LUẬN VĂN: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta hiện nay doc - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng đội ngũ lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao ở nước ta hiện nay

lời mở đầu
Công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội. Công nghiệp hoá là một quá trình tất yếu tiến lên của mọi quốc gia phù hợp với xu thế
chung của lịch sử phát triển của nhân loại. Tại hội nghị Trung ương lần thứ VII khoá VII
đồng chí Đỗ Mười phát biểu có đoạn nói "Có thể coi công nghiệp hoá là phương tiện để
chuyển tải công nghệ mới vào cuộc sống, để làm được việc này điều quyết định là ở con
người. Qua đây chúng ta có thể hiểu sâu sắc rằng nâng cao cả mặt bằng dân trí và đỉnh cao
dân trí bồi dưỡng, phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết
định thắng lợi của công cuộc CNH - HĐH cũng ghi rõ" đào tạo bồi dưỡng và phát huy

Phân tích, đánh giá về thực trạng đào tạo và sử dụng có hiệu quả đội ngũ lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và những yếu tố cơ bản tác động tới đội ngũ lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao trong nền kinh tế thị trường.
Khuyến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta trong giai đoạn từ nay đến 2010.
Đề tài bao gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao.
Chương II: Một số nét chủ yếu về thực trạng lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao ở nước ta hiện nay.
Chương III: Một số giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động có
trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta hiện nay.
mục lục
Chương I: Cơ sở lý luận về lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao 7
1. Tầm quan trọng của lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao 7
2. Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 8
2.1. Một số khái niệm có liên quan và đặc trưng của nó 8
2.2. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 11
3. Các yếu tố tác động đến cung cầu của lực lượng lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao. 14
3.1. Các yếu tố tác động đến cung lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
14
3.2. Các yếu tố tác động đến cầu 15
Chương II: Một số nét chủ yếu về thực trạng lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao 17

có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 28
3.3. Ưu nhược điểm của sự dịch chuyển lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao 29
4. Nhu cầu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thời kỳ 1996 - 2000
31
4.1. Về cơ cấu ngành kinh tế 31
4.2. Về cơ cấu thành phần kinh tế 32
4.3. Về cơ cấu công nghệ 32
III. Hệ thống chính sách tác động đến cung cầu lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao ở nước ta hiện nay 33
1. Chính sách về giáo dục - đào tạo 33
2. Chính sách về tiền lương và đãi ngộ đối với lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật cao. 33
3. Chính sách tuyển dụng, sử dụng và phân bổ lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao. 35
4. Những chính sách về phát triển kinh tế thị trường 36
Chương III: một số giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động có
trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta hiện nay 37
I. Một số nhận xét cơ bản qua đánh giá thực trạng lực lượng lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta 37
II. Khuyến nghị một số giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả lực lượng lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 38
A. Những giải pháp thuộc về GD - ĐT 39
1. Nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao 39
2. Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục - đào tạo, tăng cường phát hiện bồi dưỡng và đào
tạo nhân tài 40


