Đẩy mạnh hoạt động e-marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ TCT - Pdf 25

1
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại điện tử
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì cạnh tranh là một vấn đề rất được
quan tâm và đặt lên hàng đầu với mỗi doanh nghiệp. Cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập
kinh tế quốc tế không chỉ giới hạn trong phạm vi các ngành trong một quốc gia mà mở
rộng ra cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu. Chính vì vậy mà các doanh nghiệp cần có
những thay đổi trong hoạt động sản xuât kinh doanh của mình cho thích hợp với môi
trường cạnh tranh mới này để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp và của
cả nền kinh tế. Chính vì vậy mà em đã lựa chọn đề tài “Đẩy mạnh hoạt động e-
marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Thương Mại và
Dịch Vụ TCT” nhằm nghiên cứu và đưa ra những giải pháp e-marketing áp dụng vào
công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ TCT giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của
công ty trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong quá trình tìm hiểu thực tế và thực hiện đề tài khóa luận em xin trân trọng
cảm ơn các cô chú, anh chị trong công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ TCT đã giúp
đỡ em rất nhiều trong việc tiếp xúc, tìm hiểu sâu hơn về thực tế của công ty, hoàn
thành những bảng điều tra phỏng vấn chuyên sâu và các cuộc điều tra trong doanh
nghiệp. Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Th.s Vũ Thị Hải Lý_giảng viên
hướng dẫn trực tiếp đã giúp đỡ em rất nhiều trong việc hướng dẫn, định hướng, giải
quyết đề tài để em có thể hoàn thành tốt đề tài khóa luận này.
Do lượng kiến thức còn hạn chế, thời gian tìm hiểu tiếp xúc thực tế không
nhiều, chưa có kinh nghiệm thực tế, kinh nghiệm trong việc giải quyết vấn đề, thời
gian cho việc làm khóa luận còn hạn hẹp nên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy
em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các thầy cô cùng toàn thể các bạn để bài
khóa luận của em được hàn chỉnh hơn và có thể ứng dụng vào thực tế một cách hiệu
quả.
Em xin trân trọng cảm ơn!
GVHD: ThS. Vũ Thị Hải Lý SVTH: Đinh Thị Giang
1
1

sự bùng nổ của công nghệ thông tin(CNTT), mạng internet đã làm cho khoảng cách
trên thế giới ngày càng trở nên nhỏ bé. Tri thức và thông tin không biên giới sẽ đưa
hoạt động kinh tế vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và trở thành hoạt động mang tính toàn
cầu. Các công ty xuyên quốc gia với tiềm lực tài chính to lớn và có khả năng công
nghệ dồi dào gia tăng hoạt động, điều này đã có những tác động lớn đến bức tranh
kinh tế thế giới. Ảnh hưởng của Internet mang tính toàn cầu và nó trở thành một phần
của quá trình toàn cầu hóa, vốn đã và đang biến đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống, từ
kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, có thể thấy, những tác động quyết định thách
thức và cơ hội lớn nhất Internet đặt ra trong dài hạn nằm trong lĩnh vực kinh tế-thương
mại. Internet đặt nền tảng cho sự hình thành của TMĐT (electronic-commerce), trong
đó người mua và người bán có thể liên lạc trực tiếp với nhau, không cần đến giấy tờ,
càng không phải đối mặt thực thể. Dòng lưu chuyển thông tin và thương mại hàng hóa,
dịch vụ trong không gian không có biên giới ấy mở ra khả năng giảm chi phí giao
dịch, tiếp cận thị trường và thúc đẩy tiến bộ công nghệ, từ đó thay đổi cấu trúc của nền
kinh tế thế giới. Các chuyên gia đều cho rằng TMĐT sẽ là xu hướng mới cho sự phát
triển nền kinh tế toàn cầu. Bởi ngay từ khi xuất hiện, cùng với những tiện ích to lớn
của mình, TMĐT đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới.
Những quốc gia đi tiên phong trong phát triển TMĐT như Mỹ và một số nước Châu
Âu đã gặt hái được những thành công không nhỏ. Trong bối cảnh như vậy, các nước
đang phát triển đã nhìn thấy ở TMĐT cơ hội phát triển cho tương lai, nhưng đồng thời
lại phải đối mặt với thách thức trong hiện tại không dễ vượt qua về công nghệ, tri thức,
trong khi vẫn còn đang chật vật tìm cách thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn của đói nghèo
và lạc hậu. Ưu tiên chính sách của các nước này, vì thế, là làm cách nào bắt kịp với sự
phát triển của TMĐT trên thế giới, đồng thời đối phó với những nguy cơ đến từ quá
trình đó. Ở nước ta, mối quan tâm dành cho TMĐT cũng đang tăng lên hàng ngày.
Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ, phê duyệt chiến lược phát
triển CNTT-TT Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã khẳng định
“CNTT-TT là công cụ quan trọng hàng đầu để thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, hình
GVHD: ThS. Vũ Thị Hải Lý SVTH: Đinh Thị Giang
5

