1
bộ giáo dục & đào tạo
Trờng đại học vinh
====*&*====
nguyễn Bá Tài
hình tợng tác giả trong
hồi ký tô hoài
chuyên ngành : văn học việt nam
mã số : 60.22.34
luận văn thạc sĩ ngữ văn
ngời hớng dẫn khoa học :
TS. hoàng mạnh hùng
vinh - 2008
2
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Tô Hoài là nhà văn lớn trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Đến
nay, ông đã bớc qua tuổi 88, vợt xa ngỡng cổ lai hy. Với hơn 68 năm viết
trong một đời ngời, ông đã công bố gần 180 đầu sách ở nhiều đề tài, thể loại
khác nhau. Xét về mặt số lợng, tác phẩm của Tô Hoài xếp vào loại bậc nhất
trong các nhà văn Việt Nam hiện đại. Đó là những đóng góp rất đáng trân
trọng. Nhng điều đáng quý hơn là ở mỗi đề tài, thể loại khác nhau, nhà văn lại
Sự nghiệp văn học của Tô Hoài thật lớn lao về tầm vóc, đa dạng, phong
phú về thể loại. Việc nghiên cứu một cách công phu, toàn diện đối với sự
nghiệp văn học của ông là một việc làm rất khó khăn và phức tạp. Đứng từ
nhiều góc nhìn và quan điểm khác nhau, đã có khá nhiều bài viết công phu
giới thiệu, đánh giá về hồi ký của Tô Hoài.
Vũ Ngọc Phan là ngời phát hiện, đỡ đầu cho Tô Hoài vào nghề văn. Tuy
nhiên, khi viết về Tô Hoài thì ông chủ yếu bàn về tiểu thuyết và truyện ngắn.
Tiểu thuyết của Tô Hoài cũng thuộc loại tiểu thuyết tả chân nh tiểu thuyết
của Nguyễn Công Hoan, nhng Tô Hoài có khuynh hớng về xã hội [37;53].
Ông cho thấy, cùng với năng lực miêu tả tinh tế thế giới loài vật, Tô Hoài còn
là nhà văn có biệt tài viết về những cảnh nghèo nàn của dân quê. Nhà phê
bình cũng sớm phát hiện chất giọng trào lộng và khinh bạc ở Tô Hoài.
Trên Tạp chí Văn học, 6- 1980, tác giả Vân Thanh đã có những nhận
xét về giọng điệu, âm hởng chung của hồi ký Tô Hoài: Cỏ dại với giọng điệu
trầm buồn, đôi khi pha vị chua xót kể lại quãng đời thơ ấu của thằng Cu Bởi là
hình bóng xa gần của tác giả. Đến Tự truyện vẫn mang một màu xám, một
điệu buồn thấm vào tất cả từng tế bào, từng chân lông của cơ thể xã hội
[61;1].
Phong Lê trong bài viết Tô Hoài, sáu mơi năm viết có những nhận
xét thiên về ấn tợng về hồi ký của Tô Hoài: Đọc Cỏ dại rồi đọc Tự truyện
trong khoảng cách hơn ba mơi năm tôi không thấy có sự hụt hẫng hoặc ngắt
4
quãng nào trong mạch hồi ức của Tô Hoài. Vẫn một trí nhớ tuyệt diệu. Một
cảm hứng nhất quán. Một sự sống không chút vơi cạn trong kho hồi ức. Và
một cái nhìn vừa ẩn náu bên trong vừa biểu lộ ra ngoài [37;40]. Đến Cát bụi
chân ai và Chiều chiều ngời đọc luôn đợc cuốn hút bởi những cái gì mới mẻ,
không trùng lặp, không nhạt mờ, không kém sút trong cái kho kỉ niệm của nhà
Hoài đã nhìn các nhân vật cỡ bự trên văn đàn từ một cự li gần.
Nhà nghiên cứu Đặng Tiến khi đọc Chiều chiều đã nhận xét: Nói
chung, kể cả những truyện h cấu, truyện lịch sử Tô Hoài viết cái gì cũng ra tự
truyện [58;1]. Tức là viết cái gì thì Tô Hoài cũng đặt nó dới góc nhìn riêng,
biến nó trở nên gần gũi với chính mình.
