Phê bình văn học của Lê Tràng Kiều trước Cách mạng tháng Tám 1945 - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
 BÙI THỊ HỢI PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA LÊ TRÀNG
KIỀU TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG
TÁM NĂM 1945 Chuyên ngành: Văn học
Mã số : 60.22.32 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Nguyễn ngọc thiện

3.Khám phá phong cách độc đáo của nhiều nhà thơ mới 62
4.Vài nét về phƣơng pháp phê bình văn học của Lê Tràng Kiều 83
PHẦN KẾT LUẬN
THƢ MỤC THAM KHẢO5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lê Tràng Kiều, cái tên ấy có thể còn ít đƣợc biết đến, thậm chí còn xa lạ
với nhiều ngƣời, ngay cả đối với những sinh viên chuyên ngành văn học. Ông
là nhà phê bình văn học có khá nhiều đóng góp cho nền phê bình văn học Việt
Nam trƣớc cách mạng tháng Tám. Cùng với Hoài Thanh, Lƣu Trọng Lƣ, Lê
Tràng Kiều là thành viên của Văn phái phƣơng Đông, đã tham gia chấp bút
Văn chương và hành động và ông cũng là một trong những ngƣời tích cực đi
đầu tham gia vào cuộc tranh luận thơ mới, thơ cũ (1932 - 1941) để lên tiếng
ủng hộ cho thơ mới. Tuy rằng ông chƣa có một tác phẩm nào chuyên về phê
bình văn học nhƣ Hoài Thanh nhƣng nếu các bài nghiên cứu phê bình văn học
của ông đƣợc tập hợp lại cũng dễ có đƣợc một cuốn sách đến mấy trăm trang.
Tất nhiên vấn đề không nằm ở số lƣợng nhiều hay ít mà chính là ở những đóng
góp của ông trong tiến trình phê bình văn học Việt Nam. Vậy mà dƣờng nhƣ
Lê Tràng Kiều đã bị lãng quên, chìm lấp theo dòng thời gian, bởi trong Tổng
tập văn học Việt Nam (bộ cũ) dày hàng mét phần về Lê Tràng Kiều cũng chỉ có
dăm ba dòng mà còn chƣa rõ năm sinh năm mất, cũng không ghi về quê quán.
Chính vì vậy việc nghiên cứu những di sản lý luận phê bình văn học của ông
cũng không đƣợc chú ý đến. Ngƣời ta có thể biết đến tên tuổi của Hoài Thành
với bài tổng kết hoành tráng Một thời đại trong thi ca cho phong trào Thơ Mới
nhƣng ngƣời ta lại không biết rằng trƣớc đó Lê Tràng Kiều đã ca ngợi Thơ Mới
một cách toàn vẹn góp phần mở ra thời kỳ thắng thế của Thơ Mới mà một số
kết luận có tính gợi mở của ông đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu đi sau (trong đó

chính trị nên các nhà phê bình thuộc trƣờng phái Nghệ thuật vị nghệ thuật
không đƣợc chú ý, thậm chí còn bị coi là tiêu cực. Các tác phẩm của họ vì thế 7
bị cấm lƣu hành hoặc bị tịch thu nên việc sƣu tập và nghiên cứu về họ hầu nhƣ
không có. Lê Tràng Kiều là một trong số những nhà phê bình nhƣ thế. Những
tác phẩm của ông bị chìm lấp bởi lớp bụi thời gian cho nên ở miền Bắc những
năm trƣớc đổi mới tên tuổi của Lê Tràng Kiều hầu nhƣ không đƣợc nhắc đến.
Khi đã có độ lùi thời gian cần thiết để có cái nhìn chuẩn xác hơn, vị tha hơn về
phái Nghệ thuật vị nghệ thuật thì tên tuổi của Lê Tràng Kiều mới đƣợc chú ý.
Tuy nhiên mãi tới khoảng 10 năm trở lại đây các tác phẩm của Lê Tràng Kiều
mới đƣợc xuất hiện và công bố đầy đủ.