chương I
cơ sở lý luận về lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
1. Tầm quan trọng của lực lượng lao động có trình dodọ chuyên môn kỹ thuật
cao.
Nền kinh tế nước ta hiện nay đang trong giai đoạn tiếp tục đổi mới phát triển một
bước công nghiệp hoá và hiện đại hoá, mở cửa và đang phương hoá, đa dạng hoá quan hệ
đối ngoại. Chúng ta đã là thành viên chính thức của ASEAN, dang cùng thế giới bước vào
thế kỷ 21 trong xu hướng ngày càng khu vực hoá, quốc tế hoá.
Thế giới đang bước vào kỷ nguyên vi tính, điện tử, thông tin, sinh học, hoá học, vật
lý siêu dẫn làm cơ sở phát triển. Chúng ta phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt khoa học
công nghệ hiện đại, trước hết là những khâu quyết định để khỏi bị tụt hậu, phải tạo ra
nguồn cung lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao cần thiết và đủ cho những mũi
nhọn đã được lựa chọn, những ngành công nghiệp với công nghệ cao. Phải tạo nội lực
mạnh mẽ để hoàn nhập với các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế. Thông qua hoà
nhập mà làm cho nội lực thêm mạnh, bảo đảm sự phát triển đi lên theo đúng quy luật. Nội
lực đó chính là con người, là nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Bởi vì
chúng ta đã biết con người là nhân tố quyết định, là động lực to lớn nhất, là chủ thể sáng
tạo mọi nguồn của cải vật chất và tinh thần của xã hội. Vì vậy, nếu phát huy cao độ nhân tố
con người thì sẽ tạo nên một đất nước luôn phồn vinh giàu có. Khi đã đánh giá vai trò của
con người chúng ta coi con người là vốn quý nhất thì người lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao lại là vốn quý nhất của những vốn quý nhất. Đó là chân lý phổ biến xưa
kia cũng vậy, ngày nay cũng vậy và sau này cũng vậy.
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao không chỉ là vốn quý của bản thân
người đó mà còn là vốn quý của đơn vị sử dụng, của dân tộc, của quốc gia. Lao động có
trình độ chuyê môn kỹ thuật cao là lực lượng sản xuất, là động lực quan trọng của sự phát
triển kinh tế xã hội, xây dựng bảo vệ tổ quốc, là quân chủ lực thực hiện các quốc sách hàng
đầu, là xúc tác nâng cao tiềm lực về mặt bằng trí tuệ của các tầng lớp nhân dân.
Một tấm bia ở Văn Miếu ta đã khắc "Các bậc hiền nhân tài giỏi là yếu tố cốt tử đối
với một chỉnh thể. Khi yếu tố này dồi dào thì đất nước ta tăng tiến mạnh mẽ, phồn vinh.

là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội. Nên lao động được coi là hoạt động chủ yếu,
là quyền và nghĩa vụ cơ bản của con người. Nhờ đó, từ nhiều thế kỷ nay đã hình thành bộ
môn khoa học riêng chuyên nghiên cứu về lao động gọi là khoa học lao động.
c. Sức lao động.
Sức lao động là khả năng về trí lực và thể lực của con người để tiến hành lao động
(được hiểu như là khả năng lao động).
Khả năng về thể lực bao gồm khả năng sinh công của cơ bắp và khả năng chịu đựng
các yếu tố bất lợi đến sức khoẻ do tải trọng công việc cũng như các yếu tố có hại của điều
kiện lao động, được quyết định bởi các tố chất bẩm sinh của cơ thể, quá trình rèn luyện và
môi trường điều kiện sống. Khả năng về trí lực bao gồm khả năng hoạt động của trí óc, khả
năng vận dụng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, khả năng sáng tạo, tác phong, kỷ luật nghề
nghiệp , khả năng ứng xử trong quan hệ lao động. Khả năng về trí lực được quyết định
bởi di truyền và các yếu tố bẩm sinh của cơ thể; quá trình học tập, rèn luyện, tích luỹ kinh
nghiệm, điều kiện sống và môi trường tự nhiên xã hội.
d. Nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc
gia, suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng. Đây
là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội.
e. Nguồn lao động.
Nguồn lao động là toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những
người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học,
đang làm nội trợ trong gia đình mình hoặc chưa có nhu cầu làm việc và những người thuộc
tình trạng khác (những người nghỉ việc hoặc nghỉ hưu trước tuổi theo quy định của Bộ luật
lao động).
f. Lực lượng lao động.
Lực lượng lao động là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người
thất nghiệp. Lực lượng lao động là bộ phận hoạt động của nguồn lao động.

