Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
trần thị phơng thủy
Hình tợng tác giả trong ký
nguyễn tuân
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
2
Vinh - 2007
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
trần thị phơng thủy
Hình tợng tác giả trong ký
nguyễn tuân
Chuyên ngành: văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Ngời hớng dẫn khoa học:
TS. Hoàng Mạnh Hùng
2. Lịch sử vấn đề.......................................................................................2
3. Phạm vi và đối tợng ngiên cứu.............................................................7
4. Phơng pháp nghiên cứu.........................................................................8
5. Cấu trúc luận văn..................................................................................8
Chơng 1.
Tổng quan về thể ký và vị trí cuả ký Nguyễn Tuân trong ký
Việt Nam hiện đại...................................................................9
1.1. Giới thuyết chung về thể ký..................................................................9
1.1.1. Những quan niệm khác nhau về thể ký......................................9
1.1.2. Đặc trng cơ bản của thể ký.......................................................12
1.2. Thể ký trong văn học Việt Nam hiện đại...........................................18
1.2.1. Thể ký giai đoạn những năm 1930 - 1945...............................20
1.2.2. Thể ký giai đoạn nhng năm 1945 - 1975.................................22
1.2.3. Thể ký giai đoạn từ sau 1975...................................................28
1.3. Vị trí của ký Nguyễn Tuân trong ký Việt Nam hiện đại...................31
Chơng 2.
Cái nhìn nghệ thuật và sự tự thể hiện của Nguyễn Tuân
trong thể ký............................................................................34
2.1. Khái niệm cái nhìn nghệ thuật trong tác phẩm văn học.....................34
2.1.1. Quan niệm cái nhìn nghệ thuật trong tấc phẩm văn học........34
2.1.2. Vài nét về cái nhìn nghệ thuật trong tác phẩm văn học Việt
Nam hiện đại............................................................................36
2.2. Cái nhìn nghệ thuật trong ký Nguyễn Tuân.......................................38
2.2.1. Cái nhìn hớng về cảnh sắc thiên nhiên....................................40
2.2.2. Cái nhìn hớng về con ngời tài giỏi, đặc biệt............................54
vị trí của Nguyễn Tuân trong lòng công chúng độc giả ở cả Việt Nam và trên
thế giới. Ông thực sự là một nghệ sĩ ngôn từ đa cái đẹp thăng hoa, [1;369]
là một phong cách độc nhất vô nhị, thật sự Việt Nam [1;361]. Sở dĩ có một
địa vị xứng đáng trên văn đàn nh hiện nay chính là vì anh có một cá tính
riêng, một dấu riêng, một cách suy nghĩ riêng, diễn tả riêng [5;320]
1.1. Con ngời Nguyễn Tuân dẫu đã đi vào cõi vĩnh hằng song văn của
ông vẫn còn mãi trong lòng ngời. Những trang văn xuôi của ông in rõ bản sắc
riêng, vừa gai góc vừa tài hoa có sức hút khó cỡng nổi với bất cứ ai đi tìm cái
đẹp, cái thật. Tác phẩm của Nguyễn Tuân không chỉ thể hiện đợc một tình yêu
nghiêm khắc với cái đẹp bình dị của con ngời - cuộc sống - quê hơng, mà còn
khẳng định đợc vị trí của Nguyễn Tuân trên văn đàn, đó là cái mốc đánh dấu
cho sự đổi mới thể văn xuôi tiếng Việt ra khỏi lối văn biền ngẫu và thực sự là
một trong những bậc thầy về ngôn ngữ dân tộc [49;429] Đến với văn chơng
của Nguyễn Tuân, chúng ta học hỏi đợc rất nhiều kinh nghiệm về cách dùng
từ, đặt câu, cách sáng tạo từ mới cũng nh hiểu đợc tinh thần lao động nghệ
thuật nghiêm túc của ông.
1.2. Tài năng của Nguyễn Tuân đối với văn học dân tộc không chỉ đợc
thể nghiệm trên một thể loại văn học nhất định mà đã đợc thể hiện trên rất
nhiều thể loại văn học khác nhau nh: truyện ngắn, tuỳ bút, bút ký, kịch, thơ,
phê bình văn học... ở thể loại nào ông cũng để lại đợc dấu ấn riêng độc đáo
của mình. Văn giới đánh giá ông là nhà tuỳ bút số một của Việt Nam. Và,
9
điều đó quả là không sai bởi Ký Nguyễn Tuân không bắt chớc ai và không ai
bắt chớc đợc [41;10].
