MỤC LỤC
Mở đầu 01
1. Lí do chọn đề tài 01
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 04
3. Phương pháp nghiên cứu 05
4. Mục đích và đóng góp của luận văn 06
5. Lịch sử vấn đề 08
6. Cấu trúc luận văn 08
Nội dung 08
Chương 1: Một số vấn đề lí luận về phê bình văn học và vị trí của Vương
Trí Nhàn trong nền phê bình văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn từ
1986 đến nay 08
1.1. Phê bình văn học – một số vấn đề lí luận chung 08
1.1.1. Khái niệm phê bình văn học 08
1.1.2. Đối tượng của phê bình văn học 09
1.1.3. Chức năng, nhiệm vụ của phê bình văn học 11
1.1.4. Phê bình văn học – khoa học mang tính nghệ thuật 13
1.2. Vị trí của Vương Trí Nhàn trong nền phê bình văn học Việt Nam hiện đại
giai đoạn từ 1986 đến nay 14
1.2.1. Diện mạo lí luận, phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam giai đoạn từ
1986 đến nay 14
1
1.2.2. Vị trí phê bình văn học của Vương Trí Nhàn 23
1.2.3. Quan niệm của Vương Trí Nhàn về phê bình văn học 25
1.3. Tiểu kết 32
Chương 2: Đối tượng phê bình văn học của Vương Trí Nhàn 35
2.1. Vương Trí Nhàn với các giá trị văn học cổ điển 35
2.2. Vương Trí Nhàn với các giá trị văn học Việt Nam hiện đại 45
2.3. Vương Trí Nhàn với văn học nước ngoài và việc tiếp nhận văn học
nước ngoài 70
2.4. Vương Trí Nhàn với các thể loại văn học 73
Nhàn – phê bình và tiểu luận (2009). Những công trình nghiên cứu ấy là kết
quả của quá trình lao động sáng tạo của một bộ óc sắc sảo, tinh tế với phong
cách và phương pháp nghiên cứu riêng. Vương Trí Nhàn là nhà phê bình có
nghề, nói như GS Nguyễn Huệ Chi: “nhẹ nhàng nhưng lại có những nhận xét
3
khá thâm thúy”. Chính vì lẽ đó, chúng ta cần phải có thêm những công trình
chuyên biệt, có tính hệ thống nhằm đánh giá đúng vai trò và vị trí của Vương
Trí Nhàn trên lĩnh vực lí luận phê bình.
1.3. Lâu nay, nhiều người vẫn chưa nhìn nhận đúng vai trò của công tác
lí luận phê bình văn học trong việc thúc đẩy, định hướng cho sáng tác và tiếp
nhận văn học. Nghiên cứu sự nghiệp phê bình văn học của Vương Trí Nhàn là
dịp ghi nhận công lao của ông trong sự nghiệp nghiên cứu, phê bình văn học
Việt Nam nói riêng, đánh giá vai trò của công tác lí luận phê bình trong đời
sống văn học nói chung.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Đóng góp của Vương Trí Nhàn trên phương
diện nghiên cứu, phê bình văn học qua các công trình của ông về văn học
trung đại, văn học hiện đại Việt Nam và văn học nước ngoài.
2.2. Phạm vi tư liệu khảo sát: Những công trình nghiên cứu, lí luận phê
bình của Vương Trí Nhàn: Sổ tay truyện ngắn, Những kiếp hoa dại, Cánh
bướm và đóa hướng dương, Cây bút đời người, Nhân nào quả ấy, Nhà văn
tiền chiến và quá trình hiện đại hóa trong văn học Việt Nam, Những chấn
thương tâm lí hiện đại, Vương Trí Nhàn – phê bình và tiểu luận.
3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu như:
phương pháp cấu trúc – hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp phân
tích – tổng hợp.
Cùng với việc sử dụng những phương pháp nghiên cứu trên, luận văn
còn sử dụng các thao tác cụ thể như: khảo sát, thống kê, so sánh, khái quát,
đánh giá.
nhà phê bình Vương Trí Nhàn nói riêng.