sản phẩm của Công ty qua môi trường Internet, thông qua website này công ty có thể
giới thiệu sản phẩm và dịch vụ tới khách hàng, hiện nay website đã có thể cho phép
GVHD: ThS. Vũ Thị Hải Lý SVTH: Đinh Thị Giang
6
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại điện tử
khách hàng đặt hàng và xác nhận việc đặt hàng trực tuyến nhưng chưa tích hợp hệ
thống thanh toán trực tuyến trên website. Vì vậy, khách hàng muốn thanh toán vẫn
phải thanh toán tại văn phòng, cửa hàng của công ty hoặc chuyển khoản ngân hàng
hay nhân viên của công ty đến tận nơi để nhận tiền thanh toán.
Công ty đã ứng dụng Thương Mại Điện Tử trong hoạt động kinh doanh. Tuy
nhiên hiện nay phần lớn các giao dịch mua bán vẫn được thực hiện theo phương pháp
truyền thống: khách hàng tới gặp trực tiếp nhân viên trong Công ty để ký kết hợp
đồng. Hoạt động thanh toán vẫn được thanh toán chủ yếu bằng các hình thức truyền
thống, hóa đơn truyền thống…
Website của Công ty còn chưa hoàn thiện ở mức cao: trên website chưa tích
hợp hình thức thanh toán trực tuyến. Vì vậy quy trình bán hàng trực tuyến của website
chưa hoàn thiện. Khách hàng có thể vào website xem hàng, chọn mua hàng nhưng
chưa thể thanh toán trực tuyến trên Website của Công ty.
Lượng khách hàng hiện tại của Công ty vẫn chủ yếu tiến hành đặt hàng và mua
hàng của Công ty trong môi trường truyền thống.
Hoạt động e-marketing của Công ty hiên tại còn chưa chuyên nghiệp. Nhân lực
cho hoạt động marketing là nhân viên IT, nhân viên IT là những người tiến hành đăng
các bài giới thiệu về công ty, giới thiệu về sản phẩm lên các diễn đàn chuyên nghành
về dây cáp điện hoặc các trang rao vặt. Công ty chưa có bộ phận chuyên trách về
marketing. Nhân viên IT ngoài nhiệm vụ quản trị hệ thống mạng và website của Công
ty thì cũng tham gia vào hoạt động marketing và tiếp cận khách hàng sau đó chuyển
những thông tin này cho bộ phận kinh doanh.
Cũng như các doanh nghiệp trong nước khác công ty TNHH Thương Mại và
Dịch Vụ TCT là một công ty chuyên sâu trong lĩnh vực cung cấp dây cáp điện. Mặc dù
đây là một ngành còn khá non trẻ trong nền kinh tế, tuy nhiên triển vọng phát triển của