p. Lao động giản đơn.
Lao động giản đơn là lao động có được đào tạo nhưng không chuyên sâu, họ chỉ
đảm nhận được những công việc giản đơn không cần kỹ năng kỹ sảo đặc biệt.
q. Hiệu quả lao động.
Hiệu quả lao động là lượng giá trị do người lao động sáng tạo ra trong một đơn vị
thời gian lao động.
2.2. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
a. Khái niệm về lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
Người ta chia lao động ra làm nhiều loại như lao động giản đơn, lao động phức tạp,
lao động trí óc, lao động chân tay Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là loại
lao động để chỉ những người lao động có trình độ cao, lao động có chuyên môn kỹ thuật, là
tầng lớp, trí thức, lao động khoa học kỹ thuật, công nhân bậc cao lành nghề
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là lao động được thừa nhận có
những thể chất cần thiết, có được trí thông minh và sự giáo dục cần thiết và đã được sự
khéo léo và những trí thức yêu cầu để thực hiện công việc theo những định chuẩn đầy đủ
về an toàn, số lượng và chất lượng.
Theo như luật giữ lao động thương binh xã hội của bộ lao động thương binh xã hội
định nghĩa.
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật có kỹ năng và kỹ xảo đặc biệt thông qua đào tạo hoặc tích luỹ kinh nghiệm thực
tế, đảm nhiệm được những công việc rất phức tạp, đáp ứng được các yêu cầu phát triển của
kỹ thuật công nghệ, có khả năng truyền nghề và dạy nghề.
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao bao gồm những người có trình độ
cao đẳng, đại học, trên Đại học, Trung học chuyên nghiệp và công nhân có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao.
b. Đặc điểm của lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
b1. Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao được kết tinh trong mọi sản

Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao không phải tự nhiên bản thân sinh ra
mà có, mà nó phải trải qua những thời gian đào tạo kiến thức nhất định đồng thời nó còn
phải cần có một thời gian dài thực tế với công việc để có những kinh nghiệm, những kỹ
năng, kỹ sảo, những phát hiện, khám phá
Thời gian để một cán bộ khoa học đứng vững trong lĩnh vực của mình, độc lập
trong tư duy sáng tạo và với những kiến thức cùng kinh nghiệm của mình, sẵn sàng dìu dắt
một thế hệ nối tiếp, phải cần tới ít nhất mười năm. Thực tế cũng xác nhận tốt nghiệp Đại
học phải làm việc ít nhất 5 năm liên tục mới thực phát huy được một phần tác dụng.
3. Các yếu tố tác động đến cung cầu của lực lượng lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao.
3.1. Các yếu tố tác động tới cung lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
Khi nói đến cung trên thị trường thì nói đến cung thực tế, cung tiềm năng và các
điều kiện đứng sau cung. Cung lao động đó là số lượng lao động có thể cung cấp và sẵn
sàng cung cấp với một mức lương nhất định. Cung thực tế bao gồm những người đang đi
làm thuê và những người đang tích cực đi tìm việc để làm thuê. Cung lao động có thể được
chia thành cung về lao động của từng vùng lãnh thổ, của từng khu vực kinh tế, của từng
ngành nhất định hay có thể tính đến cung theo giới tính, tuổi tác, chuyên môn và cơ cấu
ngành nghề.
Nói đến cung lao động, thì điều rất quan trọng đặc biệt phải chú ý đó là chất lượng
của nguồn cung. Chất lượng nguồn cung này thể hiện ở trình độ đào tạo, trình độ chuyên
môn, tay nghề, thể hiện ở kinh nghiệm công tác, làm việc Nhân tố quan trọng đặc biệt tác
động lên chất lượng của cung đó là hệ thống giáo dục đào tạo. Một hệ thống giáo dục đào
tạo mà đáp ứng được về chiều rộng và chiều sâu sẽ cung cấp được một nguồn lao động có
chất lượng. Ngược lại, một hệ thống giáo dục đào tạo mà yếu kém, định hướng sai lệch
sẽ không đáp ứng được cho xã hội nguồn cung lao động đạt yêu cầu: chất lượng của nguồn
lao động là yếu tố quan trọng bậc nhất, là động lực thúc đẩy nền kinh tế, xã hội của đất
nước đi lên hiện đại phồn vinh.