Ngƣời đầu tiên chú ý và tâm huyết với sự nghiệp phê bình văn học của
Lê Tràng Kiều chính là PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện. Là một trong những nhà
nghiên cứu lý luận phê bình văn học, PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện đã cho ra
đời tác phẩm Nhìn lại cuộc tranh luận nghệ thuật 1935 - 1939 vào năm 1996.
Trong đó có công bố một số bài viết của Lê Tràng Kiều và một phần tác phẩm
Văn chương và hành động- tác phẩm có tính chất tuyên ngôn nghệ thuật của
Văn phái phương Đông mà Lê Tràng Kiều tham gia chấp bút cùng Hoài Thanh
và Lƣu Trọng Lƣ. Sau này các bài viết đó của Lê Tràng Kiều đƣợc tuyển vào
cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ 20 một cách đầy đủ hơn.
Năm 1997 Tuyển tập phê bình nghiên cứu văn học Việt Nam 1900 –
1945 gồm 5 tập đƣợc nhà xuất bản bản Văn học ấn hành, trong đó ở tập 3 có
sƣu tập các tác phẩm phê bình văn học của Lê Tràng Kiều.
Cũng trong năm 1997, tác giả Mã Giang Lân trong Tổng tập văn học
Việt Nam (tập 24B) cũng đã tuyển chọn một số bài phê bình của Lê Tràng Kiều
nhƣng cũng chỉ là các bài phê bình về thơ Mới.
Năm 1999, cuốn Văn chương và hành động đƣợc nhà nghiên cứu
Nguyễn Ngọc Thiện cho xuất bản toàn văn. Đây là cuốn sách duy nhất đƣợc
9
Năm 2003 trong cuốn Tranh luận văn nghệ thế kỷ 20 do nhà xuất bản
Lao động ấn hành trình bày cuộc tranh luận về thơ cũ - thơ mới có trích các bài
phê bình về thơ mới của Lê Tràng Kiều tham gia tranh luận với tƣ cách là
thành viên của phái Nghệ thuật vị nghệ thuật.
Năm 2004 trên Tạp chí văn học số 3, Nguyễn Anh Chi trong mục “Chân
dung văn học” có viết bài về Lê Tràng Kiều. Anh Chi đã tóm tắt cuộc đời sự
nghiệp của Lê Tràng Kiều và những đóng góp của ông cho văn học cũng nhƣ
cho kháng chiến. Anh Chi viết :“Và, chúng tôi bỗng muốn nói với Lê Tràng
Kiều, một câu thôi, rằng, những gì ông làm được trong suốt cuộc đời rong ruổi
ngoài Bắc trong Nam, một cuộc đời hành động đâu có chết được, và những ý
nghĩa của nó càng không thể chìm vào hư vô”.
Năm 2004 nhà xuất bản Thế giới phát hành Từ điển văn học (bộ mới)
trong đó Bùi Thị Thiên Thai viết mục về Lê Tràng Kiều đã sƣu tập đƣợc khá
đầy đủ về tiểu sử của Lê Tràng Kiều và các tác phẩm của ông đồng thời cũng
có những nhận xét đánh giá đúng mực hơn về tác giả này
Năm 2004 luận văn của Phùng Gia Thế với đề tài: Cuộc tranh luận thơ
mới - thơ cũ - những vấn đề lịch sử và lý luận bảo vệ tại khoa Ngữ văn Đại
học Sƣ phạm Hà Nội cũng đã có những bƣớc đầu đề cập đến vai trò của Lê
Tràng Kiều trong cuộc tranh luận thơ mới - thơ cũ qua việc phân tích một số
bài tham gia tranh luận của ông.
