Hình tượng tác giả trong di cảo nguyễn minh châu luận văn thạc sỹ ngữ văn - Pdf 33

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-------*****-------

ĐẬU THỊ NHUNG

H×NH Tîng t¸c gi¶ trong di c¶o nguyÔn minh ch©u
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.32
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TÔN PHƯƠNG LAN

VINH, 2011


2

LỜI CẢM ƠN!
Trong quá trình học tập tại Trường Đại học Vinh, tôi đã nhận được rất
nhiều sự quan tâm, giúp đỡ.
Nhân dịp luận văn được bảo vệ, tôi chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới
PGS.TS Tôn Phương Lan, người đã định hướng đề tài và tận tình giúp đỡ, động
viên tôi suốt quá trình thực hiện, hoàn thành luận văn.
Cảm ơn các thầy cô trong Khoa Sau đại học, Khoa Ngữ Văn – Trường Đại
học Vinh.
Cảm ơn những người thân trong gia đình, những người bạn đã chia sẻ mọi
khó khăn cho tôi.

1.1.2.2. Di cảo Nguyễn Minh Châu………………………………….
1.2. Tác giả và hình tượng tác giả……………………………..
1.2.1. Tác giả với tư cách là chủ thể sáng tạo tác phẩm……….
1.2.2. Giới thuyết về khái niệm hình tượng tác giả…………….
1.2.2.1. Khái niệm hình tượng tác giả ……………………… ……..
1.2.2.2. Hình tượng tác giả - một vấn đề đặc sắc trong Di cảo
Nguyễn Minh Châu …………… …………………………………… ...
Chương II. Hình tượng tác giả thể hiện trong cách nhìn về
chiến tranh và người lính…………………………………………
2.1. Cái nhìn về hiện thực ác liệt của cuộc chiến tranh anh
dũng và gian khổ của nhân dân………………………………..
2.2. Cái nhìn về con người……………………………………..


5
2.2.1. Chiến tranh và người dân ……………………………….
2.2.2.

Cái

nhìn

về

người

lính

………………………………… ..
2.2.3. Nghĩ về chiến tranh …………………………………… ..

chương



một

công

việc,



một

nghề………………….
KẾT LUẬN………………………………………………………..
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………… ….


6

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Hình tượng tác giả là một phạm trù quan trọng của thi pháp học hiện
đại. Cùng với quan niệm nghệ thuật về con người, không gian, thời gian nghệ
thuật…, hình tượng tác giả trong tác phẩm được thể hiện trên rất nhiều bình diện
trong tác phẩm. Kể từ khi khái niệm hình tượng tác giả được bóc tách trên các
nội dung cấu thành (nhất là quan niệm của Trần Đình Sử), thế giới nghệ thuật
của nhiều của nhà văn theo đó cũng bộc lộ nhiều vẻ đẹp lấp lánh. Nhiều tác
phẩm của nhiều nhà văn đã được đào xới, tìm tòi, nghiên cứu mới, bổ sung cho

2.1. Lịch sử nghiên cứu sáng tác của Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu (1930 - 1989) là nhà văn sáng tác văn học gắn liền
với cuộc đời người lính từ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đến những năm đầu
của công cuộc đổi mới của đất nước. Mỗi khi tác phẩm của Nguyễn Minh Châu
xuất hiện (khoảng 15 tiểu thuyết, tập truyện ngắn, tiểu luận phê bình) đều nhận
sự đón chào nồng nhiệt của giới phê bình và bạn đọc. Nguyễn Minh Châu công
bố truyện ngắn đầu tiên vào năm 1960 và năm 1970 đã có một số bài phê bình
giành cho tiểu thuyết Cửa sông và tập truyện ngắn Những vùng trời khác nhau.
Những năm 80 các bài phê bình về truyện ngắn, tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu
xuất hiện ngày càng nhiều, nhất là khi ông đã mạnh dạn đổi mới bút pháp thể
hiện lẫn nội dung phản ánh. Chỉ tính riêng đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX
đã có hơn trăm bài viết về Nguyễn Minh Châu và tác phẩm của ông. Tuy nhiên,
những bài viết, công trình khoa học vẫn có tính tập trung ở một số thời điểm
nhất định.
Trước khi ông mất 4 năm, năm 1985, trước những đóng góp của ông cho
nền văn học nước nhà, đặc biệt là những đột phá thời kỳ đổi mới, tuần báo Văn
nghệ đã đứng ra tổ chức hội thảo về truyện ngắn của ông.


