Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản, trong kinh doanh ga hoá lỏng - Pdf 73

LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nước ta đang ở giai đoạn đầu của nền kinh tế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước. Việc chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền
kinh tế hoạt động theo sự vận hành của cơ chế thị trường đã mở ra một thời kỳ mới
đầy những cơ hội phát triển cũng như là những thách thức lớn lao cho các thành phần
kinh tế, các doanh nghiệp ở Việt Nam.
Vận động theo cơ chế thị trường có nghĩa là hoạt động của doanh nghiệp phải
gắn liền với thị trường, tuân thủ theo các quy luật kinh tế trong đó quy luật cạnh
tranh. Mỗi một doanh nghiệp phải biết thích nghi với thị trường, cạnh tranh gay gắt
với nhau để tồn tại và phát triển.Trong những cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào
biết thích nghi với thị trưòng, tận dụng mọi cơ hội, phát huy được khả năng của mình
sẽ giành được thắng lợi. Ngược lại, những doanh nghiệp yếu thế, không thích nghi
được sẽ bị đào thải khỏi thị trường.
Bắt đầu từ ý tưởng này, sau một thời gian tìm hiểu và thực tập tại Công ty
TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản, em đã quyết định chọn đề tài ''Giải
pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh Gaz và Bếp ga
ở Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản" là đề tài nghiên cứu của
tôi.
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản là một doanh nghiệp tư
nhân chuyên kinh doanh các sản phẩm gaz và bếp ga. Qua gần 5 năm hoạt
động và phát triển, công ty đã tìm cho mình một vị trí khá ổn định trên thị
trường gaz và bếp ga. Tuy nhiên, hiện nay công ty đang phải đương đầu với
sự cạnh tranh mạnh mẽ từ nhiều phía trên thị trường gaz và bếp ga tại Quảng
Ninh nói chung và Hạ long nói riêng với sự tham gia của các hãng ga như
Shell, Đại Hải Petrol, BP, Thăng long gaz, Petro Việt nam ... Trong đó có sự
cạnh tranh rất quyết liệt đối với sản phẩm ga hoá lỏng, một sản phẩm có lợi
nhuận cao và nhiều tiềm năng. Làm cho hoạt động kinh doanh Ga gặp nhiều
khó khăn và quyết liệt. Để tiếp tục phát triển và mở rộng thị trường ga, công
ty cần phải nghiên cứu tìm ra những biện pháp phù hợp để nâng cao khả năng
cạnh tranh của mình. Có nâng cao khả năng cạnh tranh, công ty mới có thể
chiến thắng được các đối thủ cạnh tranh, đứng vững trên thị trường cạnh tranh

hoá tư bản chủ nghĩa. Khái niệm cạnh tranh được nhiều tác giả trình bày
dưới nhiều góc độ khác nhau trong các giai đoạn phát triển khác nhau của
nền kinh tế xã hội.
Theo Marx “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa
các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và
tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.
Còn theo cuốn từ điển kinh doanh (xuất bản 1992 ở Anh ), cạnh
tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là “sự ganh đua, sự kình định
giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một
loại về phía mình”.
Như vậy, hiểu theo một nghĩa chung nhất, cạnh tranh là sự ganh đua
giữa các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế trong việc giành giật thị trường
và khách hàng và các điều kiện thuân lợi trong các hoạt động sản xuất kinh
doanh.Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giũa các
chủ thể tham gia thị trường.
Cạnh tranh là một điều tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường.
Các doanh nghiệp bắt buộc phải chấp nhận cạnh tranh, ganh đua với nhau,
phải luôn không ngừng tiến bộ để giành được ưu thế tương đối so với đối
thủ. Nếu như lợi nhuận là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tiến hành
các hoạt động sản xuất kinh doanh thì cạnh tranh bắt buộc họ phải tiến
hành các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả cao nhất
nhằm thu được lợi nhuận tối đa. Kết quả cạnh tranh sẽ loại bỏ được ca
doanh nghiệp yếu kém và giúp phát triển các doanh nghiệp làm ăn có hiệu
quả. Ở Việt Nam, cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế, cạnh tranh được thừa
nhận là một quy luật kinh tế khách quan và được coi như là một nguyên
tắc cơ bản trong tổ chức điều hành kinh doanh trong từng doanh nghiệp.
3
2) Các loại hình cạnh tranh.
2.1 - Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường.
Theo tiêu thức này, người ta chia cạnh tranh thành ba loại:

4
Cạnh tranh hoàn hảo xẩy ra khi trên thị trường có rất nhiều người bán
và không có người nào có ưu thế về số lượng cung ứng đủ lớn để ảnh hưởng
tới giá cả trên thị trường. Cac sản phẩm bán ra rất ít có sự khác biệt về quy
cách, phẩm chất, mẫu mã. Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo các doanh
nghiệp bán sản phẩm và dịch vụ của mình ở mức giá do thị trường xác định
dựa trên quy luật cung cầu.
d Cạnh tranh không hoàn hảo
Cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh trên thị trường mà phần lớn các sản
phẩm không đồng nhất với nhau. Một loại sản phẩm có thể có nhiều nhãn hiệu khác
nhau nhằm phân biệt các nhà sản xuất hay cung ứng, mặc dù sự khác biệt giữa các
sản phẩm có thể không lớn.
s Cạnh tranh độc quyền
Cạnh tranh độc quyền là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có một
số người bán một số sản phẩm thuần nhất. Họ có thể kiểm soát gần như toàn
bộ số lượng sản phẩm và dịch vụ bán ra trên thị trường. Thị trường cạnh tranh
độc quyền không có sự cạnh tranh về giá, người bán có thể bắt buộc người
mua chấp nhận giá sản phẩm do họ định ra. Họ có thể định giá cao hơn hoặc
thấp hơn giá của thị trường tuỳ thuộc vào đặc điểm tác dụng của từng loại sản
phẩm, uy tín người cung ứng…nhưng mục tiêu cuối cùng là đạt được mục
tiêu đề ra thường là lợi nhuận. Những doanh nghiệp nhỏ tham gia vào thị
trường này phải chấp nhận bán theo giá của các nhà độc quyền.
3) Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường .
Trong nền kinh tế kế hoach hoá khái niệm cạnh tranh hầu như không
tồn tại, song từ khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi, vận động theo cơ chế thị
trường thị cũng là lúc cạnh tranh và quy luật cạnh tranh được thừa nhận, vai
trò của cạnh tranh ngày càng được thể hiện rõ nét hơn:
3.1- Đối với một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ :
Cạnh tranh là một điều bất khả kháng trong nền kinh tế thị trường. Các
doanh nghiệp, các nhà kinh doanh dịch vụ khi tham gia thị trường buộc phải

II. Nội dung và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp.
1.Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là gì ?
Hiện nay, một doanh nghiệp muốn có một vị trí vững chắc trên thị
trưòng và ngày càng được mở rộng thì cần phải có một tiềm lực đủ mạnh để
có thể cạnh tranh trên thị trường. Cái đó chính là khả năng cạnh tranh của một
doanh nghiệp. Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng, năng
lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị
trường cạnh tranh, đảm bảo thực hiện một mức lợi nhuận ít nhất là bằng tỉ lệ
đòi hỏi cho việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện qua một số chỉ
tiêu sau :
t Thị phần thị trường của doanh nghiệp / Toàn bộ thị phần thị trường
Chỉ tiêu này thường để dánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khi xem xét chỉ tiêu này người ta thường nghiên cứu các loại thị phần sau:
6
+Thị phần của công ty so với toàn bộ thị trường. Đó là tỷ lệ % giữa doanh
số của doanh nghiệp so với doanh số của toàn bộ các doanh nghiệp khác
+Thị phần của công ty so với phân khúc mà nó phục vụ. Là tỷ lệ % giữa
doanh số của công ty so với doanh số của toàn phân khúc.
+Thị phần tương đối là tỷ lệ % giữa doanh số của công ty so với doanh
nghiệp đứng đầu.
Thông qua sự biến động của các chỉ tiêu này mà doanh nghiệp biết
mình đang ở đâu trong các doanh nghiệp cùng ngành, thị trường của mình
nhiều hay ít, su hướng về phát triển thị trường của doanh nghiệp mình diễn ra
như thế nào. Từ đó doanh nghiệp sẽ có cái nhìn chính xác và đặt ra các mục
tiêu cũng như chiến lược phù hợp.
Ưu điểm: Đơn giản dễ tính.
Nhược điểm: Độ chính sác không cao, khó thu thập được doanh số
chính xác của các doanh nghiệp.