Cũng bàn về hồi ký của Tô Hoài, một số ngời cho rằng nhà văn này hơi
thiếu tâm sự, thiếu những điều ký thác và nâng lên một mức nữa là thiếu t tởng
nghệ thuật. Về vấn đề này, Vơng Trí Nhàn rất có lý khi đa ra nhận xét trong
lời bạt Tô Hoài và thể hồi ký, ông cho rằng: Nhìn toàn bộ những gì ông đã
viết, nhất là đến với mảng văn xuôi đòi hỏi sự xuất hiện trực tiếp của nhà văn
là thể hồi ký, thì ngời ta phải nói ngợc lại. Ông có thế giới riêng của mình, và
bàng bạc trên những trang viết là một cách cảm riêng về cuộc đời, một niềm
tâm sự đau đáu. Hãy nhìn vào một trờng hợp Chiều chiều. Mấy chơng đầu đã
giỏi trong kể chuyện và miêu tả, song phải đến chơng cuối kia thì cái triết lý
ẩn chứa ở trên mới hiện ra dới một ánh sáng lung linh khác hẳn [46;941].
ở cấp độ báo cáo khoa học, khoá luận, luận văn có thể kể đến một số
công trình của Nguyễn Văn Quang: Mảng chân dung văn học trong sáng tác
của Tô Hoài; Diêm Thị Thu Hà: Chất tiểu thuyết trong hồi ký Cát bụi chân
ai; Lê Sử qua Đóng góp nghệ thuật của Tô Hoài qua hai tập hồi ký Cát bụi
chân ai và Chiều chiều.
Từ những nhận định khái quát và sự tóm tắt trên, bớc đầu đã tiếp cận đợc một số vấn đề cơ bản từ các khía cạnh khác nhau. Từ những nhận định
thiên về cảm giác, ấn tợng đến những luận văn đợc nghiên cứu công phu, giải
quyết đợc những vấn đề cơ bản nh sự chuyển biến về t duy nghệ thuật, những
đóng góp về nội dungTuy nhiên, những vấn đề cơ bản khác nh cái nhìn
6
nghệ thuật, sự tự thể hiện của tác giả, giọng điệu và ngôn ngữ trong hệ thống
2- Hồi ký (gồm Cỏ dại, Tự truyện, Cát bụi chân ai), Nxb Hội Nhà văn,
Hà Nội,2005.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận và tài liệu trham khảo, luận văn gồm 3 chơng:
Chơng 1. Giới thuyết về thể loại hồi ký và vị trí hồi ký trong sáng tác
của Tô Hoài.
Chơng 2. Cái nhìn nghệ thuật và sự tự thể hiện của Tô Hoài trong hồi
ký.
Chơng 3. Giọng điệu và ngôn ngữ trong hồi ký Tô Hoài.
Chơng 1
8
Giới thuyết về thể loại hồi ký và vị trí hồi ký
trong sáng tác của Tô Hoài
1.1. Thể loại hồi ký trong loại hình ký
1.1.1. Ký một loại hình văn học đặc biệt
Loại hình ký xuất hiện trong lịch sử văn học từ rất sớm, cùng với thời
gian ký ngày càng khẳng định vị thế của mình trong đời sống văn học. Tuy
nhiên sự lí giải mĩ học về khái niệm ký là cha có hoặc không đầy đủ, hoặc
không đúng [40;421]. Nhà nghiên cứu Xô Viết Rbinxép cho rằng về ký,
thực tế là không thể nói đến cái gì xác định đợc đặc trng thể loại của nó
[40;421]. Hiện nay cũng có rất nhiều quan niệm khác nhau về ký. Xuất phát từ
những quan niệm trên về loại hình ký, chúng tôi cho rằng ký là một loại hình
văn học đặc biệt và phức tạp.