8
Năm 1994, nhân kỷ niệm 5 năm ngày mất của nhà văn, Hội Văn nghệ
Nghệ An kết hợp với Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức hội thảo về cuộc đời và
sự nghiệp của Nguyễn Minh Châu.
Các bài viết trong các cuộc hội thảo này nhìn chung đã được tập hợp lại
trong cuốn: Nguyễn Minh Châu, con người và tác phẩm (1991), Nguyễn Minh
Châu – kỷ yếu năm năm ngày mất (1994). Các bài viết của các tác giả đều đã đề
cập đến những phương diện cơ bản trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu từ
tưởng tới nghệ thuật thể hiện trong tác phẩm, đồng thời đánh giá cao tư chất
nghệ sĩ, tư cách và ý chí sáng tạo của nhà văn .
Ngoài hai công trình đó, các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí, báo

(Nxb Khoa học xã hội, 2005). Con đường mà Tôn Phương Lan lựa chọn để đến
với tác phẩm Nguyễn Minh Châu là con đường tiếp cận theo hướng thi pháp
học. Từ phân tích ngôn ngữ, giọng điệu (ngợi ca, trữ tình, chính luận), Tôn
Phương Lan chỉ ra sự chuyển biến về mặt tư tưởng tác giả: từ cảm hứng anh
hùng đến cảm hứng sự thật trước số phận con người “những bề sâu hiện thực ẩn
kín”, những quan niệm nghệ thuật mới mẻ của ông cũng như những đóng góp
của ông vào tiến trình văn học hiện đại.
Ngoài công trình của các nhà khoa học, tác phẩm Nguyễn Minh Châu
hàng năm còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều luận văn, khóa luận tốt nghiệp
của học viên cao học, sinh viên trong nhiều trường đại học. Các luận văn, khóa
luận tốt nghiệp cũng đã “nhìn” sáng tác của Nguyễn Minh Châu dưới nhiều góc
độ: từ ngôn ngữ, từ cảm hứng sáng tác đến các hình tượng nhân vật như người
lính, người phụ nữ…
Như vậy, có thể thấy, lịch sử nghiên cứu về sáng tác Nguyễn Minh Châu
là một lịch sử nhiều trang, một lịch sử được viết liên tiếp qua nhiều con mắt
nhìn, nhiều hướng tiếp cận. Tựu trung, bàn về sáng tác (truyện ngắn và tiểu
thuyết) của Nguyễn Minh Châu, các công trình khoa học cho thấy hai mục đích
chính: thấy được tư tưởng của tác giả Nguyễn Minh Châu, thấy được sự đổi mới
về nghệ thuật mà tác giả vận dụng trong tác phẩm. Các tác giả của các công
trình khoa học, bởi mục đích nghiên cứu có những điểm chung, nên đã bắt gặp
nhau ở việc khẳng định: Nguyễn Minh Châu là nhà văn không chịu bằng lòng
với những gì mình viết ra, luôn tìm cách khám phá, đổi mới trong tư tưởng,
trong cách tiếp cận con người và cuộc sống, trong nghệ thuật thể hiện; sáng tác


10
của Nguyễn Minh Châu đã thực sự đem đến cho ông một vị trí không thể thay
thế trong giai đoạn quá độ của văn học trước và sau 1975; Nguyễn Minh Châu
xứng đáng là “người mở đường rực rỡ cho những cây bút trẻ tài năng sau này”
(Nguyễn Khải), đặt nền móng cho sự đổi mới văn học sau 1986.