dụng trong công ty phục vụ định hướng phát triển cho công ty trong 5 năm tới.
Nội dung nghiên cứu chủ yếu : phân tích thực trạng hoạt động e-marketing,
năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ TCT so với các đối
thủ cạnh tranh, qua đó thấy được những hạn chế, tồn tại trong hoạt động kinh doanh
của công ty để từ đó đưa ra giải pháp e-marketing phù hợp với thực trạng hoạt động
của công ty và góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty. Tuy nhiên do hạn
chế về mặt kiến thức cũng như thời gian tìm hiểu thực tế, nên em chỉ tập trung vào
việc nghiên cứu đẩy mạnh e-marketing cho công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ
TCT.
GVHD: ThS. Vũ Thị Hải Lý SVTH: Đinh Thị Giang
8
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại điện tử
4. KẾT CẤU KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận kết cấu gồm 3 chương như
sau:
Chương 1 : Một số vấn đề lý luận cơ bản về e-marketing và năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp.
Chương 2 : Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng hoạt động
e-marketing của công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ TCT.
Chương 3 : Các kết luận và đề xuất nhằm đẩy mạnh hoạt động e-marketing
nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ TCT.
GVHD: ThS. Vũ Thị Hải Lý SVTH: Đinh Thị Giang
9
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại điện tử
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ E-MARKETING
VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 E-MARKETING.
1.1.1 Khái niệm E-marketing
Một trong những yếu tố không thể thiếu trong thương mại điện tử là hoạt động
marketing điện tử (Electronic-marketing). Hiện nay hoạt động này đang phát triển với

2 Nguồn: Joel Reedy, Shauna Schullo, Kenneth Zimmerman, Online Marketing, 2000
3 Nguồn: Dave Chafey, Internet Marketing, 2005
GVHD: ThS. Vũ Thị Hải Lý SVTH: Đinh Thị Giang
10
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại điện tử
• E-Marketing trong giai đoạn website thông tin:
Trong giai đoạn đầu mới hình thành, các trang web thường giống như một cuốn
sách, trong đó các trang văn bản được sử dụng với mục đích đơn thuần là cung cấp
thông tin, giới thiệu về doanh nghiệp, về các sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp có
thể cung cấp, hoặc đơn giản là các số liệu thống kê, phân tích đánh giá các chỉ số, các
thông tin thu nhận được. Đây được coi là giai đoạn đầu tiên của e-marketing và được
nhiều doanh nghiệp sử dụng để đưa các thông tin về doanh nghiệp lên mạng toàn cầu,
coi đó là cách thức giới thiệu về doanh nghiệp hiệu quả và tiện dụng.
E-marketing trong thời kì này chủ yếu xuất hiện dưới dạng những bảng yết thị
phức tạp hơn kèm theo một số phần mềm phụ để khách hàng tải về. Hiện nay các trang
web thông tin vẫn giữ vị trí quan trọng trong E-marketing, đóng vai trò như một kênh
cung cấp thông tin hiệu quả cho khách hàng như thông tin chuyên đề, số liệu thống kê.
• E-Marketing trong giai đoạn website giao dịch
Nếu các website thông tin giúp các doanh nghiệp thiết lập được sự hiện diện
của mình trên mạng thì website giao dịch giúp doanh nghiệp tiến thêm một bước nữa
là thực hiện các giao dịch trực tuyến. Website giao dịch là giao diện được thực hiện
các giao dịch trực tuyến. Website này có đặc tính tương tác mạnh mẽ, đòi hỏi công
nghệ web cao hơn và kĩ thuật bảo mật các giao dịch, hệ thống thông tin cũng như nhân
viên duy trì website phải đáp ứng những nhu cầu xử lí dữ liệu tức thời. E-marketing
trong giai đoạn này tồn tại dưới hình thức cơ bản như catalogue điện tử, chợ điện tử,
đấu giá điện tử, phố buôn bán ảo…
• E-Marketing trong giai đoạn website tương tác
Website tương tác là website liên kết với các website hay hệ thống thông tin của
các tổ chức với nhau. Đây là một kho lưu trữ những thông tin về khách hàng và một hệ
thống tổ chức thông tin để đưa ra các sản phẩm phù hợp với từng cá nhân, khách hàng.