Trớc hết ở cách gọi tên của nhà văn đối với tác phẩm của mình. Từ thời
cổ, trung đại ở phơng Đông cũng nh phơng Tây đã xuất hiện ký. Đất nớc Hy
Lạp cổ đại có hồi ức của Krê-nô-phôn và Xô-cơ-rát và những ghi chép của
thực việc thực đều là ký [40;421].
Nhà văn Tô Hoài viết Ký cũng nh truyện ngắn, truyện dài hoặc thơ,
hình thù nó đấy, nhng vóc dáng nó luôn luôn đổi mới, đòi hỏi sáng tạo và
thích ứng, cho nên càng chẳng nên trói buộc nó vào một cái khuôn [23; 33].
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa Ký là thể văn tự sự viết về ngời thật,
việc thật, có tính chất thời sự, trung thành với hiện thực đến mức cao nhất
[50;520].
Từ điển thuật ngữ văn học viết Ký là một loại hình văn học trung gian,
nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự nh bút
ký, hồi ký, du ký, phóng sự, bút ký, nhật ký, tuỳ bút [11;162].
Từ những quan niệm trên của các nhà văn, nhà nghiên cứu, chúng tôi đã
khái quát một số đặc trng cơ bản của thể ký nh sau:
Thứ nhất, ký trần thuật những ngời thật, việc thật.
Một bài ký hay trớc hết phải tái hiện đợc hiện thực chân chính những
nhân vật tạo nên phải là những con ngời thật trong cuộc sống hiện thực, những
10
sự việc mô tả phải dính chặt với địa điểm đúng nh ngời ta thờng nói: Ký sự có
địa chỉ chính xác của nó [40;426].
Do trần thuật về ngời thực việc thực, tác phẩm ký văn học có giá trị nh
những t liệu lịch sử quý giá, có ý nghĩa và tác dụng rất lớn ngay đối với sự
sáng tạo nghệ thuật về sau.
Đọc hồi ký của Tô Hoài chúng ta thấy ngồn ngộn biết bao nhiêu t liệu
hiện thực: Về tuổi thơ hoang dại của Bòi Cẩu (biệt hiệu của gia đình đặt cho
Tô Hoài lúc còn bé), cuộc sống của chàng thanh niên ven thành trong giai
đoạn đất nớc đang chuyển mình một cách dữ dội. Không chỉ có vậy, nhà văn
còn kể biết bao chuyện về chuyện nghề, chuyện đời của văn nghệ sĩ lúc bấy
giờ, rồi truyện ông làm đại biểu khu phố, truyện ở trờng Đảng Nguyễn ái
Nếu ký muốn với tới một giá trị văn hoá đích thực thì không thể nằm ngoài quy
luật của nghệ thuật. Mà nghệ thuật thì không đặt ra vấn đề chính xác.
Bên cạnh đặc trng cơ bản nhất của ký là trần thuật ngời thật việc thật
còn có một số đặc trng khác ký không nhằm vào việc miêu tả quá trình hình
thành tính cách của các nhân vật trong tơng quan với hoàn cảnh [11;163].
Đối tợng nhận thức thẩm mỹ của ký thờng là một trạng thái đạo đức thể hiện
qua những cá nhân riêng lẻ, một trạng thái tồn tại của con ngời hoặc những
vấn đề xã hội nóng bỏng. Ký có quy mô đa dạng, linh hoạt trong cách biểu
đạt.
Từ việc phát hiện định danh đến việc đa ra những đặc trng của loại hình
ký là việc làm không hề đơn giản nên chúng tôi tạm gọi ký - một loại hình văn
học đặc biệt.
1.1.2. Hồi ký tính chân thực và sự h cấu
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Hồi ký là một thể loại thuộc loại hình
ký, kể lại những biến cố đã xẩy ra trong quá khứ mà tác giả là ngời tham dự và
chứng kiến [11;152]. Trong cuốn Từ điển tiếng Việt định nghĩa về hồi ký
thuộc thể ký ghi lại những điều còn nhớ sau khi đã trải qua, đã chứng kiến sự
việc [50;459].
