Khảo sát sự nghiệp phê bình văn học của Vương Trí Nhàn - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH Lê Thị Thúy Hằng

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Lời cuối cùng tôi hết sức cám ơn gia đình, người thân và bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ tôi
trong việc thực hiện luận văn.

Trân trọng kính chào
Tác giả luận văn
Lê Thị Thúy Hằng

MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
1.1.Vai trò của phê bình trong đời sống văn học rất quan trọng. Phê bình là “ý thức triết học”
(Biêlinski) của chính nền văn học. Hoạt động phê bình thể hiện khả năng tự ý thức của đời sống văn
học. Đó là dấu hiệu trưởng thành của đời sống văn học và là điều kiện không thể thiếu của một nền
văn học hiện đại: “Phê bình trở thành người bạn đường thường xuyên của văn học và không thể
tưởng tượng được văn học mà lại thiếu phê bình” (Pospelov ). Trong đó nhà phê bình giữ một vị trí
to lớn. Họ là một người đọc chuyên nghiệp có thể phát huy ảnh hưởng ngay cả trong quá trình sáng
tác của nhà văn. Khi giới thiệu, giải thích tác phẩm, chính nhà phê bình đã tiếp tục công việc của
nhà văn, truyền bá tư tưởng cảm xúc của tác giả theo cách riêng. Bằng cách đó, phê bình tác động
lại sáng tác, gợi ý hay nêu vấn đề, kích thích sự tìm tòi của nghệ sĩ. Qua phê bình văn học, nhà văn
có thể tự điều chỉnh mình trong lĩnh vực sáng tác.
Phê bình văn học cũng có tiếng nói tác động đến sự phổ biến tác phẩm và thị hiếu của người
đọc. Nó giải thích, hướng dẫn để người đọc hiểu được cái hay, cái dở của tác phẩm, giúp họ hiểu
đúng chiều sâu tư tưởng của tác phẩm. Từ đó phê bình góp phần cải tạo hoặc nâng cao thị hiếu thẩm
mỹ của công chúng, đánh thức cảm xúc về cái đẹp và tinh thần sáng tạo nơi người đọc.
1.2.Ở nước ta, cho dù nền văn học dân tộc vốn hình thành, phát triển từ sớm nhưng phê bình
văn học với tư cách là một thể loại, một nghề chuyên môn thì lại ra đời khá muộn. Mãi đấn những
năm ba mươi, bốn mươi của thế kỉ XX, mới xuất hiện một số tác phẩm của một số nhà phê bình ,
nhà nghiên cứu chuyên nghiệp như “Phê bình và cảo luận” (1933) của Thiếu Sơn, “Thi nhân Việt
Nam” (1941) của Hoài Thanh- Hoài Chân, “Việt Nam văn học sử yếu” (1941) của Dương Quảng
Hàm, “Nhà văn hiện đại” (1942) của Vũ Ngọc Phan,… Từ năm 1945 đến nay, dù đội ngũ phê bình
đông đảo hơn nhưng lực lượng phê bình chuyên nghiệp rất ít ỏi, các nhà phê bình thực sự có uy tín

được đông đảo các nhà phê bình và bạn đọc đã đón nhận nó. Trên báo Nhân dân chủ nhật ra ngày
8/5/1993, Nguyễn Văn Thành, trong bài “Từ người đến văn” đã cho rằng: “Những kiếp hoa dại
không đi vào phân tích những tác phẩm văn học cụ thể mà thường xuất phát từ hiểu biết con người
nhà văn, kết hợp với ấn tượng khi tiếp xúc với tác phẩm của họ để “tưởng tượng”, suy nghiệm ra
những liên hệ giữa tác giả và tác phẩm”[108]. Bài viết đã phân tích một số nét đặc sắc về cách viết
chân dung của Vương Trí Nhàn và đưa ra những dẫn chứng cụ thể.