• Tốc độ giao dịch nhanh hơn, ví dụ quảng cáo qua email, phân phố các sản phẩm
số hóa như âm nhạc, game, phần mềm, ebooks, hỗ trợ khách hàng qua các
forum, họp trực tuyến (net-meeting)…
• Thời gian hoạt động liên tục 24/7/365, tự động hóa các giao dịch. Ví dụ như
mua sắm trên Amazon.com, mua vé máy bay qua mạng tại Priceline.com, đấu
gia qua mạng trên Ebay.com…
• Phạm vi hoạt động toàn cầu, các rào cản thâm nhập thị trường có thể bị hạ thấp,
khả năng tiếp cận thông tin thị trường của các doanh nghiệp và người tiêu dùng
được nâng cao. Các doanh nghiệp Việt Nam có thể tìm hiểu thị trường châu Âu,
Mỹ, Nhật thông qua các website thông tin thị trường
• Đa dạng hóa sản phẩm: do khách hàng có thể tiếp cận nhiều sản phẩm, dịch vụ
hơn đồng thời nhà cung cấp cũng có khả năng cá biệt hóa (customize) sản phẩm
phù hợp với các nhu cầu khác nhau của khách hàng nhờ khả năng thu thập
thông tin về khách hàng qua internet dễ dàng hơn.
GVHD: ThS. Vũ Thị Hải Lý SVTH: Đinh Thị Giang
12
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại điện tử
• Tăng cường quan hệ khách hàng nhờ khả năng tương tác, chia sẻ thông tin giữa
doanh nghiệp và khách hàng cao hơn, dịch vụ tốt hơn, thời gian hoạt động liên
tục 24/7 thông qua các dịch vụ trực tuyến, các diễn đàn,…
• Tự động hóa các giao dịch thông qua các phần mềm thương mại điện tử như giỏ
mua hàng điện tử (shopping cart), doanh nghiệp có thể phục vụ khách hàng tốt
hơn với chất lượng dịch vụ ổn định hơn.
1.1.4 Các hình thức của E-marketing :
• Trang web (website)
Trước năm 1990, Internet đã phát triển nhanh chóng và trở thành mạng lưới trên
toàn thế giới của các máy tính với tốc độ cao, nhưng nó vẫn có một hệ thống cơ sở đặc
biệt. Năm 1991, Tim Berner Lee ở trung tâm nghiên cứu nguyên tử Châu Âu (CERN)
đã phát minh ra World Wide Web (www) dựa theo ý tưởng về siêu văn bản được Ted
Nelson đưa ra từ năm 1985. Internet và World Wide Web, hoặc gọi đơn giản là Web

số nước phát triển doanh nghiệp có thể bị kiện. Tuy nhiên nếu spam một cách khôn
khéo (ví dụ gửi kèm quà, phiếu giảm giá khi khách mua hàng…) sẽ phát huy tác dụng
đáng kể, biến email không mong muốn trở thành email được đón nhận.
• Dải băng quảng cáo (Banner)
Hình thức dải băng quảng cáo (Banner) là một trong những hình thức quảng
cáo phổ biến nhất trên mạng internet hiện nay. Dải băng quảng cáo là một hình thức
quảng cáo dưới dạng đồ hoạ trên các trang web. Dải băng quảng cáo có thể được tạo
dựng dưới nhiều kích cỡ khác nhau, tuy nhiên kích thước tiêu chuẩn hiện nay là 468
pixel x 60 pixel. Mặc dù dải băng quảng cáo có thể được dùng để giới thiệu về điạ chỉ,
số điện thoại hay bất kì điều gì mà doanh nghiệp muốn quảng cáo, nhưng mục đích
cuối cùng của nó vẫn là thu hút sự chú ý của khách hàng, khiến khách hàng muốn bấm
chuột vào dải băng này và vào tới trang web của doanh nghiệp. Đa số các quảng cáo
dải băng chứa một liên kết với trang web của nhà marketing, cho phép nhấn chuột và
đến thẳng vào trang web đó.
Có 3 loại hình quảng cáo banner phổ biến
- Quảng cáo banner truyền thống (traditional banner ads)
Đây là hình thức quảng cáo banner thông dụng nhất, có dạng hình chữ nhật
chứa những đoạn text ngắn và hình ảnh, có khả năng kết nối đến một trang hay một
website khác. Quảng cáo banner truyền thống là một hình thức quảng cáo phổ biến
nhất hiện nay và được nhiều người lựa chọn nhất bởi vì thời gian tải nhanh, dễ thiết kế
và thay đổi, dễ chèn vào website nhất.
- Quảng cáo Banner In-line (In-line banner ads)
GVHD: ThS. Vũ Thị Hải Lý SVTH: Đinh Thị Giang
14
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại điện tử
Quảng cáo Banner In-line (In-line ads): hình thức quảng cáo này được định
dạng trong một cột ở phía dưới bên trái hoặc bên phải của một trang web. Cũng như
quảng cáo banner truyền thống, quáng cáo In-line có thể được hiển thị dưới dạng một
đồ hoạ và chứa một đường link, hay có thể chỉ là một đoạn text với những đường siêu
liên kết nổi bật với những phông màu hay đường viền.