Năm 2005 nhà xuất bản khoa học xã hội cho phát hành cuốn Lý luận phê
bình văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 đến năm 1945 của PGS.TS Nguyễn
Ngọc Thiện. Trong đó có nghiên cứu về hai cuộc tranh luận nghệ thuật, đều đề
cập đến vai trò của Lê Tràng Kiều 10

vào bối cảnh lịch thời đại trong tiến trình phát triển của nền phê bình lý luận
văn học nƣớc nhà. Bởi chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chỉ ra rằng không một cá
nhân nào tồn tại ngoài thời đại. Hơn nữa các tác phẩm của Lê Tràng Kiều ra
đời một bối cảnh khá đặc biệt trong lịch sử văn học. Đó chính là giai đoạn của
các cuộc tranh luận nghệ thuật đang diễn ra sôi nổi trên văn đàn: Tranh luận về
Truyện Kiều (1924 - 1925), Tranh luận về quốc học (1925 - 1941), Tranh luận
về thơ mới, thơ cũ (1935 - 1942), Tranh luận về Duy tâm hay duy vật (1933 -
1939), tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh (1935 -
1939),Ttranh luận dâm hay không dâm trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng
(1936 - 1939).
Chính vì thế ngƣời viết sẽ phân tích các tác phẩm của Lê Tràng Kiều
trong sự đối sánh với những ngƣời cùng quan điểm nhƣ Hoài Thanh, Lƣu
Trọng Lƣ và cả với những ngƣời có quan điểm đối lập nhƣ Hải Triều để làm
sáng tỏ tƣ tƣởng và những đóng góp của ông.
4- PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Việc nghiên cứu một cách khoa học, nghiêm túc toàn bộ tác phẩm phê
bình văn học của Lê Trọng Kiều không gì khác ngoài mục đích đánh giá một
cách toàn diện, công bằng và khách quan về những đóng góp của Lê Tràng
Kiều cho nền lý luận phê bình văn học Việt Nam.
Với mục đích nhƣ vậy, hệ thống lý luận triết học Mác- Lê nin, chủ nghĩa
duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng sẽ là cơ sở phƣơng pháp luận
chung cho toàn bộ luận văn của chúng tôi.
Nghiên cứu một tác gia phê bình văn học, ngƣời viết đã kết hợp các
phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản sau: phƣơng pháp hệ thống và phƣơng pháp 12
lịch sử, phƣơng pháp thống kê, phân loại kết hợp với so sánh, phân tích và tổng
hợp.


bạo. Còn phát xít Nhật thì nuôi tham vọng làm bá chủ vùng Châu Á- Thái Bình
Dƣơng. Nhƣng từ năm 1930, dƣới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dƣơng
phong trào công nhân và phong trào yêu nƣớc khác nhƣ những đợt sóng thần
ngày một dâng cao lên liên tiếp đập vào thành luỹ của bọn cƣớp nƣớc và bán
nƣớc. Khủng bố trắng 1930-1931 chỉ có thể làm cho phong trào tạm thời lắng
xuống chứ chƣa thể dập tắt đƣợc phong trào cách mạng ngày càng bùng nổ dữ
dội.
Về mặt văn hoá, phải kể đến vai trò của báo chí đối với sự phát triển của
xã hội nói chung và văn học nói riêng.
Từ năm 1865 báo chí bắt đầu du nhập vào Việt Nam. Hình thức đầu tiên
của báo chí là công báo, phục vụ cho công cuộc viễn chinh của ngƣời Pháp.
Phải đến đầu thế kỷ XX, sau phong trào Đông Kinh nghĩa thục vào phong trào 14
Duy Tân thì ngƣời Việt mới chính thức chấp nhận báo chí nhƣ một phần thiết
yếu trong đời sống văn hoá xã hội.
Từ năm 1905 trở đi bắt đầu xuất hiện các tờ báo của ngƣời Việt phục vụ
nhu cầu văn hoá của ngƣời Việt . Báo chí trở thành cái nôi đầu tiên nuôi dƣỡng
và đỡ đầu cho một nền văn học mới.