Các tác giả khác cũng chỉ ra phong cách phê bình của Vương Trí Nhàn. Ngô Thế Oanh nhận
xét: “Nhưng có lẽ đến “Những kiếp hoa dại Vương Trí Nhàn mới cho ta thấy hết phong cách viết
chân dung của anh. Viết từ sở trường của một nhà phê bình văn học. Nghĩa là luôn luôn nhìn văn
học trong dòng chảy của những biến động. Chỉ viết những gì đặt ra từ những yêu cầu, đòi hỏi của
văn học đương đại”[92]. Cách viết của Vương Trí Nhàn hết sức phong phú, hấp dẫn: “Khi mực
thước trân trọng, khi suồng sã thân mật, anh kéo ta đi cùng với anh qua những tưởng tượng đôi khi
thật phóng túng nhưng bao giờ cũng thú vị. Ta có thể không đồng ý với anh, có thể trao đổi lại,
tranh luận... nhưng bao giờ anh cũng giữ được cái duyên cho ngòi bút của mình”(Bài “Sự tận tâm
nghề nghiệp”, Báo Phụ nữ TP.HCM 30/7/1994) [92]
Gần với ý kiến của Ngô Thế Oanh, trên Tạp chí Văn học năm 1995, qua bài viết “Phác họa
Vương Trí Nhàn từ “Những kiếp hoa dại”, Chu Văn Sơn nhận định: “Có lẽ Vương Trí Nhàn hợp
với chất giọng có vẻ nghịch lý này: Lịch lãm mà suồng sã…Tỏ ra là một cung cách lịch lãm về kiến
văn, sành sõi trong thưởng ngoạn, Vương Trí Nhàn đã đem đến cho Những kiếp hoa dại một vẻ
trang trọng mà thân mật, tinh tế mà bình dị” [101, tr.52]. Còn nhà phê bình Thiếu Mai trong tập
sách Hái giữa đôi bờ thì phát biểu: “Điều dễ nhận thấy trước hết, cũng là điều đáng quý qua những
trang phê bình của Vương Trí Nhàn là một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm trước cái đẹp của nghệ thuật
văn chương cũng như cái đẹp và những nỗi đau trong cuộc đời. Cây bút phê bình này khát khao "tự
đào luyện thành một trí thức chân chính, điều ấy càng ngày càng hiện lên như một mơ ước". Anh
chịu khó học hỏi, tích luỹ thường xuyên cho mình một thứ vốn liếng cơ bản về mọi mặt. Mặt khác
anh có ý thức thu nhặt, lượm lặt các câu chuyện dưới dạng chuyện phiếm, tiếu lâm trong cuộc sống,
cũng như quanh cuộc trò chuyện, tâm sự lúc trà dư tửu hậu của các văn nhân thi sĩ [61, tr. 146).
Hai bai viết của Chu Văn Sơn và Thiếu Mai đã phân tích từ giá trị của tác phẩm đến quan niệm, tư
tưởng, phương pháp giọng điệu phê bình của Vương Trí Nhàn một cách cụ thể, chi tiết.
Trong lời tựa Những kiếp hoa dại, khi tác phẩm này được tái bản năm 2001, Văn Tâm cũng

[100]
Nhìn chung, qua hai tập sách trên, các nhà phê bình và độc giả đánh giá cao những đóng góp
của Vương Trí Nhàn. Trịnh Bá Đĩnh trong bài “Ba kiểu nhà phê bình hiện đại” (trang web
talawas.com) xếp Vương Trí Nhàn vào mẫu nhà bình giải văn học: “Trong số các nhà phê bình nửa
cuối thế kỉ theo tôi Vương Trí Nhàn và Nguyễn Đăng Mạnh cũng thuộc mẫu nhà bình giải văn học.
Vương Trí Nhàn khi viết lời tự thú đã nói: “Tôi thấy mình thuộc một dạng phê bình cổ hơn” (so với
phê bình phân tâm, phê bình cấu trúc, phê bình kí hiệu học) tức là phê bình dựa hẳn vào cảm nghĩ
cá nhân và đặt phê bình vào khu vực của văn chương trước tiên, sau mới là của khoa học”. Dựa
hẳn vào cảm nghĩ cá nhân là dựa hẳn vào thị hiếu và trải nghiệm riêng, quan niệm này ăn khớp với
thực tiễn phê bình nhà văn và tác phẩm của ngòi bút Vương Trí Nhàn. Còn việc coi phê bình cũng
thuộc khu vực của văn chương và là một thể loại tương đương với các thể loại văn học khác thì ta
đã từng thấy ở các nhà phê bình “vị nghệ thuật”[25]. Nguyễn Huệ Chi thì cho rằng “Trong số
những cây bút phê bình lý luận văn học hiện đại, Vương Trí Nhàn là một người từ mấy chục năm
nay đã tạo được một giọng điệu riêng khó lẫn. Ông không phải là người tiếp cận thật sâu một vấn
đề gì đó và triển khai nó đến tận cùng, mà thường vấn đề gì cũng lướt qua một cách nhẹ nhàng,
nhưng lại có những nhận xét khá thâm thúy”(11/4/2006) [7].