CRM hay quản trị quan hệ khách hàng là chiến lược thu hút, duy trì phát triển
khách hàng bằng cách tập trung nguồn lực của doanh nghiệp vào việc cung cấp sản
phẩm, dịch vụ chăm sóc khách hàng. CRM còn được biết đến với những tên gọi khách
như marketing quan hệ (Relationship Marketing) hay quản trị khách hàng (Customer
Management). CRM liên quan đến việc xây dựng, phát triển và củng cố mối quan hệ
giữa doanh nghiệp với khách hàng mục tiêu và các nhóm khách hàng nhằm tối đa hoá
giá trị khách hàng. Đây là lĩnh vực nghiên cứu nhu cầu và hành vi khách hàng để xây
dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa khách hàng dù doanh nghiệp bán hàng hay cung cấp
dịch vụ. CRM giúp doanh nghiệp sử dụng công nghệ và nhân lực nắm bắt hành vi và
giá trị của khách hàng thông qua việc cung cấp dịch vụ tốt hơn, giúp nhân viên kết
thúc nhanh một giao dịch, phát hiện khách hàng mới và tăng doanh số bán hàng. CRM
còn cho phép các doanh nghiệp thu thập và tiếp cận với các nguồn thông tin như lịch
sử mua hàng của khách hàng, thói quen, sở thích hay những lời phàn nàn của họ, từ đó
có thể đưa ra dự đoán về nhu cầu trong tương lai của khách hàng.
1.2 NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh là thuật ngữ ngày càng được sử dụng rộng rãi trong rất
nhiều các lĩnh vực nhưng đến nay vẫn là khái niệm khó hiểu và rất khó đo lường. Theo
Từ điển thuật ngữ kinh tế học, năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần
lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay
toàn bộ thị phần của đồng nghiệp. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) định
nghĩa năng lực cạnh tranh là “khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc
gia hoặc khu vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong
điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững”.
1.2.2 Phân loại năng lực cạnh tranh
Đã có rất nhiều những nhà chuyên môn đã nghiên cứu và có những công trình
nghiên cứu công phu về năng lực cạnh tranh. Chẳng hạn như Momaya (2002),
Ambastha và cộng sự (2005), hoặc các tác giả người Mỹ như Henricsson và các cộng
sự (2004)… đã hệ thống hóa và phân loại các nghiên cứu và đo lường năng lực cạnh
GVHD: ThS. Vũ Thị Hải Lý SVTH: Đinh Thị Giang