tranh bằng giá là ''biện pháp nghèo nàn'' nhất vì nó làm giảm lợi nhuận thu
được, mà ngược lại, cùng một loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm và dịch vụ
nào tốt đáp ứng được yêu cầu thì người tiêu dùng cũng sẵn sàng mua với một
mức giá có cao hơn một chút cũng không sao, nhất là trong thời đại ngày nay
khi mà khoa học kỹ thuật đang trong giai đoạn phát triển mạnh, đời sống của
nhân dân được nâng cao rất nhiều so với trước thì chất lượng sản phẩm và
dịch vụ phải đua lên hàng đầu.
Chất lượng chất lượng sản phẩm và dịch vụ là một vấn đề sống còn đối
với một doanh nghiệp đặc biệt là đối với các doanh nghiệp tư nhân khi mà họ
đang phải đương đầu với các đối với các đối thủ cạnh tranh khác. Một khi
chất lượng chất lượng sản phẩm và dịch vụ không được đảm bảo thì cũng có
nghĩa là doanh nghiệp sẽ bị mất khách hàng, mất thị trường, nhanh chóng đi
tới chỗ suy yếu và bị phá sản.
2.3 - Tổ chức dich vụ tiêu thụ sản phẩm.
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình nhập và xuất hàng,
đây cũng là giai đoạn thực hiện bù đắp chi phí và thu lợi nhuận.
Việc đầu tiên của quá trình tổ chức tiêu thụ sản phẩm là phải lựa chọn
các kênh phân phối sản phẩm một cách hợp lý, có hiệu quả, phù hợp với đặc
điểm sản phẩm, với các mục tiêu của doanh nghiệp. Lựa chọn các kênh phân
phối nhằm mục đích đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu của khách hàng,
nhanh chóng giải phóng nguồn hàng, để bù đắp chi phí sản xuất dịch vụ, thu
hồi vốn. Xây dựng một hệ thống mạng lưới tiêu thụ sản phẩm tốt cũng có
nghĩa là xây dựng một nền móng vững chắc để phát triển thị trường, bảo vệ
thị phần của doanh nghiệp có được.
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm được tổ chức tốt sẽ làm tăng sản lượng
bán hàng từ đó sẽ tăng doanh thu, tăng lợi nhuận dẫn tới tốc độ thu hồi vốn
nhanh, kích thích sản xuất phát triển. Công tác tổ chức tiêu thụ tốt cũng là một
trong những yếu tố làm tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, giúp cho
doanh nghiệp tìm ra được nhiều bạn hàng mới, mở rộng thị trường nâng cao
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