12
Từ những định nghĩa trên cho thấy, những vấn đề đợc phản ánh trong
hồi ký thuộc bình diện quá khứ mà ngời viết kể lại dựa trên cơ sở những ấn tợng và hồi ức trực tiếp của mình.
Chẳng những từ trớc đến nay không có mà từ nay về sau cũng không có
một văn bản nào quy định ai đợc viết hồi ký. Song ngời ta vẫn hiểu ngầm với
nhau đó là một thể loại hết sức cao quý, một cái gì chỉ những nhân vật nổi
tiếng trong xã hội mới có quyền viết [31;932]. Những câu chuyện đợc ngời
viết kể lại thờng là những sự việc, sự kiện trọng đại, tiêu biểu khiến cho ngời
viết nhớ lâu nhất và sâu sắc nhất.
Phạm vi h cấu ở trong hồi ký không phải vấn đề cơ bản nhất nhng lại có
ý nghĩa then chốt. Khi trần thuật những thành phần xác định nh tên tuổi, lai
lịch, ngoại hình, nguồn gốc gia đình, ngọn nguồn văn hoá, thành tích những
quan hệ xã hội cơ bản, những diễn biến chính của sự việc ở những thành
phần xác định này, ngời viết ký phải phấn đấu đến mức xác thực tối đa [40;
431]. H cấu đợc quyền sử dụng rộng rãi ở những thành phần không xác định
nh nội tâm nhân vật ký không nhằm vào việc miêu tả quá trình hình thành
tính cách của các nhân vật trong tơng quan với hoàn cảnh [11;163] nhng nội
tâm nhân vật, các trạng thái tâm lý đợc các nhà văn chú ý. H cấu trong việc
miêu tả tâm lý nhân vật là có thể bởi không thể nào xác định đợc nội tâm một
cách tờng tận và chính xác. Ngời viết có thể căn cứ vào tính cách chung để tởng tợng về diễn biến nội tâm của họ.
Bên cạnh đó, cảnh sắc thiên nhiên trong cảm xúc trữ tình của nhân vật
cũng có thể h cấu bởi thiên nhiên nh bức phông nền, một cái móc để tác giả
khoác bức tranh tâm trạng của nhân vật lên đó tạo nên một mối quan hệ biện
chứng giữa tâm cảnh và ngoại cảnh theo kiểu ngời buồn cảnh có vui đâu bao
giờ.
Một yếu tố nữa có thể h cấu trong hồi ký chính là các nhân vật phụ. Họ
thờng gắn liền với những tình tiết, sự kiện, t tởng có tính chất phụ trợ, bổ sung.
Đồng thời nhân vật phụ còn là bộ phận không thể thiếu đợc nhà văn miêu tả
nhằm tạo nên một bức tranh đời sống hoàn chỉnh, độc đáo và sinh động cho
tác phẩm.
1.2. Quan niệm của Tô Hoài về hồi ký
14
1.2.1. Đối với tôi hồi ký là một cuộc đấu tranh t tởng để viết
Vấn đề đặt ra ở chỗ tại sao viết hồi ký là một hành trình đấu tranh t tởng? Bản chất của vấn đề là sự thật, một cụm từ đợc nhà văn nhắc đi nhắc lại
rất nhiều trong thể loại hồi ký.
Sự thật hôm nay cha hắn đã là sự thật của ngày mai, sự thật của ngời
hình ảnh tác giả có những lúc phơi bày thật trần trụi. Có lần ông kể bị nhà văn
Nguyên Hồng mắng, khi tác giả Sóng gầm thấy tác giả Dế Mèn trở cờ bằng
việc viết lời thú nhận Nhìn lại một số sai lầm trong công tác trên một báo nọ.
Khi ấy, nhà văn Nguyên Hồng đã chỉ thẳng mặt nhà văn Tô Hoài mà mắng
rằng Tiên s mày, thằng Câu Tiễn [31;491]; Nh Phong có lần phê phán rất
nặng cái tật làm ra vẻ mình thông minh của Tô Hoài, còn gọi Tô Hoài là
thằng ngoại ô láu cá, văn chơng đẽo gọt [31;479]. Trớc hết cần phải khẳng
định rằng không phải ai cũng làm đợc nh ông, hẳn phải bản lĩnh, từng trải và
nghiền ngẫm kỹ Tô Hoài mới viết về mình nh vậy.