Việc tuyển chọn, bố trí và sử dụng có hiệu quả đội ngũ lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao là một yêu cầu đặt ra hàng đầu đối với mỗi quốc gia, mỗi ngành, mỗi
doanh nghiệp. Không phải cứ đào tạo ồ ạt là sử dụng được hết.
Trong điều nkiện đất nước hiện nay, do sự phát triển không ngừng của tiến bộ khoa
học kỹ thuật công nghệ nên để phù hợp thì nhu cầu về lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao cũng biến đổi. Đó phải là một đội ngũ nắm bắt được những kiến thức công nghệ,
nghề nghiệp một cách hoàn chỉnh phải luôn lao động sáng tạo không ngừng. Và đội ngũ
này ngày càng phải mở rộng, phát triển đông đảo.
Các nhân tố thuộc về các chính sách của Nhà nước, nhưng những chính sách về đầu
tư, phát triển công nghệ, thay đổi các cơ chế quản lý hành chính, các chính sách trả lương,
trả công đều tác động không nhỏ tới biến động nhu cầu về nguồn lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao. Điều này có thể thấy rõ trong cuộc đổi mới đất nước hiện nay, từ
khi chúng ta chuyển đổi cơ chế kinh tế nhiều thành phần, nhiều lĩnh vực kinh tế mới đã
xuất hiện và phát triển, nó đã thu hút không ít lực lượng lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật cao vào làm việc, làm thay đổi không nhỏ nhu cầu hiện nay về lao động trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao.

chương II
một số nét chủ yếu về thực trạng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở
nước ta hiện nay
I. Cung và các nhân tố tác động tới cung lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao.
Cung lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là số lượng lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao có thể cung cấp và sẵn sàng cung cấp với mọi chất lượng nhất

Lực lượng lao động này đã và đang tích cực góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước
hiện nay. Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật nước ta thông minh, khiêm tốn, hiếu học và có
khả năng tiếp thu, ứng dụng công nghệ mới. Điều đó được các chuyên gia nước ngoài đánh
giá cao. Nhiều công trình kỹ thuật hiện đại, phức tạp của thế giới như các lĩnh vực điện tử,
viễn thông, dầu khí hoặc lắp đặt các công trình lớn , lực lượng lao động nước ta đã tiếp
thu và vận hành một cách có hiệu quả, đồng thời còn cải tiến nâng cao.
Thực trạng đào tạo đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao trong cả
hai giai đoạn đã để lại sự thiếu hụt nghiêm trọng lực lượng lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao cả về số lượng và chất lượng. Hạn chế đáng kể nguồn cung ứng lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao cho quá trình phát triển lực lượng lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao. ở nước ta, tỷ lệ công nhân qua đào tạo còn rất thấp so với lao
động có trình độ THCN - CĐ & ĐH.
2. Một số mặt hạn chế đối với nguồn cung lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao.
Tuy đã đạt được những thành tự như trên nhưng vẫn không tránh khỏi có nhiều tồn
tại mà trong giai đoạn phát triển mới, nhất là tromg điều kiện kinh tế thị trường và kinh tế
mở phải được rà soát, bổ khuyết để tăng cường hơn nữa cả về số lượng và chất lượng đội
ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
2.1. Số lượng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
Để đáp ứng nhu cầu về lao động có trình độ cao trong tổng nhu cầu phát triển nguồn
nhân lực phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Chính phủ đã có các chỉ
tiêu phát triển qua các năm như sau:
So với dân số cả nước thì số lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
quả là rất thấp. Nhưng chính phủ định hướng mục tiêu phát triển đến năm 2010 là đại học
thu hút 20% số người trong độ tuổi từ 18 - 22 tuổi và tập trung nỗ lực vào vấn đề nâng cao
chất lượng.
2.2. Cơ cấu lực lượng lao động có trình độ cao.

