩm trên thị trường hiện
tại, có giải pháp thích hợp lôi kéo các đố tượng tiêu dùng tương đối, đối
tượng không thường xuyên, lôi kéo khách hàng từ thị trường của đối thủ
cạnh tranh với mình…
1.2.1.2. Lợi nhuận
Lợi nhuận được định nghĩa 1 cách khái quát là phần chênh lệch giữa
tổng doanh thu nội địa và tổng chi phí, hoặc tính bằng công thức
Lo = ( P - ATC )*Q
Trong đó :
doanh.
Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp, nó không chỉ phản ánh
tiềm năng của Doanh nghiệp mà còn thể hiện tính hiệu quả trong hoạt động
sản xuât kinh doanh của Doanh nghiệp ấy. Đó chính là : Chênh lệch (giá bán
nội địa- giá thành)/giá bán. Nếu chỉ tiêu này thấp thì chứng tỏ mức độ cạnh
tranh của Doanh nghiệp trên thị trường là rất gay gắt. Ngược lại, nếu chỉ tiêu
này cao thì chứng tỏ Doanh nghiệp đang kinh doanh rất thuận lợi và có hiệu
quả.
Ngoài ra, xét về quyền lợi của nhà đầu tư người ta có thể dùng chỉ tiêu
tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu để đánh giá khả năng sinh lời trên 1
đồng vốn của người góp vốn vào doanh nghiệp.
1.2.1.4. Tỷ lệ chi phí Marketing trong nước/Tổng doanh thu trong
nước
Đây là một chỉ tiêu đang được sử dụng nhiều để đánh giá năng lực
cạnh tranh cũng như hiệu quả tiêu thụ sản phẩm của các Doanh nghiệp trên
thị trường nội địa.
Thông qua chỉ tiêu này mà Doanh nghiệp thấy được hiệu quả hoạt
động của mình. Khi xem xét đến tỷ lệ này ta thấy :Nếu chỉ tiêu này cao xó
15
nghĩa là Doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào chi phí cho công tác
Marketing mà hiệu quả thu được thì chưa cao, đòi hỏi Doanh nghiệp phải
xem xét lại cơ cấu chỉ tiêu.Có thể thay vì quảng cáo rầm rộ Doanh nghiệp có
thể đầu tư chiều sâu để tăng lợi ích lâu dài như đầu tư cho chi phí nghiên cứu
và phát triển.
1.2.2. Công cụ cạnh tranh chủ yếu của doanh nghiệp
1.2.2.1. Cạnh tranh bằng giá
Giá cả là biểu hiện sự gặp nhau giữa cung và cầu thông qua cạnh tranh
trên thị trường hay quan niệm “ giá cả của sản phẩm là biểu hiện bằng tiền
của giá trị sản phẩm mà người bán dự tính có thể nhận đuợc từ người mua”
việc xác định giá cả chỉ được coi là hợp lý và đúng dắn khi suất phát từ giá
lượng bán lớn hoặc dùng giá để cạnh tranh với các đối thủ trong nước.
Định giá bán thấp hơn giá thị trường nội địa và cũng thấp hơn giá trị
sản phẩm( chấp nhận thua lỗ) áp dụng trong thời kỳ khai trương cửa hàng
hoặc muốn bán nhanh để thu hồi vốn( tương tự bán phá giá )
1.2.2.1.3. Chính sách định giá cao
Định giá bán cao hơn giá thị trường nội địa và cao hơn giá trị sản
phẩm , được áp dụng đối với sản phẩm mới tung ra thị trường với mặt hàng
cao cấp , với những doanh nghiệp hoạt động trong thị trường độc quyền.
Trong 1 vài trường hợp định giá cao để hạn chế người mua và tìm nhu cầu
thay thế, để bán giá cao tốt cần tìm hiểu thị trường, tuyên truyền...
1.2.2.1.4. Chính sách ổn định giá
Giá bán sẽ ổn định không thay đổi trong mọi thị tường và cho dù cung
cầu có thay đổi trong từng thời kỳ thì giá cũng không thay đổi, cách này
giúp doanh nghiệp thâm nhập, giữ vững và mở rộng thị trường...
17
1.2.2.1.5. Chính sách bán phá giá
Đây là hình thức cực kỳ nguy hiểm đối với doanh nghiệp, nhằm tối
thiểu hoá rủi ro và thua lỗ hoặc trong trường hợp doanh nghiệp muốn đánh
bại đối thủ cạnh tranh, mục đích là thu hồi phần chi phí bỏ ra nhưng uy tín
về sản phẩm sẽ bị mất. Một số sản phẩm nên thực hiện bán phá giá khi sản
phẩm không bán ra thì sẽ bị hỏng , sản phẩm để qúa lâu, sản phẩm bị cạnh
tranh gay gắt..