Vì sự thật, Tô Hoài với tâm thế của một ngời ung dung lắm lúc phiếm
hài đã nhẩn nha cho những nhân vật, cho những vùng đất đợc sống lại nh tất
cả đã từng có mặt trên đời này. Không chỉ nói về các gơng mặt văn chơng lúc
phiêu bồng cùng Văn Cao, Nguyễn Tuân, Phùng Quán, khi ơng chớng Phan
Khôi, mà ngay cả một cụ già tiểu vặt vỉa hè cũng đợc bác Tô mặc nhiên ghi
nhớ. Cụ già lụ khụ, có hành động làm Hà Nội phát ngợng một thời thuở ấy
hoá ra là Vi Văn Định, nguyên tổng đốc Hà Đông khét tiếng hà khắc, đến độ
buổi tra ai lê guốc ngoài đờng mà trong dinh nghe tiếng, tổng đốc Vi Văn
Định cho lính bắt vào đánh [29;221]. Nhân vật nh từ cổ tích ai hay lại nhỏ
bé, hiều khô, cứ ngỡ rằng nhân vật ấy chỉ còn le lói trong ký ức của một số ít
ngời, không ngờ vẫn gặp lại cụ trong trang văn của Tô Hoài với một sắc thái
lạ.
Có ý kiến cho rằng Tô Hoài đã có lúc đập vỡ thần tợng của họ khi
viết về các nhà văn. Với Tô Hoài, ông vẫn giữ cái nhìn trung thực về những ảo
mộng của Nguyễn Tuân, những bê tha của Nguyễn Bính, tình trai của Xuân
16
Diệu Nguyễn Tuân với giấc mộng hão huyền về cung cách sống và viết
sang trọng của một nhà văn hiện đại cỡ quốc tế, cuối cùng đã nhận ra cái
hồi ký là một lần đấu tranh t tởng để nói ra sự thật. Tô Hoài đã đấu tranh để vợt lên chính mình, để mở rộng tầm mắt cho tất cả sự thật ùa vào, để dũng cảm
nói ra sự thật, kể cả những sự thật tởng đào sâu chôn chặt. Ông viết Cỏ dại
khi mới ngoài 20 tuổi, viết Tự truyện khi ngoài 50 tuổi, Cát bụi chân ai và
Chiều chiều khi đã ở trên dới ngỡng cổ lai hy. Có ngời cho rằng ông nói ra
nhiều sự thật ấy khi ông đã già nhng không phải nh vậy. Ông có quan niệm
của riêng mình sự thật là đã đẹp rồi. Đã là cái đẹp rồi thì cần gì phải thêm
bớt, tô vẽ làm gì sự thật ấy. Vợt lên chính mình để trung thành với sự thật, Tô
Hoài đã tạo ra một tiếng nói riêng ở thể hồi ký, không thể lẫn với bất kỳ nhà
văn nào.
1.2.2. Đề cao tính sáng tạo trong hồi ký
Tô Hoài quan niệm hồi ký không phải là một thể loại đàn em trong văn
học, trong sáng tạo văn học không thể so sánh các thể loại theo lối định mức.
Hồi ký rất cần đến sự sáng tạo của ngời nghệ sĩ ký cũng nh truyện ngắn,
truyện dài, hoặc thơ, hình thù nó đấy nhng vóc dáng nó luôn đổi mới, đòi hỏi
sự sáng tạo và thích ứng, cho nên càng chẳng nên trói nó vào cái khuôn
[23;33]. Có những sự thật đã đi qua, tác giả có thể là ngời trong cuộc hoặc ngời chứng kiến nhng sự việc đã xảy ra trong quá khứ nên khi ghi chép lại không
thể nh một bản sao sự việc mà có ảnh hởng gián tiếp đến lời và ý. Tính sáng
tạo trong hồi ký thể hiện tài năng của nhà văn. Sự hấp dẫn của ngòi bút hồi ký
Tô Hoài ở quan niệm của ông về cái thực, một điều hết sức cốt yếu với hồi ký.