vận động trong ý thức về sáng tạo: “Sự trăn trở lớn nhất nổi lên trong tiểu luận
của ông về việc làm thế nào nâng cao chất lượng sáng tác, ta hiểu, nó là nỗi day
dứt khôn nguôi trong ông, khi đêm đêm đối mặt trên trang giấy trắng trước đèn
và đã trở thành nỗi bức xúc được ông đặt ra trong một loạt vấn đề ở cấp độ lý
luận” [50, 9]. Qua tìm hiểu cụ thể các bài viết của Nguyễn Minh Châu, đối sánh
với các tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết, Tôn Phương Lan đi đến kết luận rằng:
“Nguyễn Minh Châu chỉ viết tiểu luận phê bình khi ông đã có một bề bày về
thời gian cầm bút, một sự từng trải trong nghề nghiệp. Và dường như sau khi
mỗi một cuốn tiểu thuyết, một truyện ngắn ra đời, vốn liếng đầy hơn thì các bài
tiểu luận phê bình của ông cũng sây sắc hơn, đắm chìm hơn. Để rồi, các sáng tác
tiếp theo lại mang dấu ấn của sự tìm tòi, thể nghiệm mới. Ở ông, người ta thấy
sự thống nhất hỗ trợ nhau giữa con người nhà văn và người viết lý luận, phê
bình văn học. Với hành trang đó trên vai, ông đã đi qua một lộ trình nghệ thuật
mà giờ đây lịch sử văn học đã biện minh cho ông và khẳng định rằng ông là
người mang quan điểm cách tân” [50, 15].
Tháng 1/1994, Tác giả Hồng Diệu trong bài Nguyễn Minh Châu nghĩ và
viết về việc viết văn cũng đã phân tích tiểu luận phê bình của Nguyễn Minh
Châu. Nhưng đối tượng khảo sát của Hồng Diệu không phải là toàn bộ tiểu luận
phê bình của Nguyễn Minh Châu mà chỉ những bài tiểu luận phê bình bàn về
việc viết văn và tập trung vào phân tích tiểu luận Hãy đọc lời ai điếu cho một
giai đoạn văn nghệ minh hoạ. Tác giả bài viết đánh giá cao tinh thần trách
nhiệm của Nguyễn Minh Châu: “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn
nghệ minh họa của Nguyễn Minh Châu là biểu hiện của một nhà văn có tinh
thần trách nhiệm cao” [38, 427].
Mai Hương trong bài Nguyễn Minh Châu và di sản văn học của ông
(2000) bằng cái nhìn tổng quan, đã phân tích những nét chính yếu trong tác
phẩm của Nguyễn Minh Châu, trong đó, tác giả đã giành khá nhiều dung lượng
để bàn về phê bình tiểu luận. Theo tác giả, phê bình tiểu luận của Nguyễn Minh



của nhà văn trong phong trào đổi mới văn học nghệ thuật.


13
Ngoài những bài nghiên cứu trên, gần đây tác giả Trần Thị Lan Phương
đã bảo vệ thành công đề tài Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua
phê bình và tiểu luận (2008). Đây là công trình nghiên cứu có hệ thống về tiểu
luận phê bình Nguyễn Minh Châu. Mặc dầu còn đây đó những hạn chế, song
những ý tưởng, lập luận trong luận văn đã khơi nguồn và nguồn tài liệu tham
khảo cho chúng tôi trong quá trình triển khai thực hiện đề tài.
2.3. Tình hình nghiên cứu Di cảo Nguyễn Minh Châu
Kể từ thời điểm tháng 9/2009 đến nay, thời điểm tác phẩm Di cảo trình
làng văn do Nxb Hà Nội ấn hành, ngoài bài viết tổng quan có tính chất giới thiệu
của Tôn Phương Lan (ngay trong Di cảo) với nhan đề Cái nhìn ngược sáng từ
Di cảo Nguyễn Minh Châu (sau này tác giả đã điều chỉnh một số nội dung và đặt
lại nhan đề Di cảo Nguyễn Minh Châu đăng trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An), vẫn
chưa thấy có công trình nào nghiên cứu về Di cảo của Nguyễn Minh Châu. Bài
viết của Tôn Phương Lan đã khái quát đầy đủ những nội dung cơ bản của Di
cảo, đồng thời đã chỉ ra những đặc điểm nổi bật của con người tác giả.
Bài viết của Tôn Phương Lan tập trung vào các nội dung: khái quát về
Di cảo; Nguyễn Minh Châu với những trang ghi chép về chiến tranh; tinh thần
và ý thức trách nhiệm của Nguyễn Minh Châu đối với văn học. Tác giả Tôn
Phương Lan đi sâu vào phân tích và chỉ ra đặc điểm của ghi chép Nguyễn Minh
Châu ở từng thời kỳ (tựu trung có hai thời kỳ: chủ yếu ghi chép sự kiện và ghi
chép thiên về suy ngẫm, triết lý), cho thấy tầm tư tưởng, nhận thức của Nguyễn
Minh Châu về thực tế chiến tranh, thực tế văn học. Đặc biệt, tác giả bài viết đã
chỉ ra sự chuyển biến từ tư tưởng ngợi ca sang tư tưởng có tính chất phản tỉnh
của tác giả ngay khi chiến tranh chưa kết thúc và khái quát: “Di cảo Nguyễn
Minh Châu không chỉ cho chúng ta thấy được phần nào sự thật của một giai
đoạn lịch sử: cuộc chiến tranh, số phận mỗi con người, số phận dân tộc cũng