Vấn đề hình tợng tác giả đợc thể hiện nh thế nào trong ký Nguyễn Tuân
tuy không mới song nhìn chung cha có một công trình nghiên cứu nào đi sâu
nghiên cứu đề tài này.
1.3. Trong chơng trình giảng dạy văn học ở các trờng phổ thông trung
Liên quan đến ký của Nguyễn Tuân, Nguyễn Đăng Mạnh có bài viết
Thể tài tuỳ bút của Nguyễn Tuân, ông nhận xét trở thành một nhà tuỳ bút,
chỉ chuyên viết tuỳ bút tạo ra cho mình một sự nghiệp văn chơng chủ yếu
bằng bút ký, tuỳ bút có lẽ chỉ có Nguyễn Tuân [37;142]. Tuỳ bút Nguyễn
Tuân đúng là tuỳ bút nghĩa là văn hết sức tự do, mạch văn theo dòng suy
nghĩ miên man, chuyện nọ gọi chuyện kia dờng nh cứ theo trí nhớ lông
bông, tài tử mà liên tởng tạt ngang hoặc có nhảy, bất chấp trình tự thông
thờng của thời gian, không gian. Ông viết Nguyễn Tuân thuộc số những nhà
văn yêu tha thiết và hiểu sâu sắc tiếng mẹ đẻ. Ông sống với từng hình ảnh
khắc hoạ, từng câu viết, từng từ đặt trên từng trang giấy. Đọc Nguyễn Tuân,
nhà tu từ học kiếm đợc nhiều bằng chứng thú vị về những phép ví von, so
sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tợng trng... Nguyễn Tuân có lối mô tả cảnh vật bằng
những liên tởng chuyển đổi cảm giác rất tinh tế [37;143]. Hay một nhận xét
khác Câu văn Nguyễn Tuân cũng có nhiều kiểu kiến trúc đa dạng. Ông là
một nghệ sĩ ngôn từ biết chú trọng tới âm điệu, nhịp điệu của câu văn xuôi...
Nguyễn Tuân có một kho từ vựng hết sức phong phú mà ông đã cần cù tích
luỹ với lòng yêu say mê tiếng mẹ đẻ, mà không phải chỉ tích luỹ những từ sẵn
có. Ông luôn luôn có ý thức sáng tạo từ mới với cách dùng từ mới. Vốn từ
vựng đối với ngời viết văn nh nớc đối với cá. Từ càng giàu có ngời viết càng
thả sức tung hoành. Đọc Nguyễn Tuân, thấy ông nh con cá vùng vẫy thoải
11
mái giữa hồ sâu nớc cả là vì thế... Nhiều từ ngữ thông thờng vào tay ông trở
nên có giá trị hơn, có năng suất hơn [37;143].
Quả thực, đây là những nhận xét xác đáng về phơng tiện sử dụng ngôn
ngữ của Nguyễn Tuân. Chính nhờ tài năng cộng với sự điêu luyện trong sử
dụng ngôn ngữ đã giúp cho Nguyễn Tuân sáng tác những tác phẩm văn học
thật đặc sắc không thể trộn lẫn với bất kỳ ai.
Hà Văn Đức là ngời viết không nhiều về Nguyễn Tuân song bài viết
thời kỳ Bắc Việt Nam xây dựng lại đất nớc sau chiến tranh chống Pháp. ở
đây, có nhiều chi tiết phong phú về đất nớc, con ngời, cuộc sống mới, cũ cần
phải ghi nhớ lấy lại vì chỉ có Nguyễn Tuân là biết ghi. Hay, Vũ Đức Phúc
đánh giá cao Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi cũng lại là vang bóng mới, ngòi bút
Nguyễn Tuân đả kích Mỹ thực là hào hùng và sảng khoái. Theo Vũ Đức Phúc
thành công của ký Nguyễn Tuân đặc sắc nhất là làm cho ta biết nhìn,
Nguyễn Tuân đã đem đến cho ngời đọc một cái nhìn đa chiều, đa diện từ một
điểm nhìn nh ở giữa hình cầu mà nhìn ra bốn phơng, tám hớng, trên trời, dới
đất và sâu dới biển [45;15]. Nguyễn Tuân miêu tả nhân vật chỉ bằng vài nét
chấm phá nhng cũng rất sắc sảo. Văn Nguyễn Tuân viết rất kỹ chọn từ nh
mấy bà nội trợ đảm đang chọn quả. Ký Nguyễn Tuân đợc viết dựa trên một cơ
sở t liệu rất chính xác và tỉ mỉ. Kết thúc bài viết, Vũ Đức Phúc đánh giá
Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ xuất sắc, nhng cha đặt ra nhiều vấn đề nóng
hổi, có những từ tởng sâu xa lôi cuốn đông đảo ngời đọc. Mặt khác, trong ký
Nguyễn Tuân cũng khi khóc, khi cời và thờng nói rõ tình cảm và cảm xúc của
mình nhng dù sao ngời đọc vẫn cảm thấy hơi khô khan, thiếu sôi nổi [45;16].