Có những sự thật khi đi qua lăng kính của ngời nghệ sĩ có thể bị khúc
xạ làm mờ nhoè và biến dạng. Trong văn học câu chuyện h cấu khi xây dựng
hình tợng là quy luật tất yếu. Nếu một tác phẩm ký muốn vơn đến chỗ có giá
trị văn học thì không thể nằm ngoài quy luật của nghệ thuật. M.Prút từng nói:
Sự thật không phải là điều tôi thấy mà là điều tôi tin. Tô Hoài cũng có một
18
sự thật nh vậy, ngay trên trang viết ông vẫn đang đi tìm, ông chỉ cố gắng nói
ra những điều có thể, tạo nên vẻ lung linh chờn vờn của sự thực.
ông thầy lớn của mình về tiếng nói. Có tiếng nói mới sinh ra câu văn. Nhng
không nên chỉ học trong đời sống một cách tự nhiên, mà cần có sự rèn luyện
tác phong làm việc rõ ràng.
Nhà nghiên cứu Vơng Trí Nhàn viết bàng bạc trên những trang viết là
một cảm quan riêng về cuộc đời, một nỗi niềm tâm sự đau đáu. ở hồi ký Tô
Hoài có sự kết hợp giữa cảm quan nhân bản đời thờng và sự sáng tạo trong
nghệ thuật tạo nên một giọng văn phức điệu vừa hài hớc, dí dỏm, tinh quái,
vừa suồng sã tự nhiên và trữ tình. Suốt một đời văn, Tô Hoài đã tạo cho mình
một phong cách riêng, một thơng hiệu nghề nghiệp riêng đáng kính trọng,
để đạt đợc nhà văn phải trải qua một hành trình hơn nửa thế kỷ với bao vui
buồn, cay đắng. Trên hành trình ấy, quan điểm nghệ thuật của nhà văn giữ vị
trí định hớng, có vai trò quan trọng để làm nên một Tô Hoài nh hôm nay.
1.3. Vị trí của hồi ký trong sáng tác của Tô Hoài
1.3.1. Khái quát những mảng đề tài chính trong sáng tác của Tô Hoài
Với hơn nửa thế kỉ lao động nghệ thuật nhà văn Tô Hoài đã có những
đóng góp quan trọng cho nền văn học nớc nhà ở cả hai giai đoạn trớc và sau
Cách mạng tháng Tám. Có nhiều lí do để Tô Hoài xứng đáng là một trong
những cây đại thụ của văn học Việt Nam hiện đại. Ông là nhà văn của những
cái nhất: Tuổi đời nhiều nhất, số lợng tác phẩm nhiều nhất, tuổi nghề nhiều
nhất. Những con số ấy rất đáng đợc trân trọng, nhng điều đáng quý hơn là ở
mảng sáng tác nào ông cũng có những tác phẩm thành công và tạo đợc dấu ấn
riêng thực sự có giá trị. Sáng tác của Tô Hoài có thể khái quát lại ở những
mảng sau: Mảng sáng tác về cuộc sống vùng ngoại thành Hà Nội; mảng sáng
tác về miền núi; mảng sáng tác cho thiếu nhi; mảng hồi ký, tuỳ bút. Ngoài ra
còn có một số bài về lí luận văn học và kinh nghiệm viết văn.