sánh cụ thể giữa lý luận phê bình với các tác phẩm và những biểu hiện ngoài
cuộc đời của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
- Di cảo Nguyễn Minh Châu là một tác phẩm có liên quan đến nhiều vấn
đề của văn học, lịch sử một thời cũng như liên quan đến caon người và tác giả
Nguyễn Minh Châu. Tuy nhiên lịch sử nghiên cứu về Di cảo vẫn còn nghèo


15
nhiều vấn đề đặt ra trong Di cảo vẫn chưa được chỉ ra, phân tích cụ thể (nhất là
những chiêm nghiệm của tác giả về chiến tranh, người lính, văn học, nghề văn).
Đây chính là những lý do để chúng tôi chọn Di cảo làm đối tượng cho đề tài
luận văn của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Tập trung khảo sát Di cảo của Nguyễn
Minh Châu để tìm ra hình tượng tác giả.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Ngoài Di cảo của Nguyễn Minh Châu (Nxb Hà
Nội, Hà Nội, 2009) chúng tôi sẽ mở rộng diện khảo sát sang tác phẩm của
Nguyễn Minh Châu và di cảo của một số nhà văn khác để thấy rõ hơn hình
tượng nghệ thuật đặc sắc này.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung vào 3 nhiệm vụ nghiên cứu chính:
4.1. Xác định khái niệm hình tượng tác giả, vị trí nhà văn Nguyễn Minh
Châu trên văn cũng như bối cảnh ra đời Di cảo Nguyễn Minh Châu.
4.2. Khảo sát, phân tích những quan niệm của Nguyễn Minh Châu về đề
tài chiến tranh qua đó thấy được những chuyển biến trong nhận thức tư tưởng
của tác giả.
4.2. Khảo sát, phân tích hình tượng tượng tác giả thông quan quan niệm
của nhà văn về văn học và nghệ văn để thấy được tính chuyên nghiệp của nhà
văn Nguyễn Minh Châu, những trăn trở day dứt về nghề, về văn học.
5. Phương pháp nghiên cứu

sĩ Nguyễn Minh Châu. Ở đó, ta bắt gặp ông với tư cách là một chiến sĩ nếm đủ
mùi gian khó trong chiến trường với ý thức luôn vươn lên để chiến thắng hoàn
cảnh, để làm được gì đó cho có ý nghĩa với cuộc đời, và với tư cách là một nhà
văn có “tham vọng” (tái hiện cuộc chiến tranh, tái hiện những diễn biến trong
đời sống đất nước những năm sau đổi mới, trong đó có mảng đề tài về người
nông dân Việt Nam). Nguyễn Minh Châu đến với văn chương tương đối muộn
và trên tư cách là một người lính. Sự nghiệp của ông bắt đầu là những truyện
ngắn, tuy nhiên, tác phẩm đầu tiên có tiếng vang lại là tiểu thuyết Cửa sông
(1967). Từ sau dấu mốc quan trọng ấy, đều đặn ông cho xuất bản những tác
phẩm khác như: Những vùng trời khác nhau (1970), Dấu chân người lính
(1972), Miền cháy (1977), Lửa từ những ngôi nhà (1977), Những người đi từ