Năm 2003, tác phẩm Cây bút đời người của Vương Trí Nhàn đạt giải B Hội Nhà văn Việt
Nam và đã gây ra nhiều ý kiến khác nhau.
Phạm Khải có bài “Đời thường hóa, hay tầm thường hóa?” để trao đổi với Vương Trí Nhàn.
Phạm Khải cho rằng: “Viết về cái tốt để mọi người noi theo, thấy yêu cuộc đời hơn. Viết về cái xấu
để mọi người cảnh giác, tránh xa. Nhưng với trường hợp đối tượng phản ánh là các nhà văn nổi
tiếng đã quá cố, câu hỏi đặt ra là: Viết về cái xấu của họ để làm gì? Để giúp độc giả nhận ra “chân
tướng” của họ ư? Để độc giả bớt yêu tác phẩm của họ hơn? Vả chăng, những điều gọi là xấu ấy ai
kiểm chứng? Chưa nói điều anh cho là xấu chắc gì đã xấu?” [45]
Một số bài viết gần đây của Vương Trí Nhàn được đăng trên mạng cũng gây nhiều phản ứng
khác nhau trong giới phê bình. Như về bài “Một cách nghĩ khác về Nguyễn Khải” (trên các trang
web nguoibanduong.net, viet-studies.info, talawas.org), Nguyễn Huệ Chi nhận xét: “Bài anh Vương
Trí Nhàn sắc sảo quá nhưng như một số bạn bè trao đổi với nhau, cũng khí cay nghiệt quá” [12].
Và mới đây nhất là bài viết “Tô Hoài nhìn từ một khoảng cách gần” (trên trang web
hoinhavanvietnam.vn) làm cho dư luận xôn xao. Nhiều ý kiến đồng tình, nhưng ý kiến phản bác

4.1.Đối tượng nghiên cứu của luận văn là toàn bộ tác phẩm phê bình của Vương Trí Nhàn,
gồm:
- Bước đầu đến với văn học (NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1986)
- Những kiếp hoa dại (NXB Văn nghệ, TP.HCM, 2001)
- Nghiệp văn (NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2001)
- Buồn vui đời viết (NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2000)
- Chuyện cũ văn chương (NXB Văn học, Hà Nội, 2001)
- Cây bút đời người (NXB Trẻ, TP.HCM, 2002) – giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội và Hội nhà
văn Việt Nam
- Ngoài trời lại có trời (NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2003)
- Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, từ đầu thế kỷ cho tới 1945 (
NXB Đại học quốc gia, Hà Nội, 2005)
4.2. Ngoài ra luận văn còn khảo sát so sánh các công trình phê bình có liên quan đến Vương
Trí Nhàn, cùng những sáng tác mà Vương Trí Nhàn đề cập trong trang viết của mình.
4.3. Cuối cùng, việc tham khảo một số tài liệu lý luận về phê bình văn học sẽ giúp cho người
viết có những căn cứ lý thuyết để tiến hành nghiên cứu đề tài.
5.Phương pháp nghiên cứu: Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu và tính chất của đề tài, trong quá
trình thực hiện luận văn, chúng tôi vận dụng đồng thời những phương pháp cơ bản sau đây:
5.1.Phương pháp tập hợp, thống kê, phân loại:
Sự nghiệp phê bình nghiên cứu văn học của Vương Trí Nhàn hết sức phong phú, đa dạng.
Phương pháp tập hợp, thống kê, phân loại sẽ giúp cho việc sưu tập, sắp xếp các tác phẩm phê bình
nghiên cứu của Vương Trí Nhàn theo trật tự thời gian và phân loại theo từng thể tài, từng vấn đề cần
giải quyết để tăng cường chính xác trong nghiên cứu.