5. Lịch sử vấn đề
Có thể nói, hiện nay các bài viết về sự nghiệp phê bình văn học của
Vương Trí Nhàn không nhiều và chưa có tính hệ thống. Sở dĩ như vậy, một
phần vì vai trò và tác dụng của lí luận, phê bình văn học trong đời sống văn
hóa tinh thần của xã hội nói chung, khoa văn học nói riêng chưa thực sự được
đánh giá cao. Có chăng cũng vẫn chỉ là những bài viết mang tính chất giới
thiệu về các tác phẩm nghiên cứu, lí luận, phê bình của ông.
5.1. Năm 1993, bài Tựa của Văn Tâm giới thiệu về tác phẩm Những
kiếp hoa dại của Vương Trí Nhàn đã thực sự được coi là bài viết đầu tiên
nghiên cứu về phong cách phê bình văn học của ông
6. Cấu trúc Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của Luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận về phê bình văn học và vị trí của
Vương Trí Nhàn trong nền phê bình văn học Việt Nam hiện đại.
Chương 2: Đối tượng phê bình văn học của Vương Trí Nhàn.
Chương 3: Nghệ thuật phê bình của Vương trí Nhàn
6
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHÊ BÌNH VĂN
HỌC VÀ VỊ TRÍ CỦA VƯƠNG TRÍ NHÀN
TRONG NỀN PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM
HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN NAY
1.1. Phê bình văn học – một số vấn đề lí luận chung
1.1.1. Khái niệm phê bình văn học
Phê bình văn học cùng với lịch sử văn học và lí luận văn học là ba bộ
môn chính của khoa học văn học. Khái niệm phê bình văn học được các nhà
nghiên cứu văn học bàn đến từ rất lâu và được tiếp cận dưới nhiều góc độ,
phẩm, những từ hay ý đẹp, “nhãn tự”, “thần cú”,…
Từ thế kỉ XVII trở về sau, phê bình văn học thực sự trở thành lĩnh vực
hoạt động xã hội mang tính đặc thù. Hay nói cách khác, so với các thể loại
khác, phê bình văn học ra đời muộn hơn (nếu như xem nó là một lĩnh vực
hoạt động chuyên môn không thể thiếu được trong đời sống văn học của một
dân tộc). Ở phương Tây, phê bình văn học thực sự được coi như là một hoạt
động chuyên môn từ sau thế kỉ XVII. Ở Việt Nam, cuốn phê bình văn học đầu
tiên được xuất bản năm 1993 của nhà nghiên cứu Thiếu Sơn: Phê bình và cảo
luận. Tác phẩm đã có ý thức “trưng bày” ra một thể loại phê bình mới – phê
bình nhân vật và có quan điểm rõ ràng về phê bình.
Như vậy, khi phê bình văn học trở thành một lĩnh vực hoạt động xã hội
mang tính đặc thù thì nó ngày càng trở nên phong phú, đa dạng, phức tạp và
8
phân thành nhiều khuynh hướng, trào lưu khác nhau. Phê bình văn học từ chỗ
chú ý tới vấn đề thể loại, qui tắc thể loại thì sau này đã chuyển dần mối quan
tâm đến các vấn đề cá tính, phong cách, thế giới nghệ thuật,… Một nền văn
học phát triển không thể thiếu một hoạt động có tính chất đặc thù – đó là hoạt
động phê bình văn học, và khi nghiên cứu về văn học cũng không thể không
nghiên cứu về phê bình văn học.
1.1.2. Đối tượng của phê bình văn học
Phê bình văn học là một hệ thống nhỏ trong một hệ thống lớn. Do vậy,
phê bình văn học có đối tượng, phạm vi nghiên cứu riêng mang tính đặc thù.
Cho đến nay, với độ lùi nhất định của thời gian, cũng như sự phát triển của
bản thân phê bình văn học, hiện đang tồn tại hai quan điểm về đối tượng của
phê bình văn học.