như vậy tốc độ đàu tư phát triển sản xuất kinh doanh sẽ tăng lên. Đây chính là
cơ hội tốt cho các doanh nghiệp phát triển. Doanh nghiệp nào có khả năng
nắm bắt được những cơ hôị này thì chắc chắn sẽ thành công và khả năng cạnh
tranh cũng tăng lên.
t Nhân tố chính trị và pháp luật.
Chính trị và pháp luật là nền tảng cho phát triển kinh tế cũng như là cơ
sở pháp lý để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường.
Luật pháp rõ ràng, chính trị ổn định là môi trường thuận lợi đảm bảo sự bình
đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả.
9
Mặt khác chúng cũng có thể đem lại những trở ngại, khó khăn thậm chí là rủi
ro cho các doanh nghiệp. Ta có thể lấy ví dụ như các chính sách về xuất nhập
khẩu về thuế, các khoản nộp ngân sách, quảng cáo, giá là những yếu tố tác
động trực tiếp kìm hãm hay tạo điều kiện để nâng cao khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp.
c Tốc độ tăng trưởng của ngành
Tốc độ tăng trưởng của ngành sẽ quyết định mức độ cạnh tranh của
ngành đó. Khi tốc độ phát triển của ngành chậm thì mức độ cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp trên thị trường đó sẽ cao và gay gắt hơn do chỉ cần một biến
động như sự mở rộng thị trường của doanh nghiệp này sẽ ảnh hưởng tới phần
thị trường của các doanh nghiệp khác. Các doanh nghiệp phải cạnh tranh
quyết liệt do vậy mỗi doanh nghiệp phải luôn luôn tìm cách bảo vệ phần thị
trưởng của mình.
t Số lượng các doanh nghiệp trong ngành
Thêm vào đó số lượng các doanh nghiệp cạnh tranh và các đối thủ tiềm
ẩn cũng là một nhân tố tác động đến khả năng cạnh tranh của một doanh
nghiệp. Khi xem xét nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp phải đánh giá
nghiên cứu kỹ lưỡng từng đối thủ của mình : Quy mô khả năng tài chính,
trình độ công nghệ, đặc điểm sản phẩm ... để từ đó định ra mức độ cạnh tranh
trên thị trường và đánh giá khả năng cạnh tranh của đối thủ cũng như của

Điều này được thể hiện thông qua cơ cấu tổ chức, tác phong làm việc
của các thành viên, mối quan hệ của các bộ phận… Một bộ máy được vận
hành một cách nhịp nhàng, thông suốt chắc chắn sẽ góp phần nâng cao khả
năng cạnh tranh và ngược lại. Để có được sự tổ chức quản lý tốt doanh nghiệp
cần phải tạo ra được quy chế làm việc. Các quy định về trách nhiệm và quyền
lợi cho các cá nhân, mối quan hệ giữa các bộ phận trong doanh nghiệp một
cách rõ ràng và được sự nhất trí của các thành viên trong doanh nghiệp. Khả
năng tổ chức quản lý còn phụ thuộc rất lớn vào khả năng quản lý,tổ chức của
những người làm công tác quản lý trong doanh nghiệp. Do đó, đội ngũ quản
trị viên phải được đào tạo một cách có hệ thống, phù hợp với các đặc điểm
của doanh nghiệp.
III. Sự cần thiết nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp
1.Thực chất khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn tới sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp. Hiện nay, các doanh nghiệp đều tìm mọi cách
để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
Các biện pháp dịch vụ mà doanh nghiệp tiến hành để nâng cao khả
năng cạnh tranh như cải tiến dịch vụ giúp tiết kiệm chi phí… Một dịch vụ
hoàn hảo sẽ giúp cho doanh nghiệp có được các sản phẩm dịch vụ mang tính
cạnh tranh cao hơn nhờ chất lượng dịch vụ được bảo đảm và uy tin.
Vậy nâng cao khả năng cạnh tranh là việc tăng cường các hoạt động từ
dich vụ, kinh tế, khả năng ra quyết định… nhằm giúp cho doanh nghiệp đứng
vững và phát triển trong nền kinh tế.
11
2) Sự cần thiết nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
nói chung
Nền kinh tế ngày càng phát triển, mở ra cho doanh nghiệp nhiều cơ hội
nhưng cũng làm tăng thêm nhiều đối thủ cạnh tranh. Trước những cơ hội và
thách thức như vậy mỗi doanh nghiệp phải tìm các vượt qua nếu không nguy