c. Về cơ cấu theo lĩnh vực đào tạo.
Về cơ cấu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật theo lĩnh vực hiện nay, một
vấn đề nổi lên là nhiều ngành văn hoá, khoa học và công nghệ thiết yếu chưa có hoặc thiếu
nhiều cán bộ sau Đại học, có nhiều ngành trong các lĩnh vực: khoa học tự nhiên, khoa học
xã hội, khoa học kỹ thuật chưa có người được đào tạo sau đại học. Trong tất cả những
ngành này đều thiếu những người có khả nưang tìm tòi, khám phá ra những phát minh,
sáng chế mới. Đại đa số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao chưa phát huy được
hết khả năng, năng lực của mình trong công việc. Số lượng cung cấp thì rất lớn nhưng chất
lượng đáp ứng được yêu cầu lại rất ít.
d. Cơ cấu theo độ tuổi.
Hiện nay độ tuổi của những người có trình độ đại học trở lên rất cao, lực lượng trẻ
có rất ít, nhất là số có trình độ sau đại học và có học hàm. Nói chung là 20% cán bộ có
trình độ đại học, 32% tiến sỹ, 63% tiến sỹ khoa học đã trên 50 tuổi. Số cán bộ giảng dạy
thâm niên trên 20 năm chiếm 29,28%, số cán bộ giảng dạy Đại học và cao đẳng, ở độ tuổi
dưới 35 chiếm 51,65%.
e. Cơ cấu theo giới.
Về cơ cấu theo giới của đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, vấn
đề nổi bật hiện nay là lao động càng ở trình độ cao thì tỷ lệ nữ giới càng chiếm tỷ lệ nhỏ.
Mặc dù chiếm một tỷ lệ trong các ngành nghề, các lĩnh vực kinh tế xã hội nhưng lao
động có trình độ nữ không thua kém gì so với nam giới. Lao động nữ có khả năng tiếp thu
và phát huy khả nưng của mình chẳng kém gì nam giới. Vì vậy cần có những chính sách
hỗ trợ, khuyến khích và ưu đãi với lao động nữ thật phù hợp. Góp phần thực hiện chiến
lược "dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh, công bằng".
2.3. Chất lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
Chúng ta đã biết rằng, sinh viên là những người có vai trò quan trọng, là lực lượng
lao động năng động nhất, có trình độ học vấn nhạy cảm với thời cuộc và những biến động
xã hội, là lớp người có khả năng phân tích, xem xét cuộc sống và xã hội. Là nguồn nhân