Nhƣng nếu trƣớc năm 1930 báo chí chủ yếu giúp độc giả làm quen với
chữ Quốc ngữ và văn hoá phuơng Tây thì sau đó báo chí đã góp phần to lớn
trong việc kích thích không khí sáng tác và không khí tiếp nhận dòng văn học
mới. Theo Phạm Thế Ngũ, từ năm 1932 đến năm 1935 có đến 27 tờ báo đƣợc
phép ra đời. Hơn nữa do phong trào đấu tranh của quần chúng trong nƣớc và
dƣ luận tiến bộ Pháp, bọn thực dân ở Đông Dƣơng phải ra lệnh bãi bỏ Ty kiểm
duyệt Nam báo ở Trung kỳ từ ngày1 tháng 1 năm 1935.
Vào năm 1936, ở Pháp, mặt trận Bình dân thắng thế nên chính sách cai
trị của thực dân Pháp ở thuộc địa có phần đƣợc nới lỏng hơn trƣớc. Báo chí
đƣợc tự do phát triển và cũng không ngừng ra tăng về số lƣợng, đổi mới về

báo chí và đấu tranh quyết liệt để bảo vệ quan niệm ấy.
Lê Tràng Kiều là ngƣời viết văn, làm báo nên không thể bỏ qua không
khí học thuật đang diễn ra sôi nổi trên khắp văn đàn lúc bấy giờ. Ông cũng bắt
đầu cho đăng các bài báo lẻ trên báo Văn học tạp chí từ những năm 1930, 1931
và thực sự có những đóng góp đáng kể cho văn học nƣớc nhà là từ những năm
1935, 1936 khi ông làm chủ bút tờ Hà Nội báo.
2.VÀI NÉT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LÝ LUẬN PHÊ BÌNH
VĂN HỌC VIỆT NAM 16
Do hoàn cảnh lịch sử và đặc thù về tƣ duy, trong quá khứ của nền văn
hoá văn nghệ dân tộc, Việt Nam chƣa có bề dày truyền thống trƣớc tác, lập
thuyết về mỹ học, lý luận văn học nghệ thuật. Do đó Việt Nam có một nền thơ
ca khá phong phú song lại chƣa có một nền lý luận phê bình văn học có bề dày.
Điều này càng đúng hơn với thời kỳ văn học trung đại của nƣớc ta. Trong suốt
10 thế kỷ của văn học Việt Nam Trung đại, các văn nhân chỉ chú trọng sáng tác
thơ văn bằng chữ Hán, chữ Nôm, thảng hoặc mới để tâm phát biểu qua thƣ từ
trao đổi, đề từ và lời dẫn tác phẩm, thể lệ biên tập, lời tựa, lời bàn, lời
bạt…Trong đó đột xuất có những hạt nhân tƣ tƣởng lý luận sâu sắc thể hiện sự
minh triết của tƣ duy, sự am tƣờng về lao động nghề viết. Nhƣng chƣa thể nói
đó là những công trình lý luận có tính hệ thống . Bởi sự thật lý luận văn học là
từ thực tiễn sáng tác văn học mà ra, nhƣng là hai chuyện khác nhau. Chỉ khi
nào cái sau dần tự ý thức thì mới thành ra cái trƣớc. Từ thực tế phong phú và
phức tạp của văn học, muốn nâng lên thành lý luận, phải có một bƣớc chuyển
hoá- nếu không muốn nói là nhảy vọt trong tƣ duy. Lịch sử sáng tác văn học và
lịch sử lý luận (hay quan niệm văn học) do đó là hai việc khác nhau.
Sang đầu thế kỷ XX song song với cuộc vận động do các sĩ phu yêu
nƣớc chủ xƣớng nhằm đổi mới tƣ duy và canh tân đất nƣớc, chấn hƣng các mặt
của đời sống văn hoá xã hội, đƣa Việt Nam tiến kịp cùng trào lƣu của thế giới

bộ của quá trình hiện đại hoá văn học. Nó nhằm định hƣớng những cơ sở tƣ
tƣởng, lý thuyết cho thực tiễn sáng tác vận động theo khuynh hƣớng mới, đấu
tranh, khẳng định và ghi nhận những thành tựu sáng tác tiêu biểu trên con
đƣờng xây dựng nền văn hoá dân tộc trong thời đại lịch sử mới.