công ty có thể tồn tại phát triển nên công ty cần thiết phải nâng cao khả năng
cạnh tranh của mình.
12
PHẦN II
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
CỦA CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ NGỌC
TOẢN
- == & ==-
I . Giới thiệu chung về Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc
Toản
1) Lịch sử phát triển của Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc
Toản.
1.1 - Sự ra đời của Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản.
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản tiền thân là một cửa
hàng chuyên kinh doanh ga và bếp ga. Khi đó việc kinh doanh ga và bếp ga
chỉ là một phần không thể tách rời, doanh thu chiếm tỷ trọng chiếm khoảng
8% đến 10% tổng doanh thu của các loại ga và bếp ga). Cho tới giữa năm
13
1999 cửa hàng nhận thấy nhu cầu tiêu dùng của người dân về ga và bếp ga tại
thị trường Quảng ninh nói chung và Hạ long nói riêng gia tăng. Trong khi đó,
các doanh nghiệp tư nhân cùng nghành hàng cung cấp ga và bếp ga không ổn
định và có nguy cơ không đáp ứng đủ nhu cầu về thị trường.
Trước tình hình đó, cửa hàng quyết định thành lập Công ty TNHH
Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản. Được Sở Thưong mại Quảng Ninh cấp
ngày 15/11/1999 thành lập Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản.
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản, có nhiệm vụ kinh doanh,
phục vụ nhu cầu ga, bếp ga trên toàn tỉnh Quảng Ninh.
Trong quá trình hoạt động và phát triển, Công ty đã từng bước kinh
doanh đa dạng hoá các chủng loại sản phẩm để phục vụ nhu cầu tiêu dùng.
Để khẳng định sự chuyển biến cả về chất và lượng của công ty, ngày

V Các đơn vị trực thuộc là các đại lý đặt tại các đường lớn trong Tỉnh,Thành
Phố.
Sơ đồ tổ chức:
2.2 - Văn phòng công ty .
Cơ cấu bộ máy quản lý của văn phòng công ty bao gồm :
CGiám đốc công ty: là người có quyền quyết định mọi hoạt động của
công ty và là người phải chịu toàn bộ trách nhiệm trực tiếp trước Pháp luật về
mọi hoạt động kinh doanh của công ty.
Các phòng ban : Văn phòng Ngoc Toan Co., LTD được tổ chức thành 3
phòng ban :
Phòng Kế toán tài chính : Chức năng chủ yếu của phòng là khai thác
mọi nguồn vốn nhằm đảm bảo đủ vốn cho hoạt động kinh doanh của công ty.
Tham mưu cho giám đốc xét duyệt các phương án kinh doanh và phân phối
thu nhập. Kiểm tra các số liệu thực tế, thủ tục cần thiết của toàn bộ chứng từ
và việc thanh toán tiền hàng. Hướng dẫn các đơn vị mở sổ sách theo dõi tài
sản hàng hoá, chi phí... xác định lỗ lãi, phân phối lãi của từng đơn vị.
Phòng kinh doanh: Giúp việc cho giám đốc, được giám đốc giao nhiệm
vụ trực tiếp phụ trách một số mảng hoặc một số bộ phận hoạt động của công
ty. Phòng kinh doanh là phòng nghiệp vụ có chức năng tổ chức, quản lý, chỉ
đạo, điều hành các hoạt động kinh doanh của toàn công ty đảm bảo có hiệu
quả và tuân thủ theo dúng quy định của ngành, pháp luật của Nhà nước trên
các công tác:
15
GIÁM ĐỐC
Các đại lý
Phòng
kinh
doanh
Kho hàng Hạ
Long