5.2.Phương pháp hệ thống:
Người viết sẽ tập hợp sắp xếp lại những ý kiến của Vương Trí Nhàn theo các quan niệm phù
hợp với yêu cầu của luận văn.
5.3.Phương pháp so sánh: gồm có hai cách so sánh nhau:
-Đồng đại: so sánh các quan niệm, nội dung trang viết, phương pháp và phong cách phê bình
văn học của Vương Trí Nhàn với các nhà nghiên cứu khác cùng thời với ông.
-Lịch đại: đối chiếu với những quan niệm, nội dung trang viết, phương pháp và phong cách

Chương 2: Vương Trí Nhàn với văn chương Việt Nam và thế giới
( 60 trang)
2.1.Tìm lại những mùa quá khứ
2.1.1.Những giá trị cổ điển
2.1.2. Những giá trị của buổi giao thời
2.2.Đứng giữa dòng
2.2.1.Dòng thơ ca
2.2.2.Dòng văn xuôi
2.3.Nhìn ra thế giới
2.3.1.Phê bình văn học Nga- Xô viết
2.3.2. Phê bình văn học phương Tây
Chương 3: Vương Trí Nhàn, phương pháp và phong cách phê bình văn học (35 trang)
3.1.Một sự dung hợp nhiều phương pháp
3.1.1.Phác họa những chân dung văn học
3.1.2.Bình và giảng
3.1.3.Cái nhìn đa chiều
3.2.Phong cách phê bình nghệ thuật hay phong cách phê bình báo chí
3.2.1.Những trang văn giàu tính nghệ thuật
3.2.2.Những trang viết giàu chất thông tin
hóa.
Tóm lại, hơn 30 năm, Vương Trí Nhàn đã có một quá trình liên tục tự học hỏi, làm mới
phong cách của mình.
1.1.2 Hơn 40 năm làm phê bình văn học
Về sự nghiệp phê bình văn học, lúc đầu ông chỉ tập trung về mảng văn học đương đại. Trong
tập phê bình – tiểu luận Bước đầu đến với văn học (NXB Tác phẩm mới, Hội nhà văn Việt Nam,
1986), tác giả đã nêu cảm nhận của mình về một số nhà văn hiện đại như Chính Hữu, Phạm Tiến
Duật, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nam Cao... Ở mỗi tác giả, ông chọn ra những câu thơ tiêu
biểu, những truyện ngắn, bút kí để phân tích một số nét đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật và
đánh giá về những đóng góp của họ đối với văn học và cuộc sống hiện nay. Đặc biệt, Vương Trí
Nhàn cũng viết về các bài phê bình. Bước đầu đến với văn học cũng nêu lên một số suy nghĩ của
tác giả về nhà văn, bạn đọc, về các thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn.
Thứ hai là tác phẩm Cánh bướm và đóa hướng dương, viết về chân dung các nhà văn dưới
nhiều lát cắt khác nhau, bằng những trải nghiệm của mình, theo cách riêng của mình. Tập sách phác
họa chân dung 39 nhà văn từ cổ điển tới hiện đại. Với các nhà văn cổ điển hay các nhà văn đã qua
đời từ lâu mà ông chưa có dịp tiếp xúc, Vương Trí Nhàn dành nhiều công sức khảo cứu và khái quát
phong cách của từng người: Tản Đà “tự nhiên, thành thực cùng một chút say sưa”, Ngô Tất Tố
“nhà nho thức thời, ngòi bút tình cảm”, Phan Khôi “hình ảnh còn lại”, Thạch Lam “về với cội
nguồn từ văn hóa”, Vũ Trọng Phụng “say mê và tâm huyết”, Hồ Dzếnh “người lữ hành đơn độc
trong nữa thế kỉ văn học”, Hàn Mặc Tử “hồn thơ siêu thoát”…Nhưng có lẽ đều đặn và sinh động
hơn cả là những trang viết về những đời văn kéo dài suốt hai nửa thế kỉ: Nguyễn Tuân, Xuân Diệu,
Tô Hoài, Nguyên Hồng, Tế Hanh, Thanh Tịnh,… và gần với chúng ta hơn: Nguyễn Khải, Nguyễn
Minh Châu,… Không chỉ qua tác phẩm mà còn qua chính cuộc đời của họ, Vương Trí Nhàn đã khắc
họa rõ nét những chân dung tác giả trong nền văn học nước nhà.