Mảng đề tài về cuộc sống vùng ngoại thành Hà Nội đợc Tô Hoài xây
dựng trên cơ sở tự truyện hoặc truyện của gia đình, bà con làng xóm. Nhà văn
từng tâm sự: Những sáng tác của tôi đều miêu tả tâm trạng tôi, gia đình tôi,
21
cách hò hẹn của đôi tình nhân, anh cu Hời và cô Ngây thật đặc biệt. Chàng
mang hoa Ngọc Lan thơm phức nửa đêm vứt vào khung cửi dệt của nàng. Sau
câu hát ví, nàng tắt đèn ra bên hàng rào và hai ngời tâm sự với nhau qua hàng
phên tha, tay nắm tay nhìn nhau và chỉ có thế mà thật thơ mộng và trong sáng
nh vằng vặc trăng sao trên trời. Sau bề mặt phong tục gần nh không đổi ấy là
một dòng sông tuôn chảy ở phía sâu. Nó là sự phôi pha, sự tàn lụi của số phận
những kiếp ngời, của cả một vùng quê trong cảnh sống mù xám và bất an bởi
hệ quả tự nhiên của xã hội thuộc địa.
Tô Hoài viết tiểu thuyết Mời năm với ý thức khái quát một thời kỳ lịch
sử của một vùng quê đã trải qua những chặng đờng đấu tranh từ thời kì Mặt
trận dân chủ đến Cách mạng tháng Tám thành công. Tiểu thuyết này từng một
thời bị phê phán, có ngời cho rằng Tô Hoài theo tự nhiên chủ nghĩa, không
theo đờng lối hiện thực xã hội chủ nghĩa. Khi đã có độ lùi thời gian nhất định,
cần đánh giá lại giá trị của tác phẩm này nh một bớc mới của phong cách Tô
Hoài. Qua cuốn sách này ông vừa giữ đợc mặt mạnh và sự sắc sảo của ngòi
bút trớc kia, lại tiếp nhận thêm ánh sáng, cách nhìn và phơng pháp sáng tác
mới [37;307].
Sau Mời năm Tô Hoài tiếp tục viết về đề tài Hà Nội: Quê nhà (1980),
Chuyện cũ Hà Nội I và II (1998)với một cảm hứmg một mạch nguồn dờng
nh không bao giờ vơi cạn, Tô Hoài xứng đáng là cây bút viết về Hà Nội và
vùng ven thành bên cạnh những cây bút xuất sắc Nguyễn Tuân, Thạch Lam,
Nguyễn Huy Tởng, Nguyễn Đình Thi
Trong văn học Việt Nam thời hiện đại, Tô Hoài là nhà văn viết thành
công nhất, hấp dẫn nhất về loài vật. Có những sự tình cờ làm nên định mệnh.
Ông chủ tờ Tân dân, là Vũ Đình Long có lời mời Tô Hoài viết một truyện cho
thiếu nhi: Truyện Con dế Mèn. Sau thành công ấy, Tô Hoài viết tiếp Dế mèn
phiêu lu ký, rồi cả hai gộp lại thành Dế mèn phiêu lu ký.
Bồi dỡng cho các em tình yêu văn chơng, học đợc cách miêu tả, kể chuyện tự
nhiên và vốn từ ngữ phong phú. Hẳn nhà văn Tô Hoài dành nhiều tình cảm
23
thật đặc biệt quý mến đối với loài vật và ông đã tìm thấy ở mỗi loài những nét
hay hay, ngộ nghĩnh và miêu tả với chất dí dỏm làm cho đối tợng thêm sinh
động. Trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài mảng đề tài dành cho thiếu nhi
không phải là chủ yếu. Tuy nhiên, rất nhiều bạn đọc xem Tô Hoài nh một nhà
văn dành cho thiếu nhi, điều đó minh chứng cho phong cách đa dạng và ngòi
bút tài hoa của ông.
Miền núi Tây Bắc, Việt Bắc đợc xem nh quê hơng văn học thứ hai của
nhà văn Tô Hoài. Từ cuộc sống quẩn quanh chật hẹp ở một vùng dân nghèo
thợ thủ công, ông đã đến với cuộc sống rộng lớn tng bừng của nhiều lớp ngời
ở nhiều địa phơng, hào hứng đi theo cách mạng và kháng chiến. Tập truyện
Núi cứu quốc (1948) tuy nghệ thuật còn giản đơn nhng đó là kết quả thâm
nhập vào các bản Cốc Phờng, Vàng Kheo, Pích Cáy, Khuổi Buồn đem lại
những hình ảnh chân thành về cuộc sống của đồng bào miền núi. Điểm yếu
trong tác phẩm này là vẫn còn những biểu hiện của tự nhiên chủ nghĩa, chính
tác giả tự nhận xét quá chuộng lạ, thích lạ và khoe chữ [13;434].