Bên cạnh những đánh giá của các nhà văn, nhà phê bình văn học còn có
nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu khác ở phơng diện ngôn ngữ, thể loại...
Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết Ký và tiểu luận (étxe) đã nhận xét ký
của Nguyễn Tuân: Dới ngòi bút của Nguyễn Tuân chữ nghĩa đợc thổi hồn,
13
trở nên sống động khác thờng, chính chữ nghĩa thân tình của tác giả đã tạo
ra những trang ký văn học tuyệt bút [20;23]. Và ông ca ngợi sự sáng tạo từ
mới của Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân đã sáng tạo hàng ngàn từ ngữ mới và cấp
hộ chiếu vào ngôn ngữ văn học mang đậm phong cách Nguyễn Tuân.
Bài viết Thể loại Ký và Nguyễn Tuân của Nguyễn Lai, đợc xem là bài
viết đặc sắc. Một mặt tác giả đánh giá thể loại ký văn học nói chung. Theo
ông thể loại ký bao gồm nhiều tiểu loại khác nhau nh: kí sự, phóng sự, bút ký,
nghiệp Nguyễn Tuân nh: Tạ Tỵ, Tôn Thảo Miên, Thạch Lam, Vũ Bằng, Trơng
Chính, Phan Cự Đệ, Vơng Trí Nhàn, Ngọc Trai,... Các công trình về Nguyễn
Tuân rất nhiều song nhìn chung cha có một công trình nào thực sự đi vào tìm
hiểu Hình tợng tác giả thể hiện trong ký Nguyễn Tuân. Thờng chỉ thấy mỗi
ngời nghiên cứu chỉ chú ý đến một vài khía cạnh tiêu biểu của Nguyễn Tuân.
Trên cơ sở thành tựu của những ngời đi trớc, ngời viết luận văn muốn
cung cấp cho độc giả một cái nhìn khái quát, toàn diện và cụ thể hơn về t tởng,
cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Tuân trong thế ký. Từ đó, đi vào tìm hiểu ngôn
ngữ và giọng điệu nghệ thuật trong ký Nguyễn Tuân.
3. Phạm vi và đối tợng nghiên cứu
3.1. Phạm vi nghiên cứu
Sáng tác của Nguyễn Tuân chia làm hai thời kỳ: Trớc và sau Cách mạng
tháng Tám năm 1945. ở thể loại ký, phần lớn đợc Nguyễn Tuân sáng tác sau
1945. Luận văn của chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát những bài ký thật đặc sắc
của Nguyễn Tuân in trong hai tập Tuyển tập Nguyễn Tuân (chủ yếu là những
tác phẩm in sau 1945), NXB Văn Học, 2004.
3.2. Đối tợng nghiên cứu
15
Với sự xác định là khảo sát hình tợng tác giả trong ký Nguyễn Tuân đề
tài này sẽ tập trung tìm hiểu các phơng diện sau: cái nhìn nghệ thuật và sự tự
thể hiện, ngôn ngữ và các sắc thái giọng điệu trong ký Nguyễn Tuân.
4. Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đợc những yêu cầu của đề tài, luận văn chúng tôi sẽ sử
dụng các phơng pháp cơ bản sau đây:
- Phơng pháp phân tích, tổng hợp.
- Phơng pháp so sánh, đối chiếu.
- Phơng pháp phân loại, thống kê.
5. Cấu trúc luận văn
tiên của văn học Việt Nam nó không chỉ là đỉnh cao, là sự hoàn thiện thể ký
thời trung đại mà còn là mực thớc cho lối viết ký sau này [50;73].