Giai đoạn 1930-1945 là giai đoạn nở rộ của lý luận phê bình báo chí. Từ
năm 1933 trong sinh hoạt văn học xuất hiện một loạt các bài viết mang rõ tính
chất luận chiến với nhiều quan điểm mới lạ. Đặc biệt vào đầu năm 1935, khi
cuộc tranh luận Nghệ thuật vị nghệ và Nghệ thuật vị nhân sinh khởi tranh, Hoài
Thanh nhanh chóng trở thành vị thủ lĩnh của phái Nghệ thuật vị nghệ thuật. 18
Ông cùng với Lƣu Trọng Lƣu và Lê Tràng Kiều nhóm họp trong Văn phái
Phƣơng Đông đã cho ra đời Văn chương và hành động. Đây là tập chuyên luận
chứa đầy những tƣ tƣởng lý luận phê bình văn nghệ với lời đề từ “Thay lời
tuyên ngôn của văn phái Phương Đông”. Tác phẩm này đƣợc nhà xuất bản
Phƣơng Đông- Hà Nội in xong ngày 10 tháng 5 năm 1936 với số lƣợng 2000
bản, nhƣng chƣa kịp phát hành thì bị nhà cầm quyền thực dân ra lệnh thu hồi.
Tiếp đó hàng loạt các cuộc tranh luận học thuật khác đã nổ ra thu hút sự
tham gia của nhiều cây bút lý luận có tên tuổi. Các cuộc tranh luận này phản
ánh sự đối thoại, cọ xát công khai giữa các khuynh hƣớng, tƣ tƣởng mỹ học.
Từ các cuộc tranh luận này đã xuất hiện những tác gia và tác phẩm tiêu biểu
ghi nhận bƣớc trƣởng thành, phát triển của tƣ duy lý luận văn học nƣớc ta. Các
tác phẩm lý luận văn học ra đời và vẫn còn có ảnh hƣởng lớn đến tận ngày nay
nhƣ các tác phẩm của Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn
Đổng Chi, đặc biệt là Đề cương văn hoá Việt Nam do đồng chí Trƣờng Chinh
khởi thảo.
3. CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA LÊ TRÀNG KIỀU
Lê Tràng Kiều tên thật là Lê Tài Phúng. Ông sinh năm 1912 tại quê
hƣơng Nam Định và sống thời niên thiếu ở đó. Ông theo học trƣờng Thành

Đầu năm 1936 khi cuộc tranh luận về thơ cũ thơ mới còn đang rất sôi
động thì Lê Tràng Kiều đã có bài viết quan trọng in trên Hà Nội báo số 14. Bài
Thơ mới của ông đã khẳng định giá trị của phong trào thơ mới và chúc mừng
chiến thắng toàn vẹn của nó. Chính bài viết này đã gây nên một cuộc bút chiến
quyết liệt khắp trong Nam ngoài Bắc : 20
“Ba năm qua…với thơ ca văn học ta đã bước một bước dài. Một sự may
mắn không ngờ! Chỉ trong vòng ba năm mà lần lượt đua nhau xuất hện không
biết bao nhiêu tác phẩm có giá trị mà trong cái dĩ vãng phẳng lặng mấy ngàn
năm chỉ lơ thơ một vài cái…” [21- tr.1127]
Không chỉ viết các bài mang tính chất luận chiến mà Lê Tràng Kiều còn
nhiệt thành giới thiệu nhiều nhà thơ mới nhƣ Thao Thao, Thái Can, Nguyễn
Nhƣợc Pháp, Đông Hồ, Nguyễn Vỹ, Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Lƣu Trọng Lƣ.