a) Các sản phẩm kinh doanh của Ngoc Toan Co., LTD.
Hiện nay thực hiện hoạt động kinh doanh trên hai nhóm mặt hàng chủ
yếu sau:
y Nhóm mặt hàng Bếp ga gồm có:
+ Bếp ga dân dụng.
+ Bếp ga công nghiệp.
B Nhóm mặt hàng Ga hoá lỏng.
+ Ga Tatal.
Ngoài ra Công ty còn kinh doanh các thiết bị vật tư chuyên dụng cho ga
và bếp ga công nghiệp.
16
b) Cơ cấu kinh doanh sản phẩm của công ty
Trong những năm qua cơ cấu sản phẩm của công ty có thể khái quát
thông qua bảng sau :
Biểu 1: Tình hình tiêu thụ của Công ty qua các năm.
Chỉ tiêu ĐVT Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Ga Total (12kg) B 33480 48960 71280
Ga Total (45kg) B 7560 8640 10440
Bếp Nhật Bản C 470 680 510
Bếp Goldsun C 850 2270 1650
Bếp Sakura C 740 920 862
Bộ phụ kiện Bộ 820 1418 960
Nguồn phòng kinh doanh Công ty
Qua bảng trên ta có thể thấy tinh hình tiêu thụ của công ty với các sản
phẩm ga, bếp ga chiếm tỷ trọng khá lớn và ổn định.
Biểu 2: Tình hình doanh thu của Công ty qua các năm.
ĐVT: Tr. đồng
Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Ga Total (12kg) 2979,7 4650 6985,4
Ga Total (45kg) 2570,4 3024 3758,4

Trong những năm đầu mới phát triển số lượng lao động của công ty
tăng khá nhanh với một tỷ lệ tăng cao. Điều này là do sau thời gian đầu công
ty phát triển thêm thị trường và lượng ga tăng nhanh. Công ty dần dần ổn định
về số lượng lao động, tiến tới đi sâu vào phát triển nâng cao trình độ của đội
ngũ lao động. Hiện nay, công ty thực hiện điều chỉnh lao động giữa các cửa
hàng thành viên trong công ty một cách hợp lý tránh tăng thêm số lượng lao
động.
Cơ cấu lao động của công ty ngày càng được hoàn thiện để thích hợp
với hoạt động kinh doanh của công ty. Cơ cấu lao động có sự khác nhau giữa
các phòng và cửa hàng trong công ty. Cơ cấu này tuỳ thuộc vào đặc điểm
riêng của từng phòng và cửa hàng. Trong 57 lao động của công ty cuối năm
2002 cơ cấu bao gồm :
- 2 lao động có trình độ đại học chiếm 3,4 % lực lượng lao động.
- 6 lao động có trình độ cao đẳng chiêm 10,3% lực lượng lao động.
- 11 lao động có trình độ trung cấp chiếm 18,9% lực lượng lao động.
- 39 lao động là công nhân lực lượng lao động.
Trong 58 lao động của công ty hiện nay có 16 lao động nữ chiếm
27,5% tổng số lao động.
18
4) Đặc điểm thị trường đầu vào và đầu ra của Ngoc Toan Co., LTD.
4.1 - Đặc điểm của nguồn các sản phẩm đầu vào
Trên cơ sở nhiệm vụ hoạt động kinh doanh được giao của công ty tiến
hành mua sản phẩm ga hoá lỏng(đóng chai 12kg, 45kg), bếp ga(nguyên chiếc)
đầu vào phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình.
Nguồn đầu vào của Công ty đều được nhập từ các hãng nổi tiếng. Bao
gồm hai nhóm chính đó là ga hoá lỏng, nhóm thứ hai là bếp ga. Số lượng ga
hoá lỏng, bếp ga hàng năm nhập về công ty được căn cứ vào nhu cầu hàng
năm của thị trường thông qua kế hoạch kinh doanh trong năm. Trong năm số
lượng nhập về thường xuyên được thay đổi cho phù hợp với tình hình thực tế.
Nguồn ga hoá lỏng hiện nay của công ty trong thời gian qua chủ yếu từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status