Và, bên cạnh Thợng kinh kí sự của Lê Hữu Trác, còn xuất hiện một số
tác phẩm ký có giá trị khác nh: Vũ trung tuỳ bút (Phạm Đình Hổ)...
Thể ký ở Việt Nam chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ XIX trở đi,
đặc biệt là từ sau Cách mạng tháng Tám. Nó trở thành một thể loại cơ động,
linh hoạt, nhạy bén trong việc phản ánh hiện thực ở cái thế trực tiếp nhất, ở
những nét sinh động va tơi mới nhất. Và, tác phẩm ký vừa có khả năng đáp
ứng đợc những yêu cầu bức thiết của thời đại đồng thời vẫn giữ đợc tiếng nói
vang xa sâu sắc của nghệ thuật.
Trong văn học, sự có mặt của các thể ký văn học đã góp phần làm cho
nền văn học cân đối, nhiều màu sắc và giàu tính chiến đấu.
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thể ký. Mỗi nhà viết ký
thờng tự đa ra một quan niệm riêng cho mình khi đặt bút viết ký.
Trên thế giới cũng có nhiều quan niệm khác nhau về thể ký. Guilaiep
cho rằng Ký là một biến thể của loại tự sự [30;420]. B.Pôlêvôi là một tác giả
17
viết ký quen thuộc, ông xem bút ký là thể loại văn học chiến đầu có hiệu lực
cao.Theo ông, Ký văn học là một hoạt động hỗ trợ cho báo chí và cũng mang
tính chất báo chí. Còn Ilia Côchencô xem Ký là thể loại nằm trong cuộc kéo
co giữa văn học và báo chí [14;214].
ở Việt Nam, có rất nhiều nhà văn viết ký nh: Hoàng Phủ Ngọc Tờng,
Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Lạp... Thế nhng, mỗi nhà văn lại có
những quan niệm khác nhau về thể ký.
Chế Lan Viên nói: Nhiều khi ta lại định nghĩa ký quá rộng. Tất cả
những cái gì viết về ngời thật, việc thật đều là ký tuốt [30;421]. Theo Tô Hoài
thì Ký cũng nh truyện ngắn, truyện dài, hoặc thơ, hình thù nó đấy nhng vóc
dáng nó luôn luôn đổi mới, đòi hỏi sáng tạo và thích ứng. Cho nên càng
chủ yếu là văn xuôi tự sự... Ký khác với truyện ở chỗ trong tác phẩm ký không
có một xung đột thống nhất, phần khai triển của tác phẩm chủ yếu mang tính
miêu thuật. Ký thờng đề cập không phải vấn đề sự hình thành tính cách của
cá nhân trong tơng quan với hoàn cảnh mà là các vấn đề trạng thái dân sự và
trạng thái tinh thần của bản thân môi trờng xã hội... [4;179]
Hoàng Ngọc Hiến trong cuốn Năm bài giảng về thể loại viết: Trong
nghiên cứu văn học Việt Nam đơng đại ký là một thuật ngữ đợc dùng để gọi
tên một thể loại văn học bao trùm nhiều thể hoặc nhiều tiểu loại : bút ký,
hồi ký, du ký, ký chính luận, phóng sự, tuỳ bút, tản văn, tạp văn, tiểu phẩm
(étxe)... . [20;5].
Từ những quan niệm trên đây ta nhận thấy rằng mỗi nhà văn, mỗi nhà
nghiên cứu đều có một cách suy nghĩ riêng về thể ký. Và, từ những ý kiến đã
nêu trên đây chúng ta có thể đi đến một nhận xét sơ bộ về đặc điểm chung của
thể ký nh sau: Các thể ký văn học chủ yếu là những hình thức ghi chép linh
hoạt trong văn xuôi với nhiều dạng tờng thuật, miêu tả, biểu hiện, bình luận về
những sự kiện và con ngời có thật trong cuộc sống với nguyên tắc phải tôn
19
trọng tính xác thực và chú ý đến tính thời sự của đối tợng miêu tả. Viết ký
không phải là ghi chép sự việc và con ngời một cách máy móc và tự nhiên chủ
nghĩa. Trong ký ngời viết có thể thay đổi ít nhiều trật tự tự nhiên vốn có của
đối tợng phản ánh, sắp xếp lại một số tình tiết miễn là không xáo trộn và thay
đổi bản chất các mối quan hệ của đối tợng và lôgich nội tại của bản thân đối tợng.