Thứ ba là tập phiếm luận Buồn vui đời viết (NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2000), tập hợp
những bài viết các mục sổ tay văn nghệ, tạp ghi, phiếm luận,… của tác giả trên các tờ báo. Với lối
trò chuyện thân mật, từ kinh nghiệm của một người trong cuộc, Vương Trí Nhàn đã phác họa lại đời
sống văn học với một ít ngóc ngách cụ thể của nó. Qua tập sách, tác giả đã đưa ra những ý kiến của
mình về phê bình văn học như bài “Phê bình trong cơ chế tự thỏa mãn”, “Làng văn có gì vui”,
“Trả giá ắt là đau đớn”, … về nhà văn như các bài “Bao giờ có mặt hàng riêng”, “Nhớ lại một

đó, Cây bút, đời người còn đề cập đến hình ảnh của một số tác giả khác như Nghiêm Đa Văn,
Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Thanh Tịnh,… đặc biệt trong đó tác giả còn tìm hiểu những nhà
phê bình Nhị Ca, Xuân Diệu. Chân dung các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình hiện lên thật đầy đặn và
sinh động. Có những người Vương Trí Nhàn đã từng trình bày qua các tác phẩm trước, ở đây vẫn
được tiếp tục trình bày một cách cụ thể, đầy đủ và đồng thời ông còn đưa ra những cách giải thích
mới về họ. Quả thật qua những trang sách về văn học đương đại này, độc giả có thể có thêm nhiều
bài học bổ ích trong việc tìm hiểu về tác giả và tác phẩm.
Tập tiểu luận, phê bình cuối cùng về mảng văn học trong nước là Nhà văn tiền chiến và quá
trình hiện đại hóa văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX cho tới năm 1945 (NXB Đại học quốc gia,
Hà Nội, 2005). Việc tìm hiểu và đánh giá văn học Việt Nam giai đoạn này có thể tiến hành theo
nhiều hướng. Trong tập sách, tác giả đã xem xét văn học lúc này như hình ảnh của một sự chuyển
biến mạnh mẽ mang ý nghĩa đặc biệt. Nền văn học bấy giờ phát triển theo xu hướng hội nhập với
văn học thế giới và đây là một giai đoạn đẹp đẽ, đáng ghi nhớ trong đời sống tinh thần của dân tộc.
Phần đầu tập sách là những bài trình bày các vấn đề mang tính chất lý luận như giới thuyết về khái
niệm hiện đại, sự phát triển của các thể văn xuôi như phóng sự, tùy bút. Sau đó Vương Trí Nhàn đi
vào các tác giả cụ thể như Hoàng Ngọc Phách, Nhất Linh, Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Vũ Bằng, Thạch
Lam, Nam Cao,… Một số cây bút đã trở thành đối tượng miêu tả và đánh giá của nhiều công trình
nghiên cứu. Ở đây Vương Trí Nhàn “tìm cách chỉ ra cách làm văn học của họ, cách tồn tại của họ
trong văn học cũng như ý nghĩa xã hội mà người ta rút ra từ sự tồn tại này” [74, tr 8]. Đối với một
số trường hợp, ông còn “đi vào cách viết của họ, những đóng góp của họ về mặt hình thức thể loại,
nó cũng là phương diện cho thấy tinh thần hiện đại đã thấp sâu vào trong mỗi nhà văn và chuyển
thành những giá trị nghệ thuật mới mẻ” [74, tr 9].