Quan điểm thứ nhất: quan điểm này đã tồn tại từ lâu, xác định đối
tượng của phê bình văn học là tác giả và tác phẩm văn học đương đại. Các tác
phẩm văn học quá khứ được đẩy sang cho lịch sử văn học. Với quan điểm
này, nếu có cái nhìn so sánh thì lí luận văn học nghiên cứu văn học trong tính
tổng thể, chú trọng tới phương diện cấu trúc của văn học. Lí luận văn học lấy
tượng của phê bình văn học lúc này không những có phạm vi rộng mà còn
giải quyết được những mâu thuẫn lâu nay, xem đối tượng của phê bình văn
học là văn học đương đại, văn học quá khứ thuộc đối tượng của văn học sử.
Tuy nhiên, trên thực tế, phê bình văn học hướng tới những giá trị văn học quá
khứ như: Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương, thơ Nguyễn Trãi và các nhà phê
bình: Xuân Diệu, Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Tuân
đều có các bài viết, công trình nghiên cứu, phê bình về văn học cổ điển.
Nếu theo quan điểm thứ nhất, mối quan tâm chủ yếu của đối tượng phê
bình văn học là tác giả, tác phẩm văn học đương đại thì không hoàn toàn
10
đúng, bởi lẽ đó không phải là căn cứ duy nhất đúng để xác định, khoanh vùng
đối tượng của phê bình văn học. Mọi tác phẩm văn học đương đại không phải
đều trở thành đối tượng của phê bình văn học, là đối tượng của phê bình khi
tác phẩm ấy phải có tính chất, sự kiện, phải là một hiện tượng văn học. Nhìn
vào thực tế, chúng ta thấy công chúng hay độc giả khi tiếp nhận văn học
không chỉ dừng lại ở thời đại mình mà còn có nhu cầu hướng tới những giá trị
văn học xa xưa, “ôn cố tri ân”. Tìm hiểu “cái cũ” để khám phá được những
giá trị có ý nghĩa cho “cái mới”. Vương Trí Nhàn cũng cho rằng: “đối tượng
của phê bình văn học là tác phẩm văn học cụ thể, đúng hơn là văn bản cụ thể,
bất kì là văn bản thuộc thời điểm nào, miễn là có ý nghĩa thời đại, trở thành sự
kiện của văn học đương đại” [Vương Trí Nhàn (2005), Nguyễn Tuân và một
tư duy nghệ thuật kiểu Liêu Trai, Báo Văn nghệ số 4, tr36].
Tác phẩm văn học như là một quá trình, khi nhà văn khép lại quá trình
sáng tác của mình, cũng chính là lúc đời sống của nó mới bắt đầu. Ở đây, sự
tri ân, sự đồng sáng tạo giữa nhà văn và người đọc là rất cần thiết. Thực tế
cho thấy: cùng một đối tượng nhưng điểm nhìn khác nhau sẽ mang đến những
cách đánh giá khác nhau. Từ đó, tùy thuộc vào điểm nhìn của nhà phê bình
mà đối tượng của phê bình văn học có sự chuyển dịch: từ thể loại, chuẩn mực
ngôn ngữ đến phong cách, cá tính; từ bối cảnh xã hội, yếu tố bên ngoài đến
yếu tố nội sinh của tác phẩm. Ngày nay, giới nghiên cứu văn học tiếp cận tác
nhiên, phê bình văn học có thể đề cập đến một số hiện tượng văn học ở quá
khứ. Hay nói như Lại Nguyên Ân: “Phê bình như một bộ phận lập pháp về lí
thuyết cho sáng tác, nó trở thành nhân tố tổ chức quá trình văn học” [150
thuật ngữ văn học, tr.261].