1.1.2. Đặc trng cơ bản của thể ký
Từ những quan niệm trên đây chúng ta có thể rút ra một số đặc trng cơ
bản của thể ký nh sau:
1.1.2.1. Ký là thể loại nằm giữa văn báo chí và văn học
Sở dĩ xem ký là thể loại có đặc điểm gần giống với báo chí là bởi lẽ ký
cũng nh báo chí thờng viết về cuộc đời thực tại, về ngời thật việc thật. Ký
Phủ Ngọc Tờng có đoạn viết: Cây mắm tên khoa học là Avicennia, là họ cây
tiên phong của rừng sác, đến c ngụ sớm nhất trên giồng đất vừa mới đợc bồi
đắp. Chính vì thế lịch sử cần ghi nhớ công lao của cây mắm nh những tiền bối
của con ngời trong quá trình mở đất về phơng Nam. Cây mắm già nhất có thể
đến hai mơi mét. Rễ mắm phát triển nhiều dạng tuỳ theo chỗ đất, có lúc mọc
thẳng, lúc bò ra thành chùm rậm rạp, có nơi nh ở Bãi Bùn, rễ mắm lại tua tủa
đâm thẳng lên không, mặt đất trông nh một rừng chông dày đặc. Dạng rễ này
gọi là rễ phổi (phế căn) nhờ đó cây mắm có thể thở đợc trong vùng đất còn thờng xuyên bị ngập nớc. Hàng năm vào tháng bảy, mắm nở hoa vàng, khoảng
một tháng trở đi thì kết trái. Trái mắm từng chùm cỡ bóng tay, ở trong ruột có
cái lõm màu xanh giống hình quả tim, có thể ăn đợc... Gỗ mắm màu trắng
xám, dùng làm gỗ xài việc trong nhà cũng còn dùng làm ván ép. Củi mắm
dùng để đốt lò gạch hơi gỗ mắm phả vào đất sét nung, đem lại cho gạch ngói
một màu đỏ tơi rất đẹp, đắt giá trên thị trờng [61;40]. Đoạn văn đã đáp ứng
21
đợc nhu cầu nhận thức của độc giả. Chỉ trong vòng vài dòng mà cung cấp khá
nhiều tri thức về lai lịch, nguồn gốc và đặc điểm chung của cây mắm - một
đặc sản của rừng ngập mặn ở miền Nam. Những tri thức này hết sức chính xác
đòi hỏi ngời viết ký phải có đầu óc nghiên cứu và thực tế mới biết đợc. Đoạn
tiếp theo đợc viết bằng một t duy khác, t duy nghệ thuật, tác giả đã thổi hồn
vào cây mắm Đó là loài cây kiên cờng nhất của rừng sác miền Nam, có thể
đơng đầu nổi với cuộc chiến tranh hoá học của giặc Mỹ. Sau những trận ma
khai quang của đế quốc Mỹ, mọi loài cây rừng khác đều bị huỷ diệt, chỉ riêng
rừng mắm thì rụng lá để rồi nảy mầm và xanh tơi trở lại [61;40].
Trong thể loại ký, những yếu tố của truyện có đặc điểm: Ký viết về ngời thật, việc thật là chủ yếu nên ngời viết ký khỏi quan tâm đến việc gây ảo
giác thực tại trong việc xây dựng hình tợng. Trong ký, một khi cảm hứng
chính luận là cốt yếu thì những yếu tố của truyện chỉ có vai trò chức năng, làm
căn cứ sự kiện, làm bàn đạp thực tại cho t tởng chính luận.
Thể loại ký cho phép phác hoạ những hình tợng nhân vật không hoàn
thuyết, thơ, kịch... thì ký là thể loại văn học có cấu trúc khá cơ động với nhiều
biến thái linh hoạt. Từ sự thật của đời sống đến tác phẩm ký cuộc sống vừa giữ
những phẩm chất cơ bản của điển hình xã hội lại vừa tiếp nhận đợc thêm nhiều
sáng tạo mới.
1.1.2.3. Thể ký có quy mô đa dạng
Trong quá trình tiếp cận cuộc sống, ngời viết ký quan tâm đến nhiều
mặt đời sống trong tính tự nhiên của đối tợng, không phụ thuộc vào thể loại.