như: lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, doanh thu, tăng trưởng doanh thu,… Các chỉ tiêu này
phản ánh kết quả sử dụng các yếu tố vốn, trình độ quản lý sản xuất kinh doanh, lao
GVHD: ThS. Vũ Thị Hải Lý SVTH: Đinh Thị Giang
17
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại điện tử
động, kỹ thuật của doanh nghiệp. Phân tích, so sánh các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp kỳ này với kỳ trước, so sánh chỉ tiêu trung bình
ngành và chỉ tiêu kế hoạch với chỉ tiêu thực hiện, ta đánh giá được hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp là cao hay thấp. Nếu doanh nghiệp có hiệu quả kinh
doanh cao, lợi nhuận cao và theo chiều hướng phát triển thì nội bộ doanh nghiệp ổn
định, mọi thành viên an tâm làm việc, mang lại lợi ích lớn cho doanh nghiệp và doanh
nghiệp đó sẽ có năng lực cạnh tranh cao.
1.2.4.2 Thị phần của doanh nghiệp trên thị trường.
Thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hóa, dịch vụ là tỷ lệ phần
trăm giữa doanh thu (mua hoặc bán hàng) của doanh nghiệp này với tổng doanh thu
của các doanh nghiệp khác trên thị trường trong một khoảng thời gian cụ thể, nhất
định. Thị phần thể hiện vị thế, phản ánh năng lực cạnh tranh, hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Hơn nữa, thị phần còn nói lên sức chi phối thị trường của
doanh nghiệp, nó xác định vai trò thống trị thị trường của doanh nghiệp. Thị phần mà
càng lớn chứng tỏ sản phẩm của doanh nghiệp được người tiêu dùng ưa chuộng, năng
lực cạnh tranh của sản phẩm cao, và do đó năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cao,
doanh nghiệp có chỗ đứng vững chắc trên thị trường, có triển vọng trong lĩnh vực kinh
doanh của doanh nghiệp đó. Để phát triển thị phần, ngoài giá cả, chất lượng của sả
phẩm, doanh nghiệp còn phải tiến hành công tác xúc tiến thương mại, tổ chức các dịch
vụ đi kèm, cung cấp sản phẩm kịp thời, thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp. Như
vậy, thị phần là một tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp.
+ Ý nghĩa: chỉ tiêu thị phần của doanh nghiệp càng lớn, thể hiện sức mạnh của
doanh nghiệp trên thị trường càng lớn, phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
trên thị trường lớn.

chương trình e-marketing hỗn hợp cho doanh nghiệp. Nếu có thì những bài viết mới
chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu từng chính sách riêng lẻ như là chính sách chào hàng,
hoặc chính sách xúc tiến… Bên cạnh đó số lượng đầu sách viết về các chương trình e-
marketing hỗn hợp còn rất hạn chế. Trên thế giới mới có một số đầu sách viết về hoạt
động e-marketing nói chung như E-Marketing (Strauss, EL-Ansary & Frost), Internet
Marketing: Intergrating online and offline strategy (Marry Low Roberts), và một số tài
liệu về e-marketing… trong nước, tình hình phát triển của e-marketing mới ở giai đoạn
sơ khai do vậy việc nghiên cứu trong lĩnh vực này còn khá hạn chế, một số đầu sách
điển hình là giáo trình Marketing thương mại điện tử của PGS.TS Nguyễn Bách Khoa,
GVHD: ThS. Vũ Thị Hải Lý SVTH: Đinh Thị Giang
19
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại điện tử
Bài giảng thương mại điện tử 2007 của Th.S Nguyễn Văn Thoan, đặc biệt có đề tài
khoa học nghiên cứu cấp bộ về việc “Ứng dụng e-marketing trong hoạt động thương
mại của các doanh nghiệp Việt Nam” dưới sự chủ nhiệm của PGS.TS.Đinh Văn Thành
và một số bài giảng về e-marketing được đăng trên các báo điện tử,… cũng mới chỉ
dừng lại ở việc nghiên cứu tổng thể hoạt động e-marketing, chưa có tài liệu nào đi sâu
nghiên cứu chương trình e-marketing hỗn hợp trong doanh nghiệp.
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG E-MARKETING CỦA CÔNG TY TNHH
THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ TCT
2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình tìm hiểu, tiếp xúc thực tế tại công ty TNHH Thương Mại và
Dịch Vụ TCT để nắm bắt tình hình, tìm kiếm các số liệu… phục vụ cho việc viết khóa
luận tốt nghiệp mà em đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
2.1.1 Khảo sát thực tiễn.
Tiến hành khảo sát tổng thể trong công ty: lĩnh vực hoạt động của công ty, cơ
cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của các phòng ban, tìm kiếm, thu thập thông tin về
kết quả hoạt động kinh doanh,… tiến hành khảo sát các phòng ban, khảo sát hoạt động
của phòng e-marketing để thấy được tình trạng hoạt động marketing cũng như việc áp