1.1.4. Phê bình văn học – một khoa học mang tính nghệ thuật
Phê bình văn học là môn khoa học mang tính đặc thù vì nó có sự xuyên
thấm, hòa quyện giữa tính nghệ thuật và tính khoa học, hay như GS Phương
12
Lựu nhận định: “phê bình là môn khoa học mang tính nghệ thuật” [Vương Trí
Nhàn
(2005), Nguyễn Tuân và một tư duy kiểu Liêu Trai, Báo Văn nghệ số 4,
tr36]. Vấn đề đặt ra đối với một nhà phê bình là phải có tri thức, có quan
niệm, biết phân tích, giải thích và chứng minh để làm sáng tỏ được các giá trị
văn học. Do đó, yêu cầu trước hết đối với một nhà phê bình là phải có phẩm
chất khoa học. Tuy nhiên, phẩm chất khoa học của nhà phê bình văn học khác
với các bộ môn khác. Theo GS Nguyễn Đăng Mạnh: “Nếu các nhà khoa học
khác phải nói chính xác về những đối tượng có thể cân đong đo đếm được thì
phê bình văn chương lại phải nói những điều hết sức mong manh, mơ hồ
nhiều khi là nửa hư, nửa thực” [Nguyễn Đăng Mạnh (1990), Vài suy nghĩ về
phê bình văn học – Sách các vấn đề của khoa học văn học, NXBKHXH,
tr.338, 350].
Phê bình văn học là hoạt động nghiên cứu, phán đoán, đánh giá đối với
các hiện tượng văn học. Vì vậy, trong hoạt động của mình, các nhà phê bình
cần có tư duy lôgic để khái quát và xâu chuỗi các vấn đề. Giá trị của một tác
phẩm văn học không phải lúc nào cũng lộ ra ngay trên bề mặt câu chữ. Điều
này đòi hỏi các nhà phê bình phải biết khám phá, phát hiện mới nói trúng, nói
đúng được cái hay của tác phẩm. Điều này đòi hỏi sự chính xác trong tư duy
khoa học của phê bình nhưng không đơn thuần là tư duy lôgic hay sự chính
xác, bởi nếu chỉ có vậy thì phê bình khó có lòng chạm tới được “cõi sâu kín”
mơ hồ của văn học. Tóm lại, phê bình văn học cần có sự kết hợp nhuần
thể gọi là giai đoạn đổi mới. Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam
khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VI của Đảng được tiến hành trong một bối
cảnh xã hội, lịch sử hết sức phức tạp, đồng thời có nhiều triển vọng to lớn.
14
Vấn đề đổi mới trở thành phương châm sống còn. Trong diễn văn khai
mạc Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Nguyễn Văn Linh đã khẳng
định: “Chỉ có đổi mới thì mới thấy hết và thấy đúng sự thật, thấy những nhân
tố mới để phát huy, thấy những sai lầm để sửa chữa”. “Đại hội lần này phải
đánh dấu sự đổi thay của Đảng ta trong việc đánh giá tình hình là nhìn thẳng
vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, đặt ra yêu cầu đổi mới tư
duy, đặc biệt là tư duy kinh tế và xã hội. Cuộc gặp gỡ thân mật của ông
Nguyễn Văn Linh – Tổng Bí thư của Đảng với gần 100 văn nghệ sĩ đại diện
cho các ngành sáng tạo trong hai ngày 06 và 07 tháng 10 năm 1987 là một
cuộc khởi đầu tốt đẹp. Với tinh thần nói thẳng, nói thật, với nhu cầu “cởi
trói”, các ý kiến phát biểu và bài nói chuyện của ông Nguyễn Văn Linh đã
thổi một luồng sinh khí mới, thúc đẩy tích cực cho công cuộc đổi mới văn
hóa, văn nghệ. Hơn một tháng sau, ngày 28 tháng 11 năm 1987, Bộ Chính trị
Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam ra Nghi quyết số 05 về Đổi mới và
nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lí văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy
khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một
bước mới” [Một số văn kiện của Đảng về công tác tư tưởng – văn hóa, tập
2, (1986 – 2000), NXB CTQG, HN, 2000]. Nghị quyết về văn hóa, văn nghệ
của Đảng đã nhìn thấy trước vấn đề và mở ra những khả năng, điều kiện và
triển vọng mới cho sự đổi mới văn học, đặc biệt là lí luận, phê bình văn học.