18
trong rừng ra (1982), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983), Bến quê
(tập truyện ngắn, 1985), Mảnh đất tình yêu (1987), Cỏ lau (1989), Trang giấy
trước đèn (1995) và ba tập truyện thiếu nhi.
Trong sự nghiệp viết văn của mình, Nguyễn Minh Châu để lại số lượng
tác phẩm không thật nhiều nhưng khá phong phú về thể loại, bao gồm: truyện
ngắn, tiểu thuyết, bút ký, lý luận – phê bình. Điều đáng nói ở nhà văn xứ Nghệ
này là ở hầu hết các thể loại mà ông tham gia, ông đều có những đóng góp xứng
đáng. Không phải ngẫu nhiên mà giới nghiên cứu và nhà văn đều xác định vị trí
quan trọng của ông trên văn đàn Việt Nam thế kỷ XX. Người ta xem ông là nhà
văn có nhiều đóng góp cho văn học những năm kháng chiến chống Mỹ và thời
kỳ đổi mới. Để nhìn nhận rõ nét hơn những đóng góp của ông cho văn đàn nước
nhà cũng như thấy rõ sự chuyển biến tư tưởng, lộ trình sáng tác của tác giả,
chúng tôi xin điểm qua thành tựu của tác giả trên từng thể tài. Cũng từ đây,
người đọc sẽ có hình dung rõ hơn về đóng góp của ông trên từng thể tài mà ông
tham gia.
Như đã nói từ trên, tác phẩm ông xuất bản đầu tiên là tiểu thuyết (Cửa

yêu đất nước. Những, truyện ngắn sau 1975 thật sự đã khẳng định tên tuổi
Nguyễn Minh Châu với tư cách là người đi tiên phong “mở đường tinh anh và
dũng cảm” trong tiến trình đổi mới văn học. Chiếc thuyền ngoài xa phê phán cái
nhìn một chiều, có phần lãng mạn của cuộc sống; Người đàn bà trên chuyến tàu
tốc hành phê phán cái nhìn lý tưởng hoá; Bức tranh là sự táo bạo, lột cái mặt nạ
giả dối, tệ bạc… Chính những sự táo bạo, quyết liệt của Nguyễn Minh Châu trên
thể tài truyện ngắn mà “cuộc trao đổi về truyện ngắn những năm gần đây” đã
được tổ chức để đánh giá thực chất những đổi mới của Nguyễn Minh Châu. Dù
nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tựu trung các tác giả đều khẳng định truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu sau 1975 đã đề cập những phương diện hiện thực của cuộc
sống sau 1975, một cuộc sống phức tạp, cam go hơn thời chiến tranh. Đặc biệt,
sau 1986, ông viết Bến quê rồi tập Cỏ lau đào sâu những cảnh đời éo le, nghịch
lí, những quan hệ phức tạp giữa con người và con người sau chiến tranh, nhất là
vấn đề người nông dân. Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam, Phiên chợ Giát đều
để lại những dấu ấn đậm nét trong lòng người đọc, nhưng tác phẩm được xem là
có dấu ấn mạnh nhất có lẽ là Phiên chợ Giát bởi đây “là bản di chúc tinh thần
của nhà văn”: cho đến khi trút hơi thở cuối cùng ông vẫn còn đang ôm ủ một dự


20
định viết về cái làng Thơi, nơi ông lớn lên và nhận thấy rõ nét những đặc tính cố
hữu của người nông dân, họ là người đã góp phần làm ra lịch sử nhưng họ cũng
chính là những người bảo thủ, trì trệ trong xã hội. Với các truyện ngắn viết trước
sau thời kỳ đổi mới, Nguyễn Minh Châu đã thật sự là một cây bút truyện ngắn
xuất sắc. Những biểu tượng nghệ thuật được xây dựng, giọng văn ám ảnh người
đọc khôn nguôi, vừa hài hước vừa triết lí, văn bản trở nên có sự di động kỳ lạ,
độ mở của tác phẩm hiện hữu rõ ràng.
Không chỉ dừng lại ở mảng sáng tác, Nguyễn Minh Châu còn đóng góp
lớn cho văn học trên tư cách một nhà văn viết phê binh – lí luận. Tập tiểu luận
Trang giấy trước đèn xuất bản sau khi nhà văn qua đời mà tư tưởng cốt lõi của