lược và định hướng phát triển cho doanh nghiệp.
• Cách thức tiến hành: Phương pháp phỏng vấn chuyên gia được tiến hành bằng
cách đặt câu hỏi trực tiếp cho nhà quản trị cấp cao của doanh nghiệp trên cơ sở
đó thu thập, tổng hợp và xử lí những thông tin phục vụ cho khóa luận.
• Ưu nhược điểm
- Ưu điểm của phương pháp này là độ chính xác của thông tin cao, những thông
tin thu thập được có giá trị lớn, số lượng thông tin thu thập được lớn.
- Nhược điểm : mất thời gian, thông tin mang tầm khái quát, thông tin thu thập
được khó thống kê và xử lí.
• Mục đích áp dụng: Thông tin thu thập được từ phiếu điều tra phỏng vấn chuyên
gia được sử dụng để phân tích hình ứng dụng e-markeitng hỗn hợp trong công
ty, bên cạnh đó đưa ra các đề xuất phát triển mô hình e-marketing hỗn hợp cho
công ty.
2.1.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Thu thập dữ liệu thứ cấp là việc thu thập thông tin đã có ở đâu đó và trước đây
được thu thập phục vụ cho mục đích nghiên cứu khác. Việc nghiên cứu thường được
bắt đầu bằng việc thu thập dữ liệu thứ cấp. Dữ liệu thứ cấp bao gồm nguồn dữ liệu nội
bộ của doanh nghiệp như báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và nguồn dữ liệu bên
GVHD: ThS. Vũ Thị Hải Lý SVTH: Đinh Thị Giang
21
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại điện tử
ngoài như các tài liệu thống kê, các công trình nghiên cứu, cái bài báo,… và bên ngoài
công ty: các ấn phẩm của cơ quan nhà nước, tạp chí, sách báo của các tổ chức.
Ưu điểm của dữ liệu thứ cấp là: thu thập nhanh, chi phí thấp, lượng thông tin
thu được cao. Những thông tin thu được từ nguồn dữ liệu thứ cấp có vai trò quan trọng
đối với việc nghiên cứu, thông tin mang tính khách quan, bên cạnh đó chất lượng
thông tin thu được cao.
Nhược điểm: dữ liệu thứ cấp là những dữ liệu có sẵn từ trước nên có thể là dữ
liệu cũ không còn phù hợp, số liệu không chính xác khi sử dụng ở hiện tại.
2.2 ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN

TAYA, tuy nhiên trong quá trình kinh doanh Công ty đã đa dạng hóa các sản phẩm của
mình, đã đưa vào kinh doanh các phụ kiện ngành điện như Tủ điện, cáp đầu nối, bảng
điện và các thiết bị điện liên quan. Đồng thời Ban lãnh đạo Công ty tìm được các nhà
cung cấp mới giúp cho việc kinh doanh của mình trở lên thuận lợi hơn.
2.2.1.2 Ngành nghề kinh doanh
Theo đăng ký kinh doanh thì ngành nghề kinh doanh của công ty TNHH
Thương mại và Dịch Vụ TCT bao gồm :
- Mua bán dây cáp điện và các thiết bị điện
- Dịch vụ vận tải, dịch vụ giao nhận hàng hóa;
- Mua bán thiết bị, linh kiện điện, điện tử, điện lạnh, máy tính, điện thoại, thiết bị văn
phòng, thiết bị viễn thông;
- Mua bán máy móc, thiết bị phụ tùng ô tô, tàu thủy, dầu mỡ bôi trơn
- Xuất nhập khẩu các mặt hàng công ty kinh doanh;
- Mua bán các thiết bị khoan cắt, thiết bị phòng cháy chữa cháy, máy phát điện;
- Mua bán, bảo dưỡng xe có động cơ, ô tô, xe máy, phụ tùng và các thiết bị phụ trợ,
xăng, dầu, mỡ;
2.2.1.3 Tình hình hoạt động của công ty
a. Chức năng và lĩnh vực hoạt động