Ông đã nhấn mạnh quan điểm của mình về thơ mới nhƣ sau:
“Những bài thơ như Tiếng Thu, Bao la sầu, Một chiều thu không phải
là di sản của một gia đình nào, một phe phái nào, một thời đại nào, nó đáng
cho mọi người trong nước ngâm nga, đáng dịch ra tiếng nước ngoài cho người
ta thấy rằng dân tộc ta không phải là không có người hiểu cái hay cái đẹp ở
đời” [63- tr.1075]
Sau đó trong một khoảng thời gian không dài Lê Tràng Kiều đã cho ra
đời một loạt mƣời bài viết cổ động cho cả phong trào và từng bƣớc đi sâu vào
một số gƣơng mặt tác giả tiêu biểu: nhấn mạnh nét cổ điển phƣơng đông trong
thơ Thái Can, sự bình dị trong thơ Nguyễn Nhƣợc Pháp, tính mới mẻ của thơ
Nguyễn Vỹ, hồn thơ mộng ảo của Thế Lữ, những chiêm nghiệm và suy tƣ quá
vãng của Vũ Đình Liên và vai trò nổi bật của tính nhạc trong thơ của Lƣu
Trọng Lƣ.
Có thể nói tất cả sự đa dạng phong phú muôn màu muôn vẻ của các nhà
thơ mới mà Lê Tràng Kiều đã trình bày trong các bài viết của mình đã có sức

Bùi Nguyên Cát, Vũ Trọng Can lập ra Ban kịch Hà Nội, đƣợc đông đảo khán
giả Hà Nội rất ƣa chuộng.
Ngay khi tờ Tiểu thuyết thứ Năm bị đình bản hẳn, Lê Tràng Kiều đó vào
Nam và năm 1940 ông lại chủ trƣơng một tờ bỏo khỏc ở Sài Gũn là bỏo Lá lúa.
Những năm này đất nƣớc trải qua bao nhiêu đau thƣơng biến động khôn lƣờng, 22
nghề văn chƣơng báo chí thực sự vô cùng khó khăn. Rồi Cách mạng tháng
Tám, rồi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Ngay thời điểm cuối năm 1946 Lê Tràng Kiều lại tập hợp đƣợc một
nhóm bạn cùng chí hƣớng gồm Thiết Can, Lý Hải Chõu, Thờ Hỳc Phan Văn
Hạnh, Mai Văn Bộ, Vũ Tùng… ra tờ báo Dân quyền với khẩu hiệu in ngay
trên đầu báo :
“Một dân tộc - Việt Nam, một lực lượng- đoàn kết, một phương pháp -
tranh đấu, một tinh thần - dân chủ, một mục đích - độc lập”.
Báo Dân quyền theo đƣờng hƣớng chống đế quốc thực dõn và chớnh phủ
tay sai bự nhỡn nờn bị cấm lƣu hành.
Từ cuối năm 1946, trƣớc những biến động lớn lao của cả xó hội, chịu rất
nhiều những o ộp của chớnh quyền thực dõn, Lờ Tràng Kiều vẫn kiờn trỡ tổ
chức những nhà văn cùng chí hƣớng gây dựng nên nhiều tờ báo. Các tờ báo
mới ra đều bị cấm nhƣng rồi lại có một tờ báo mới khác ra đời thay thế….
Thực chất toà soạn các tờ báo Ngày nay rồi Việt báo rồi Lẽ sống rồi Phụ nữ….
đều do nhóm của Lê Tràng Kiều làm.
Vậy là từ khi vào Nam, Lê Tràng Kỉều đó từ lĩnh vực văn học chuyển
sang lĩnh vực chớnh trị xó hội. Cả đời ông đó viết rất nhiều nhƣng có lẽ tên
tuổi của ông chỉ gắn với một tác phẩm đƣợc xuất bản thành sách. Đó là cuốn
Văn chương và hành động ông viết chung với Hoài Thanh và Lƣu Trọng Lƣu,
mà ngay khi vừa in ra đó bị chớnh quyền thực dõn bắt đỡnh bản và tịch thu hết.
Bởi trong tác phẩm này, Lê Tràng Kiều và nhóm của ông đó kờu gọi khỏt vọng

hoàn cảnh lịch sử ấy đó và đang đƣợc hoàn thiện.