ông, tiếp cận và nắm bắt thực tiễn để cho ra đời một tác phẩm có ý nghĩa không
chỉ khẳng định một bộ mặt riêng của người cầm bút mà còn là góp vào sự
nghiệp chung. Chính vì lí do này mà Nguyễn Minh Châu luôn luôn trăn trở làm
thế nào để có một tác phẩm hay, làm thế nào để nâng cao hơn nữa chất lượng
sáng tác. Ông quan tâm đến những vấn đề thuộc về cấp độ lý luận đó là mối
quan hệ giữa văn học và hiện thực, con người, giữa tác phẩm và nhà phê bình,
công chúng, thậm chí giữa sáng tác và nhiệm vụ chính trị, giữa văn học dân tộc
và nhân loại.
Mặc dầu nghề văn là nghề đầy gian khó, phải kinh qua nhiều thử thách,
nhưng ông vẫn đặt ra những yêu cầu đối với nhà văn đó là thâm nhập thực tế,
bám sát thực tế. “Người viết văn là một người rất nặng nợ với đời. Cuộc đời anh
ta là một cuộc đời không bao giờ được phép ngừng lăn lộn trong cuộc sống thực
tế, không bao giờ ngừng nghiên cứu và quan sát xã hội và, trong khi chăm chú
đọc cái “cuốn sách khổng lồ” đó, anh ta phải đặt hết tất cả tâm hồn và trí tuệ của
mình vào, phải tỏ rõ chính kiến và lập trường của mình trước mỗi một sự việc,
mỗi một hoàn cảnh, mỗi một con người” [14, 40]. Sở dĩ nhà văn yêu cầu người
viết phải khắt khe với bản thân mình như vậy là vì chỉ có con đường đó mới
giúp văn chương phản ánh chân thật thực tế. Nó không cho phép nhà văn bôi
đen, tô hồng, bóp méo, hay né tránh, hơn thế, đòi hỏi nhà văn phải khái quát,
chọn lọc, tái tạo. Có lẽ chính vì đòi hỏi như vậy nên trong rất nhiều bài viết nhà
văn đã thẳng thắn trình bày thực trạng văn chương có phần “giả dối” (Trong Sổ
tay viết văn, Sổ tay ghi chép) mà một trong những bài đáng chú ý đó Hãy đọc
lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ. Bài viết là sự cụ thể hoá


22
những trăn trở và trên hết nó cho thấy niềm mong ước của ông là làm thế nào để
có một nền văn nghệ đổi mới về chất, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
Để làm được điều mà văn nghệ nước nhà đang đòi hỏi, nhà văn đề cao cá
tính sáng tạo, năng lực và bản lĩnh của văn nghệ sĩ. Nhưng, điều này vốn ở mức