Truyện Tây Bắc (1953) gồm 4 truyện: Đồng chí Hùng Vơng, Nà Lôộc,
Tào Lờng, Công tác xa, đánh dấu một bớc ngoặt quyết định của Tô Hoài trong
quá trình chuyển biến từ chủ nghĩa hiện thực phê phán sang chủ nghĩa hiện
thực xã hội chủ nghĩa. Đó là kết quả của những năm tháng tiếp tục thâm nhập
thực tế vùng cao, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với đồng bào các dân tộc anh em
ở Tây Bắc từ vùng du kích các dân tộc Mờng, Dao, Thái trắng ở bản Thái và
Ngọn Lao thuộc châu Phù Yên rồi qua khu du kích 99 sang trạm Tấu lên Tú
Lệ, lên châu Than Uyên, châu Quỳnh Nhai, qua châu Trần Giáo vào châu
Điện Biên rồi lại từ các khu du kích dân tộc HMông xuống qua những
một phong cách hiện thực tỉnh táo, đi sâu vào những mâu thuẫn gay gắt, phức
tạp của đời sống [37;86].
Thành công về nghệ thuật của Miền Tây chủ yếu ở phơng diện ngôn từ,
những chơng tả cảnh cuộc đời cũ là những chơng tuyệt bút. ở Miền Tây có sự
hài hoà giữa bút pháp hiện thực và bút pháp lãng mạn. Nhà văn không chỉ
miêu tả, dựng cảnh thế giới bên ngoài mà còn tập trung đi sâu vào thế giới bên
25
trong của nhân vật để xây dựng tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình,
nh là Giàng Súa, Thào Nhìa, Nghĩa. Nhìn chung nhân vật tính cách chính diện
còn giản đơn nhng để lại những ấn tợng đẹp trong lòng độc giả.
Nối tiếp mảng đề tài về miền núi, Tô Hoài lần lợt cho ra mắt các tác
phẩm: Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (1971), Họ Giàng ở Phìn Sa (1984), Nhớ Mai
Châu (1988). Thể hiện sức sáng tạo không mệt mỏi ở nhà văn. Tô Hoài từng
kể một câu chuyện ngày Vợ chồng A Phủ tiễn ông ra khỏi dốc núi Tà Sua, vẫy
theo: Chéo lù! Chéo lù! (trở lại!). Ông từng nói ngời Miền Tây để thơng, để
nhớ cho tôi nhiều, không thể bao giờ quên [37;33]. Đúng vậy, nhà văn hẳn
phải gắn bó máu thịt với đồng bào miền núi mới có đợc những tình cảm tự
nhiên và thân thiết đến nh vậy. Và đất không phụ lòng ngời, mảng đề tài về
miền núi thật sự là một đóng góp nổi bật trong văn nghiệp của Tô Hoài.
1.3.2. Vị trí nổi bật của hồi ký trong sáng tác của Tô Hoài
Tô Hoài viết văn từ những năm cuối thập niên 30 của thế kỷ XX, tính
đến nay trở thành cây bút đợc nhiều thế hệ, nhiều đối tợng độc giả yêu mến,
hâm mộ. Trong kỉ niệm tuổi thơ của nhiều ngời hẳn không thể nào quên
những cuộc phiêu lu hấp dẫn của chú Dế mèn trong Dế mèn phiêu lu ký. Viết
về đề tài miền núi, mọi ngời lại nhớ đến tập truyện Tây Bắc nh một đỉnh cao
trong đời văn của Tô Hoài. Giới yêu quý văn học nói riêng, bạn đọc nói chung
ngỡng mộ ông qua những tập hồi ký: Cỏ dại (1943), Tự truyện (1973), Cát