Chức năng
- Cung cấp dây và cáp điện phục vụ các công trình xây dựng trên địa bàn thành
phố Hà Nội và các thị trường lân cận
- Cung cấp dịch vụ vận tải hàng hóa

Lĩnh vực hoạt động: Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ
b. Vị trí công ty
Sau ba năm thành lập công ty TNHH Thương Mại Và Dịch Vụ TCT, tên tuổi và
vị thế của công ty trên thị trường cáp điện đang ngày càng được khẳng định. Dây cáp
GVHD: ThS. Vũ Thị Hải Lý SVTH: Đinh Thị Giang
23

3 GondCup Nguyễn Sơn, Hà Nội Dây và cáp điện GondCup
Ba công ty trên là những đối thủ cạnh tranh với TCT trong lĩnh vực kinh doanh
dây cáp điện trên thị trường Hà Nội. Để cạnh tranh có ưu thế hơn với các đối thủ cạnh
tranh thì ngoài chất lượng sản phẩm và giá cả hợp lý công ty còn có các hoạt động
GVHD: ThS. Vũ Thị Hải Lý SVTH: Đinh Thị Giang
24
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại điện tử
marketing nhằm giới thiệu và bán sản phẩm, xây dựng thương hiệu cho công ty và tích
cực mở rộng thị trường phân phối. Các hoạt động nhằm tranh thủ nắm bắt cơ hội để
phát triển mở rộng thị trường tăng lượng hàng hoá bán ra luôn được quan tâm chú
trọng, cùng với đó là các chính sách để duy trì các khách hàng hiện tại, bởi thực tế cho
thấy họ mới là những người mang lại cho công ty những khoản lợi nhuận ổn định và
việc tìm kiếm khách hàng mới bao giờ cũng tốn kém hơn việc giữ khách hàng cũ.
d. Đặc điểm tổ chức quản lý kinh doanh của công ty
Hiện nay, văn phòng và kho bãi đều đặt tại trụ sở của công ty theo giấy phép
đăng ký kinh doanh.
Bộ máy tổ chức của công ty là một bộ máy hoàn chỉnh:
Sơ đồ 2. 1: sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty
2.2.2 Ảnh hưởng của yếu tố môi trường bên ngoài đến hoạt động emarketing của
công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ TCT
2.2.2.1. Tri thức và thông tin là lực lượng sản xuất trực tiếp trong nền kinh tế thế giới
GVHD: ThS. Vũ Thị Hải Lý SVTH: Đinh Thị Giang
HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
PHÒNG
NHÂN
SỰ
PHÒNG
KẾ

tổng dư nợ tín dụng gia tăng chưa đến một nửa. Lạm phát vẫn cao.Không chỉ có vậy,
mức lãi suất ngân hàng đang ở mức cao, vượt quá sức chịu đựng của doanh nghiệp dẫn
đến xu hướng co cụm, không dám vay vốn để đầu tư phát triển sản xuất. Tuy nhiên
tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2011 ước tính tăng 5,89% so với năm 2010.
Mức tăng này thấp hơn gần 1% so với 6,78% của năm ngoái. Song trong điều kiện tình
hình sản xuất rất khó khăn, cả nước tập trung ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh
tế vĩ mô, mức tăng trưởng trên là khá cao và hợp lý. Bên cạnh đó tăng trưởng GDP của
Việt Nam cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực Đông Nam Á đây là cơ hội
vừa là thách thức cho nghành e-marketing. Thách thức đặt ra cho e-marketing đó là
GVHD: ThS. Vũ Thị Hải Lý SVTH: Đinh Thị Giang

Trích đoạn xuất về giải pháp đẩy mạnh hoạt động e-marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty. Một số kiến nghị liên quan. CƯƠNG CHI TIẾT SV: Đinh Thị Giang.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status