tác không, có góp được phần nào vào sự phát triển của văn học nước nhà không.
Hơn thế, lý luận phê bình cũng phải xác định cho mình một lập trường vững
vàng. Người làm lý luận phê bình phải nhìn xa trông rộng, phải xác định được
con đường và quan trọng nhất là chân lý mà văn chương cần phải đi đến. Trước
thực trạng đó, ông yêu cầu lý luận phê bình nước nhà phải học tập tiếp thu từ
bên ngoài. Người làm lý luận phê bình phải xác định phê bình lý luận là nơi
người sáng tác tìm về để có sự đồng cảm, chia sẻ. Chỉ có như thế thì mới tránh
được tình trạng “lý luận phê bình và sáng tác ngồi quay lưng lại với nhau hay
gần như thế” [14, 304] và quan trọng hơn là văn học mới sản sinh ra những tác
phẩm có giá trị nghệ thuật đích thực. Ông cũng đòi hỏi nhà phê bình phải tạo
“không khí trao đổi tranh luận trong văn học thật cởi mở và bổ ích” [14, 311],
bởi vì chỉ có như thế, sự thật trong sáng tác, trong lý luận mới được khơi bóc.
Như vậy, có thể thấy, việc nhà văn tìm đến lý luận phê bình cũng là để thể
hiện trăn trở bấy lâu về mối quan hệ giữa sáng tác và lý luận, về thực tế nền lý
luận phê bình nước nhà. Nên nhớ rằng, Nguyễn Minh Châu là người sáng tác, do
đó, cái nhìn của người trong cuộc (sáng tác) là rất quan trọng đối với phê bình,
bởi chính người sáng tác có thể hiểu rõ mối quan hệ, tác động của lý luận phê
bình là như thế nào đối với công việc sáng tác mà bây lâu lớp lớp nhà văn vẫn
thực hiện.
Từ những phân tích trên có thể thấy, bằng những con đường khác nhau
(nói về sáng tác, công tác lãnh đạo văn nghệ, nói về lý luận phê bình), Nguyễn
Minh Châu là nhà văn rất có trách nhiệm với nghề, luôn trăn trở, day dứt về
chức trách của nhà văn, vai trò của văn nghệ sĩ, về vấn đề làm thế nào để nền
văn nghệ luôn tiến về phía trước với những tác phẩm có giá trị cả nội dung lẫn
nghệ thuật, từ đó có thể hoà nhập vào nền văn chương rộng lớn của nhân loại.
1.1.2. Di cảo Nguyễn Minh Châu trong bối cảnh ra đời
1.1.2.1. Di cảo trong đời sống văn học những năm sau đổi mới


24


25
bên mình), người ta mới thấy, ngay khi ở chiến trường Quảng Trị, nhà văn đã có
những suy nghĩ táo bạo, vượt lên so với những ý nghĩ cùng thời.
Với không khí cởi mở của xã hội sau 1986, nhiều nhà văn cũng đã được
thân nhân đem những tài liệu trong di cảo công bố. Đó có khi là những tác phẩm
như Di cảo thơ Chế Lan Viên (3 tập), di cảo thơ Bùi Giáng, di cảo Lưu Quang
Vũ (thơ, nhật ký), Trần Dần – thơ. Có khi là những tác phẩm dạng nhật ký, hồi
ký, tự truyện: Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi (Nxb Văn học, 2005), Tôi
đã trở thành nhà văn như thế nào và Phùng Quán còn đây... của Phùng Quán
(Nxb Văn Nghệ, TPHCM, 2007), Nhật ký chiến trường của Dương Thị Xuân
Quý (Nxb Văn Nghệ, 2007), Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong (Nxb Hội
nhà văn, 2011), Từ chiến trường khu 5 (3 tập) của Phan Tứ (Nxb Văn học,
2011), mới đây nhất là Nhật ký Lê Anh Xuân (Nxb Văn hoá – Văn nghệ, Đại học
KHXH-NV, ĐHQG Hà Nội). Thậm chí là những dạng văn bản lời nói, đó là 53
cuốn băng cassette ghi âm hồi ức của nhà thơ Hoàng Cầm với nhiều chuyện
chưa từng tiết lộ. Hiện công ty Phương Nam đã giữ bản quyền và đang trong quá
trình biên tập, xuất bản. Bên cạnh di cảo của các nhà văn, một loạt nhật ký chiến
tranh của nhiều chiến sĩ cũng “đồng loạt” được công bố, tạo hiệu ứng tích cực
trong xã hội. Trong đó đáng kể là Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc,
Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm và một số nhật ký khác do Đặng Vương Hưng sưu
tầm, biên soạn.
Như vậy, có thể thấy, sau 1986, nhất là khoảng mươi năm trở lại đây, di
cảo đã xuất hiện ngày càng nhiều với nhiều hình thức. Không thể phủ nhận
những tác động tích cực của những “tác phẩm” thuộc loại hình này đối với bạn
đọc văn chương và rộng hơn là toàn xã hội. Chính những “tác phẩm” này đã tạo
nên một đời sống riêng, khá đặc biệt trong đời sống văn hoá – văn nghệ sau
1986. Ở đó, mỗi nhà văn đều để lại những nỗi niềm riêng trong tác phẩm, với
hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, những cách nhìn, cách suy nghĩ, cảm nghĩ riêng. Di
cảo sở dĩ xuất hiện nhiều sau 1986 với nhiều hình thức, theo chúng tôi là do cái


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status