Có những bài ký rất dài nh những thiên tiểu thuyết, chẳng hạn: Ngời mẹ cầm
súng (Nguyễn Thi)... lại có những bài ký lớn trong đó bao gồm nhiều bài viết
ngắn nh: Sông Đà của Nguyễn Tuân, Việc làng của Ngô Tât Tố, Cát bụi chân
ai của Tô Hoài... Tuy nhiên, lại có những bài ký hết sức ngắn gọn chỉ một vài
trang nh: ký sự Chiến dịch Biên giới của Nguyễn Huy Tởng, Đám cới giữa
trận địa pháo của Nguyễn Tuân...
23
Ký khác với một số thể loại khác ở chỗ, trong tác phẩm ký không có
xung đột thống nhất, phần khai triển của tác phẩm chủ yếu mang tính miêu
thuật, ký thờng đề cập không phải vấn đề sự hình thành tính cách của cá
nhân trong tơng quan với hoàn cảnh mà là các vấn đề trạng thái dân sự (kinh
tế, xã hội, chính trị) và trạng thái tinh thần (phong hoá đạo đức) của bản thân
môi trờng xã hội [19;150].
Thể ký có quy mô đa dạng là một sự phù hợp trong việc mở rộng khả
năng sáng tạo thích ứng với tính chất phong phú của đối tợng miêu tả. Và, tuỳ
theo hình thức khác nhau của đối tợng miêu tả, nghệ thuật ký có cách xử lý và
tái hiện riêng cho phù hợp. Ký cũng không gò bó ngời viết trong một phơng
thức biểu hiện và một phong cách duy nhất mà mở rộng, thừa nhận nhiều hình
thức và nhiều phong cách sáng tạo.
Do quy mô đa dạng vì thế các thể ký văn học là nơi quy tụ và chọn lọc
vào cửa ngõ nghệ thuật nhiều ngọn nguồn hoạt động ý thức và ghi chép về đời
Kỹ nghệ lấy Tây của (Vũ Trọng Phụng) là tác phẩm viết về sự thật xảy
ra tại làng Me Tây ở Thị Cầu (Bắc Giang). Vì cuộc sống cơm áo và bị cùng đờng nên một số phụ nữ Việt Nam đã chấp nhận làm nghề mạt hạng đấy là
nghề lấy Tây theo kiểu hợp đồng. Qua đấy, tác giả đã phơi bày lối sống tạm
bợ ăn xổi ở thì của những cặp vợ chồng hờ.
ở thể ký, tác giả có quyền bộc lộ trực tiếp nỗi niềm của mình
[25;122]. Tác phẩm Cái đêm hôm ấy... đêm gì của Phùng Gia Lộc viết về cuộc
sống nông thôn và ngời nông dân sau 1975. Tác giả đã tố cáo phê phán bọn cờng hào mới cố tình làm sai chủ trơng, chính sách của Đảng. Đẩy đời sống
nông dân đến cùng cực, điêu đứng. Đằng sau thái độ phê phán ấy tác giả
muốn kích động mọi ngời đấu tranh thủ tiêu chế độ mới làm cho nó trong sạch
hơn.
Nh vậy, khác với truyện ngắn, tiểu thuyết, ký không nhằm vào việc
miêu tả quá trình hình thành tính cách cá nhân trong tơng quan với hoàn cảnh.
25
Những câu chuyện đời t khi cha nâng lên thành vấn đề xã hội thì cũng không
phải là vấn đề quan tâm của ký. Đối tợng nhận thức thẩm mĩ của ký thờng là
một vấn đề, một trạng thái đạo đức, phong hoá xã hội, một trạng thái tồn tại
của con ngời hoặc những vấn đề nóng bỏng của xã hội. Ký chỉ dừng lại ở
những sự thật đời sống cá biệt chứ cha xây dựng đợc hình tợng mang tính khái
quát.
Và, cũng từ đặc trng này cho thấy Cái tôi trong tác phẩm ký không
mang tính chất ghi chép phản ánh một cách thụ động mà ngợc lại rất năng
động sáng tạo trong mọi tình huống. Cái tôi trong ký vừa phải góp phần bảo
đảm tính sát thực của đối tợng miêu tả vừa phải bồi đắp cho hình tợng nghệ
thuật phong phú sinh động [14;226].
Trong văn học Việt Nam hiện đại, ký là thể loại thực sự linh hoạt, năng
động bắt kịp với nhịp điệu cuộc sống. Cuộc sống càng bề bộn, phức tạp bao
nhiêu thì ký lại càng phát huy tính tích cực, nhiều chiều bấy nhiêu. Ký trở
thành thể loại ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống văn học. Nó thúc