1.2.2.1.6. Chính sách định giá phân biệt
Do yêu cầu của người tiêu dùng ở mỗi nơi khác nhau nên các doanh
nghiệp phải điều chỉnh giá của mình, việc xác định giá phân biệt được thực
hiện dưới nhiều hình thức
- Phân biệt theo khối lượng
- Phân biệt theo chất lượng
- Phân biệt theo thời gian
- Phân biệt theo địa điểm
- Xây dựng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm trong nước
Mạng lưới phân phối được tạo lập bởi các kênh phân phối( kênh trực
tiếp, kênh gián tiếp, kênh hỗn hợp ) với mục đích đưa sản phẩm đến tận tay
người tiêu dùnởctong nước với hiệu quả cao. Việc điều khiển dòng hàng hoá
từ người sản xuất đến người tiêu dùng được thực hiện bằng một hệ thống
kênh phân phối, các doanh nghiệp thường hay sử dụng trung gian vì nó đem
lại hiệu quả cao nhất trong việc đảm bảo phân phối hàng hoá rộng lớn và
đưa hàng tới mục tiêu
Kênh tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được chia làm 4 cấp theo sơ
đồ sau:
19
Người
sản
xuất
Đại lý
Đại lý Người bán buôn
Người bán lẻ
Người
tiêu
dùng
Người bán lẻ
Người bán lẻ
(a)
(b)
(c)
(d)
Sơ đồ 1.1: Các kênh phân phối có các cấp khác nhau
(a) Kênh cấp không ( kênh trực tiếp ngắn) không qua các khâu trung
gian mà bán trực tiếp bằng cách mở cửa hàng bán của doanh nghiệp
hay bán hàng lưu động thường áp dụng với mặt hàng tươi sống mang
1.3.1. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
1.3.1.1. Nhóm các nhân tố thuộc môi trường kinh tế quốc dân.
Các nhân tố về mặt kinh tế : Các nhân tố này tác động đến khả năng
cạnh tranh của Doanh nghiệp theo các hướng.
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước cao làm cho thu nhập của dân
cư tăng, khả năng thanh toán của họ tăng dẫn tới sức mua (cầu) các loại hàng
hoá và dịch vụ tăng lên, đây là cơ hội tốt cho các Doanh nghiệp. Nếu Doanh
nghiệp nào nắm bắt được điều này và có khả năng đáp ứng được nhu cầu
khách hàng (số lượng, giá bán, chất lượng, mẫu mã...) thì chắc chắn Doanh
nghiệp đó sẽ thành công và có khả năng cạnh tranh cao.
+ Lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả
năng cạnh tranh của các Doanh nghiệp , nhất là đối với các Doanh nghiệp
thiếu vốn phải vay ngân hàng. Khi lãi suất cho vay của Ngân hàng cao, chi
phí của các Doanh nghiệp tăng lên do phải trả lãi tiền vay lớn, khả năng
21
cạnh tranh của Doanh nghiệp sẽ kém đi, nhất là khi đối thủ cạnh tranh có
tiềm lực lớn về vốn.
1.3.1.1.1. Các nhân tố về chính trị, pháp luật
Một thể chế chính trị, luật pháp của một quốc gia rõ ràng, rộng mở và
ổn định sẽ là cơ sở đảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các Doanh nghiệp
tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả. Chẳng hạn, các luật thuế có
ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện cạnh tranh, đảm bảo sự cạnh tranh bình
đẳng giữa các Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần và trên mọi lĩnh vực.
1.3.1.1.2. Trình độ về khoa học về công nghệ
Nhóm nhân tố này quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến môi
trường cạnh tranh nội địa khi mà các yếu tố như nhân công và nguyên liệu
alf tương đồng.
Trình độ khoa học công nghệ có ý nghĩa quyết định đến hai yếu tố cơ
bản nhất tạo nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, đó là
chất lượng và giá bán. Khoa học công nghệ tác động đến chi phí cá biệt của
Nguy cơ đe doạ từ
những người mới
v o cuà ộc
Nguy cơ đe doạ từ
các sản phẩm thay thế
Của người
cung ứng
Quyền lực
Thương
lượng
Quyền lực
Thương
lượng
của người
mua
Ngời
mua
Các đối thủ
Các đối thủ
tiềm năng
tiềm năng
CÁC ĐỐI THỦ CẠNH TRANH
TRONG NGÀNH
CUỘC CANH TRANH GIỮA
CÁC ĐỐI THỦ
HIỆN TẠI
Sản phẩm thay thế
Người
cung
ứng
trong ngành.
- Sự xuất hiện các sản phẩm thay thế.
Những sản phẩm thay thế cũng là một trong những lực lượng tạo nên
sức ép cạnh tranh lớn đối với các Doanh nghiệp trong ngành.
Mức độ sẵn có của những sản phẩm thay thế cho biết giới hạn trên của
giá cả sản phẩm trong ngành. Khi giá của một sản phẩm tăng quá cao khách
hàng sẽ chuyển sang sử dụng những sản phẩm thay thế. Hoặc do mùa vụ,
thời tiết mà khách hàng chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế. Sự sẵn có
của những sản phẩm thay thế trên thị trường là một mối đe doạ trực tiếp đến
khả năng phát triển, khả năng cạnh tranh và mức độ lợi nhuận của các
Doanh nghiệp.
1.3.2. Các nhân tố bên trong Doanh nghiệp
1.3.2.1. Nguồn nhân lực
Đây là yếu tố quyết định của sản xuất kinh doanh bao gồm:
- Ban Giám đốc Doanh nghiệp
- Cán bộ quản lý ở cấp Doanh nghiệp.
- Cán bộ quản lý ở cấp trung gian, đốc công và công nhân.
* Ban Giám đốc DN. Là những cán bộ quản lý ở cấp cao nhất trong
Doanh nghiệp , những người vạch ra chiến lược trực tiếp điều hành, tổ chức
thực hiện công việc kinh doanh của Doanh nghiệp. Những công ty cổ phần,
những tổng công ty lớn ngoài Ban Giám đốc còn có hội đồng quản trị là đại
diện cho các chủ sở hữu Doanh nghiệp.
Các thành viên Ban Giám đốc ảnh hưởng rất lớn đến kết qủa kinh
doanh của Doanh nghiệp. Nếu các thành viên có trình độ, kinh nghiệm, khả
năng đánh giá, năng động, có mối quan hệ tốt với bên ngoài thì họ sẽ đem lại
cho Doanh nghiệp không những lợi ích trước mắt, như tăng doanh thu, lợi
25