Đối với các văn nghệ sĩ, lực lượng sáng tạo ra các giá trị nghệ thuật, quan
điểm của Nghị quyết là “khai thác mạnh mẽ các tiềm năng sáng tạo”, “coi
trọng yếu tố con người”. Tuy chưa nói nhiều về tính chủ thể và cá tính sáng
tạo của nghệ sĩ nhưng rõ ràng, quan điểm chung của Đảng Cộng sản Việt
Nam đã có những đổi thay lớn, phù hợp với yêu cầu mới của thời đại, phù
hợp với bản chất, đặc trưng của văn nghệ. Quan điểm đó chứng tỏ quyết tâm
(do Lại Nguyên Ân sưu tầm), các cuộc hội thảo về Thi nhân Việt Nam, kỉ
16
niệm lần thứ 90 năm năm sinh Hoài Thanh (ở Viện Văn học và Hội Nhà văn
Việt Nam) đều góp phần đánh giá lại Thơ mới và nhà phê bình của nó. Trong
giai đoạn này, Thơ mới không chỉ được nghiên cứu lại về nội dung tư tưởng
mà còn cả về thi pháp chung và riêng của từng nhà thơ, tiêu biểu là Con mắt
thơ của Đỗ Lai Thúy (1992), Tinh hoa Thơ mới – thẩm bình và suy ngẫm
(1998) của Lê Bá Hán, Thơ mới – bình minh thơ Việt Nam hiện đại (1994)
của Nguyễn Quốc Túy.
b. Văn học Tự lực văn đoàn, chủ yếu là sáng tác của Nhất Linh, Khái
Hưng cũng bị cấm kị một thời nay được in lại trong tuyển tập văn học lãng
mạn gồm 08 tập (Nguyễn Hoành Khung chọn) và tuyển tập tiểu thuyết gồm
03 tập (do Phan Trọng Thưởng chọn). Tháng 5 năm 1989, khoa Ngữ văn
trường Đại học Tổng hợp Hà Nội tổ chức Hội thảo về văn chương Tự lực văn
đoàn. Sau đó Phan Cự Đệ có nhiều bài viết nhìn lại tiểu thuyết của Khái
Hưng, Nhất Linh; Lê Dục Tú có Quan niệm con người trong tiểu thuyết Tự
lực văn đoàn (1996,2003).
c. Sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng mà có thời tác giả muốn
từ bỏ và có nhà văn đánh giá như tiêu biểu cho văn chương cá nhân chủ nghĩa
đầy khinh bạc và ích kỉ đã được nghiên cứu lại toàn diện và công phu với các
công trình của Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh, Vương Trí Nhàn, Ngọc
Trai.
d. Sáng tác của Vũ Trọng Phụng một thời bị đánh giá thấp và nhấn
mạnh vào ảnh hưởng của troskit và chủ nghĩa tự nhiên, nay đã được đánh giá
lại toàn diện. Tác phẩm được sưu tầm thêm và đã có một số hội thảo nghiên
cứu sáng tác của ông, đặc biệt là tiểu thuyết và phóng sự. Có công trong việc
này phải kể đến Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Hữu Tá, Lại Nguyên Ân và một số
tác giả khác.
17
Ngoài các công trình đã nêu trên, trong thời gian qua đã có nhiều luận
không ai là người duy nhất và cuối cùng hiểu được văn học. Khái niệm văn
học được mở rộng, khái niệm về bản chất giao tiếp và văn hóa của văn học
như: đối thoại, đa thanh, phức điệu (trái lại với độc thoại, đơn thanh), liên văn
bản, hàm ẩn, đa nghĩa,… được lưu hành. Các khái niệm thuộc văn học hiện
đại chủ nghĩa phương Tây như: siêu thực, phi lí, phân tâm, giải cấu trúc đều
được giới thiệu. Có thể nói: cả một hệ thống khái niệm lí luận văn học đang
chuyển động theo hướng tiếp cận hệ thống ngôn ngữ lí luận của thế giới. Một
quan niệm mới về văn học được hình thành đã thực sự mở ra một không gian
mới cho tư duy về văn học.