nước ta hiện nay.
1.1. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
Nước ta có nguồn nhân lực rất dồi dào để bổ xung cho lực lượng lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao. Điều đó được thể hiện ở những khía cạnh chủ yếu sau:
Trình độ văn hoá của nguồn nhân lực không ngừng phát triển. Số học sinh tốt
nghiệp PTTH tăng mạnh. Năm 1995 có 83 ngàn học sinh. Năm 1998 đạt tới 1,39 triệu học
sinh, tăng 60%. Dự kiến đến năm 2010 là 2,37 triệu (10). Nguồn nhân lực trẻ chiếm 65,2%
dân số trong độ tuổi từ 16 - 35 khoảng 26 triệu người. Những năm gần đây số lượng công
nhân kỹ thuật đã qua đào tạo kỹ thuật, tay nghề ở các trường dạy nghề chính quy tăng 2,3
lần từ năm 1994 - 1998. Tuy tăng như vậy nhưng so với những năm 1985 - 1986 vẫn chưa
bằng. Sự gia tăng này sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sựn phát triển của lực lượng lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao trong những năm tới.
Tính đến năm năm 1995, cả nước có khoảng 2,7 triệu lao động đã được đào tạo kỹ
thuật tay nghề ở các trường dạy nghề và đào tạo tại chỗ. Theo dự báo số lượng này sẽ tăng
lên 19,7 triệu người vào năm 2010. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao ở nước ta hiện nay chưa được quản lý chặt chẽ, còn thiếu các số liệu đầy đủ như số
lượng, chất lượng, những biến động.
1.2. Tình hình phân bố lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta
hiện nay.
a. Tình hình phân bố theo vùng.
Thực trạng của sự phân bố đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
thời gian qua và nay là tập trung quá lớn ở các thành phố lớn. Điều đó gây nên sự mất cân
đối giữa các vùng một cách sâu sắc, nhiều vùng, nhiều địa phương lại không đáp ứng được
nhu cầu. Do vậy, đã gây ra tình trạng vừa thiếu lại vừa thừa đội ngũ lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao giữa các vùng, gây lên sự lãng phí rất lớn. Đội ngũ lao động này
chủ yếu tập tung ở các thành phố như Hà Nội, TPHCM, Hải Phòng, Quảng Nam Đà
Nẵng ở Hà Nội lực lượng lao động khoa học kỹ thuật chiếm 12,74% lao động của cả
nước. Riêng số lao động có trình độ đại học trở lên chiếm 18,17%. Tỷ lệ này tương ứng ở
Đối với lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao cũng cùng chung
tình trạng, nhưng so với cả nước thì có thấp hơn. Như phân tích ở trên, do sự phân bố giữa
các ngành nghề, các vùng còn thể hiện sự mất cân đối và bất hợp lý, chỗ thì dư thừa, chỗ
thì thiếu, nhiều chỗ đang có nhu cầu về lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
xong vẫn không đáp ứng được. Ví dụ như khu chế xuất Tân Thuận cần tuyển 150000 công
nhân bậc cao nhưng chỉ đáp ứng nổi 3000 lao động này. Tình hình việc làm của lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao được biểu hiện dưới sơ đồ sau:
Hiện tượng thất nghiệp trong giới có học ngày nay có xu hướng ngày càng mở rộng
ở khu vực thành thị. Đó là hiện tượng số học sinh tốt nghiệp các trường đại học không
muốn xa thành phố hoặc không chấp nhận việc làm có thu nhập thấp. Theo báo cáo hằng
năm có khoảng hàng ngàn học sinh tốt nghiệp ra trường, chen nhau tìm việc làm ở Hà Nội,
thành phố HCM, nhưng không tìm được việc, rơi vào tình trạng thất nghiệp. Thậm chí ở
thành phố Hồ Chí Minh hàng vài trăm bác sỹ không có việc làm. Trong khi đó các vùng
nông thôn miền núi lại thiếu nghiêm trọng lao động khoa học kỹ thuật. Số này ở thành thị
muốn có việc làm với thu nhập cao, phải học thêm ít nhất 2 - 3 bằng nữa như ngoại ngữ, sử
dụng vi tính, biết lái xe để thi tuyển vào các văn phòng đại diện của các Công ty nước
ngoài
2.2. Thực trạng sử dụng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
Theo kết quả điều tra tại một số cơ sở về việc sử dụng trình độ chuyên môn nghiệp
vụ và ngành nghề của lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao còn nổi lên nhiều vấn
đề bất hợp lý. Tỷ lệ lao động được sử dụng đúng ngành nghề và trình độ đào tạo còn rất
thấp: Kết quả điều tra mẫu của đề tài KT 08.14 cho thấy tại nhà máy cơ khí Trần Hưng
Đạo trong số 102 cán bộ khoa học kỹ thuật được điều tra thì chỉ có 42 người là được sử
dụng đúng nghề và trình độ chuyên môn, chiếm 42/102. Hay tại Công ty xây dựng điện I,
trong số 307 cán bộ khoa học kỹ thuật thì chỉ có 126 người được sử dụng đúng nghề đúng
trình độ chuyên môn, chiếm 126/307. Như vậy, việc sử dụng lao động chất xám hiện nay
phần đông là không đúng nghề và đúng trình độ chuyên môn. Tình trạng này không

sản xuất đổi mới, hệ thống dây chuyền tự động hoá cao, nhiều công nhân kỹ thuật bậc cao
không còn thích hợp, đặc biệt là yêu cầu về sức khoẻ, sự dẻo dai, tinh nhanh Khi đó số
công nhân này sẽ là sự yếu kém cho các doanh nghiệp liên doanh. Một số được các doanh
nghiệp linh hoạt tạo nguồn vốn, giải quyết cho về theo chế độ thoả thuận. Một số phải nhờ

Trích đoạn Đa dạng hoá cầu về lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao Các giải pháp thuộc về chính sách Nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status