Chính vì vậy, với đề tài này, ngƣời viết cũng mong muốn góp một phần
nhỏ bộ của mỡnh để làm sáng tỏ hơn sự nghiệp phờ bỡnh văn học của ông nói
riêng và những đóng góp của ông nói chung đối với nền văn học và báo chí 24
Việt Nam nói chung, đồng thời đƣa lại vị trí xứng đáng vốn có của ông trong
lịch sử văn học Việt Nam.

CHƢƠNG II
QUAN NIỆM VĂN HỌC CỦA LÊ TRÀNG KIỀU
Quan niệm văn học là cơ sở của phƣơng pháp phá bĩnh văn học.
Trong cảc cuộc đời viết văn làm báo của mình, mặc dự Lê Tràng Kiều
chƣa có một tác phẩm nào xuất bản thành sách hoàn chỉnh nhƣng số lƣợng
trang viết mà ông để lại qua những bài viết lẻ đƣợc công bố trên các báo và tạp
chí lại không phải là nhỏ. Nhƣng cũng giống nhƣ Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều
là ngƣời không ƣa núi lý thuyết và cũng khụng hề phỏt biểu trực tiếp quan
niệm văn học của mỡnh. Những tƣ tƣởng về văn học của ông chỉ đƣợc thể hiện
trong một số bài viết ông tham gia tranh luận đăng trên Tiểu thuyết thứ Năm và
Hà Nội báo
1. VẤN ĐỀ CHỨC NĂNG CỦA VĂN HỌC NGHỆ THUẬT
VÀ THIÊN CHỨC CỦA NHÀ VĂN
Khi nói đến những chức năng cơ bản của văn học nghệ thuật, từ xƣa đến
nay hầu hết mọi ngƣời đều thừa nhận là chức năng nhận thức, chức năng giáo
dục và chức năng thẩm mỹ (hay nói cách khác văn nghệ hƣớng con ngƣời tới
Chân- Thiện -Mỹ), là những phẩm chất đồng bộ chỉnh thể nhằm phát huy tác
26
Từ đó Hải Triều và những ngƣời cùng phái với ông đó vạch ra cho ngƣời
nghệ sĩ những yêu cầu và nhiệm vụ:
“Tình thế xã hội ngày nay đó nhằm vào thời kỳ khủng hoảng nguy ngập,
chế độ tư bản gần đổ nát, quần chúng ta bị thất nghiệp đói rét, sắp bị nạn đế
quốc, chiến tranh… Các nhà văn phải góp sức vào công cuộc cứu chữa sự
nguy cơ ấy của xã hội chứ không thể ngồi yên trong đám mây xanh chót vót ở
ngang trời mà ngâm nga và bảo quần chúng ngâm nga theo mấy câu thơ mơ
mộng như thời bình khi no ấm” (Lâm Mậu Quang, báo Tiến bộ số 3 ngày
8/3/1936)
Lê Tràng Kiều và những ngƣời thuộc phái Nghệ thuật vị nghệ thuật đó
kịch liệt bỏc bỏ quan niệm này của phỏi Hải Triều. Qua việc bờnh vực Truyện
Kiều, Lê Tràng Kiều đó đề cao chức năng giải trí của văn học nghệ thuật:
“Bình dân sau những giờ cần lao hay là trong những giờ cần lao, họ
ngâm nga những câu thơ như:
“Lơ thơ tơ liễu buông mành
Con oanh học nói trên cành mỉa mai”
để cho họ hả hờ lũng, để cho quên mệt nhọc, quên trong giây lát cái đời
vật chất lam lũ, để hưởng một chút khoái lạc tinh thần, như thế các ông bảo là
là không nên à? Như thế là có hại à?” [21-tr.1177]
Nhƣ vậy Lê Tràng Kiều đó khẳng định chức năng chủ yếu của văn
chƣơng nghệ thuật là gây đƣợc khoái cảm thẩm mỹ, đem đến cho ngƣời thƣởng
thức những cảm giác mới lạ mà quên đi những mệt nhọc toan tính của cuộc
sống đời thƣờng.
Đó cú lúc Lê Tràng Kiều đề cao quá mức chức năng giải trí của văn học
:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status