b. Cùng với việc đổi mới khái niệm lí luận là việc giới thiệu lí luận ở
nước ngoài mà trước đây chưa làm được tốt. Bắt đầu là Hoàng Trinh giới
thiệu lí thuyết kí hiệu học và vận dụng vào đọc thơ, ca dao tục ngữ, tiếp đến là
các bài giới thiệu về văn học so sánh của Trương Đăng Dung, Nguyễn Văn
Dân. Phạm Vĩnh Cư. Trần Đình Sử dịch và giới thiệu lí thuyết và các vấn đề
thi pháp của M.Bakhtin. Trương Đăng Dung dịch và giới thiệu về R.Ingarden,
G.Lukacs. Đỗ Lai Thúy dịch và giới thiệu chủ nghĩa hình thức Nga và phân
tâm học của S.Freud, V.Propp. Lộc Phương Thủy dịch và giới thiệu lí luận,
phê bình văn học Pháp thế kỉ XX. Trịnh Bá Đĩnh dịch và giới thiệu về chủ
nghĩa cấu trúc, Phương Đông và phương Tây của N.Kônrát. Nguyên Ngọc,
Phạm Xuân Nguyên dịch và giới thiệu lí luận tiểu thuyết của M.Kundera,…
Sự liệt kê trên đây hẳn chưa đầy đủ và cho dù có đầy đủ vẫn còn thiếu
sót rất nhiều so với yêu cầu cần phải làm, nhưng điều đáng chú ý là một thái
độ cởi mở và thực sự cầu thị muốn bổ sung, mở rộng, làm giàu thêm cách tiếp
cận văn học và đó là điểm khởi đầu cho một thái độ mới không kì thị đối với
kho tàng lí luận văn học phương Tây.
19
c. Song song với việc đổi mới lí luận, giới thiệu lí luận văn học là xây
dựng lí luận và hình thành các hướng nghiên cứu mới. Các nguyên tắc xã hội,
lịch sử trong nghiên cứu vẫn được tiếp tục khẳng định nhưng đã có thêm cách
tiếp cận mới. Thi pháp học của M.Bakhtin và Đ.Likhachốp được dịch, in
Đội ngũ các nhà văn, nhà báo, nhà quản lí văn nghệ bao giờ cũng đông
đảo, nhất là vào thời kì đổi mới, báo chí xuất hiện nhiều. Có thể kể tên các
nhà văn tham gia vào đời sống lí luận phê bình thời này như: Nguyễn Minh
Châu, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Hà Xuân Trường, Nguyễn Văn Hạnh,
Thiếu Mai, Từ Sơn, Vũ Quần Phương, Nguyễn Trọng Tạo, Thanh Thảo,
Nguyễn Huy Thiệp, Lê Quang Trung, Đinh Xuân Dũng, Lê Thành Nghị, Trần
Đăng Khoa, Trần Mạnh Hảo, Hữu Thỉnh, Văn Tâm, Nguyễn Văn Lưu, Phạm
Đình Ân, Phạm Tiến Duật, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Ngô Thảo, Đỗ
Minh Tuấn, Đông La, Trịnh Đình Khôi, Nguyễn Hoàng Sơn, Chu Lai, Trung
Trung Đỉnh, Nguyễn Quang Thiều,…. Trong số các nhà văn trên, xét ở tính
tiêu biểu về phương diện tư tưởng, phương pháp, nghề nghiệp và thành tựu có
thể kể đến: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Văn Tâm, Lại Nguyên Ân,
Vương Trí Nhàn.
b. Các nhà lí luận, phê bình, nghiên cứu ở các trường đại học
Đội ngũ các nhà lí luận, phê bình, nghiên cứu ở đại học cũng rất đông
đảo. Ngoài các cây bút đã nổi danh ở giai đoạn trước như Lê Trí Viễn, Đinh
Gia Khánh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Lê Đình Kị, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn
21
Lộc, Phùng Văn Tửu, Nguyễn Hoành Khung, Huỳnh Khái Vinh, Nguyễn Đức
Nam, Nguyễn Đăng Mạnh, Phương Lựu, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Xuân
Nam, Đặng Thanh Lê, Đặng Thị Hạnh, Nguyễn Hải Hà, Lương Duy Thứ,
Trần Đình Hượu, Trần Thanh Đạm, đến giai đoạn này có thể kể thêm Trần
Hữu Tá, Mã Giang Lân, Đặng Anh Đào, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà, Huỳnh
Như Phong, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn, Phạm Vĩnh Cư, Chu Văn
Sơn, Phạm Quang Long, Mai Quốc Liên, Đỗ Văn Khang, Bùi Việt Thắng,
Đào Duy Hiệp, Lã Nguyên, Trần Đăng Xuyền, Nguyễn Bá Thành, Trần
Khánh Thành,…
Xét về mặt khuynh hướng tư tưởng, phương pháp nghiên cứu có thể
chọn các cây bút tiêu biểu sau: Lê Trí Viễn, Nguyễn Đăng Mạnh, Phương
Lựu, Trần Đình Sử, Đỗ Đức Hiểu, Trần Đình Hượu.
công trình nghiên cứu đặc sắc, kể từ: Bước đầu đến với văn học cho tới Nhà
văn Việt Nam và quá trình hiện đại hóa. Chỉ tính riêng các tác phẩm lí luận
phê bình, có thể coi Vương Trí Nhàn là một “đại gia”, đặc biệt là những tác
phẩm tìm hiểu về các nhà thơ cổ điển, về văn học cách mạng, văn học Việt
Nam hiện đại xứng đáng là những công trình tầm cỡ, chỉ những nhà khoa học
thực sự tài hoa uyên bác mới vươn tới được.
Có thể nói, lịch sử phê bình văn học Việt Nam đã ghi nhận sự đóng góp
của nhiều nhóm phê bình: từ thế hệ những nhà phê bình đầu tiên như: Phan
Kế Bính, Phạm Quỳnh, Phan Khôi đến các nhà phê bình theo xu hướng tổng
kết như: Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan; các nhà phê bình mácxit
như: Hải Triều, Đặng Thai Mai và các nhà phê bình kiêm công tác quản lí văn
nghệ như Tố Hữu, Trường Chinh đến các nhà phê bình thuộc giới văn nghệ sĩ
23
như: Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân. Tất cả đều
có một vị trí xứng đáng trong nền văn học dân tộc, tạo được dấu ấn riêng
trong lòng bạn đọc. Vương Trí Nhàn là nhà phê bình thuộc thế hệ các nhà
văn, nhà báo, nhà quản lí văn nghệ. Xuất phát từ chỗ đứng của mình là người
nghệ sĩ viết phê bình, do vậy phê bình văn học của Vương Trí Nhàn có cái
nhìn của người trong cuộc. Ông thường qua cuộc đời nhà văn với thân phận,
buồn vui, thói quen, nếp nghĩ, cách làm để cảm nhận tác phẩm. Vương Trí
Nhàn chống lại lối nhìn lí tưởng hóa nhà văn rất thịnh hành. Theo ông, cuộc
sống của họ cũng xô bồ, tùy tiện, cư xử “lúc khôn lúc dại”. Tác phẩm của họ
viết ra cái dở, cái hay và khi nhìn lại ở đó có rất nhiều điều vô lí, bất thường,
tối sáng trộn lẫn, gây phiền phức cho những ai muốn có cái gì cũng rõ ràng.
Với tư tưởng như vậy, Vương Trí Nhàn đã viết các tập Những kiếp hoa dại,
Cánh bướm và đóa hướng dương, Cây bút đời người với cái nhìn nhiều khi
soi mói vào những khía cạnh “cái dở”, “cái dại” của nhà văn – một điều trước
đây ít ai làm thế.
Mỗi người khi viết phê bình đều có một mong muốn riêng hoặc đóng
góp cho việc định hướng đường lối văn nghệ của Đảng hoặc giải quyết một
phê bình chính là người “môi giới” quan trọng và cần thiết, giúp độc giả
chiếm lĩnh giá trị văn hóa nhân loại nói chung cũng như giá trị của văn học
nói riêng. Bất cứ nhà phê bình nào trước khi phê bình đều là độc giả, công
chúng của văn học. Hay nói cách khác, ở bình diện thứ nhất: cả nhà phê bình
và công chúng đều là độc giả của tác phẩm văn học. Ở bình diện thứ hai: trên
cơ sở lí thuyết và tầm hiểu biết cao hơn, nhà phê bình phải “điều chỉnh”, định
hướng sự tiếp nhận các giá trị văn học. Do vậy, khi đi sâu tìm hiểu quan niệm
25