Mảng văn học nước ngoài cũng là một nội dung nghiên cứu trong các tập sách của Vương
Trí Nhàn. Tập tiểu luận, phê bình Ngoài trời lại có trời (NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2003) tập hợp
chân dung của một số tác giả Nga như Dostoievski, Tchékhov, Meyerhold, tác giả Pháp như
Ehrenbourg, tác giả Mỹ như Hemingway, J. Baldwin, tác giả Anh như Maugham,… Những bài viết
gợi ra nhiều vấn đề về con người và văn học. Ẩn đằng sau nhiều bài viết về văn học nước ngoài vẫn
là những thao thức về đời sống văn học Việt Nam từ những năm 1980 đến nay, như sự cấp thiết
phải thoát khỏi việc sa lầy vào chủ nghĩa quan liêu, làm sao để văn học trở thành chính mình, thành
một tiếng nói trung thực, có ích,…

sâu sắc và độc đáo. Nhiều nhà phê bình đã đồng tình về cách thức phê bình này của Vương Trí
Nhàn và đánh giá ông rất cao.
Cuối cùng, về phong cách và giọng điệu phê phê bình của Vương Trí Nhàn, Ngô Thế Oanh
nhận xét: “Khi mực thước trân trọng, khi suồng sã thân mật, anh kéo ta đi cùng với anh qua những
tưởng tượng đôi khi thật phóng túng nhưng bao giờ cũng thú vị. Ta có thể không đồng ý với anh, có
thể trao đổi lại, tranh luận... nhưng bao giờ anh cũng giữ được cái duyên cho ngòi bút của
mình”(Bài “Sự tận tâm nghề nghiệp”, Báo Phụ nữ TP.HCM 30/7/1994) [92]. Hay một ý kiến khác
của Vũ Mạnh Tần đã khái quát được cách viết của Vương Trí Nhàn: “…là cách viết đa âm, nhiều
giọng điệu khác nhau. Nhiều bài viết mang phong cách báo chí, ngắn gọn, chính luận, có tính thời
sự”(Bài “Có một cách nhìn trong giọng bình văn”, Báo Hà Nội mới, thứ bảy 25-12-1993) [106]
Giọng điệu của Vương Trí Nhàn là giọng điệu của một người trong cuộc, kiến thức uyên bác,
nắm chắc những điều mình viết. Xuất phát từ chỗ đứng của một người trong giới, ông có cách nói
thân mật, tinh tế về những người bạn văn của mình. Điều này tạo nên một giọng điệu riêng khó lẫn
trong giới phê bình hiện nay. Ngoài ra giọng điệu lịch lãm, suồng sã cũng thể hiện phong cách phê
bình báo chí. Đây là một cách viết mới trong văn phê bình thời bấy giờ. Cách viết này tạo không khí
tranh luận dân chủ giữa nhà phê bình- nhà văn- bạn đọc, giúp cho văn phê bình lối cuốn hấp dẫn,
tránh dài dòng tẻ nhạt. Về biện pháp nghệ thuật, Vương Trí Nhàn thường sử dụng biện pháp so
sánh: : “Vương Trí Nhàn cảm nhận văn chương thường ưa thích vận dụng so sánh, liên tưởng nhà
văn này tới nhà văn khác, từ chuyện văn chương tới chuyện làm ăn, sinh hoạt nhằm cụ thể hóa sự lý
giải của mình”(Nguyễn Văn Thành, “Cánh bướm và đoá hướng dương”,Phụ san Việt Nam quân
đội (25/6/1999), [109]. Đây cũng là một biện pháp nghệ thuật được nhiều nhà phê bình vận dụng.
Nhìn chung, các nhà văn, nhà phê bình đã đánh giá cao Vương Trí Nhàn và tác phẩm phê bình
của ông. Các ý kiến bổ sung cho nhau, khá thống nhất. Những đóng góp của Vương Trí Nhàn về
phương pháp và phong cách phê bình đã được nhiều người thừa nhận.
Tuy nhiên cách viết chân dung của Vương Trí Nhàn cũng gây ra một số ý kiến tranh cãi trong
giới phê bình, sáng tác. Như gần đây, các bài viết “Một cách nghĩ khác về Nguyễn Khải” (trên các
trang web nguoibanduong.net. viet-studies.info, talawas.org), “Tô Hoài nhìn từ một khoảng cách
gần” (trên trang web hoinhavanvietnam.vn) đã gây ra nhiều ý kiến, có những người phản bác như
Nguyễn Huệ Chi, Phạm Khải, Phan Thị Vàng Anh (như phần Lịch sử vấn đề mà luận văn đã trình
bày). Điểm chung của các ý kiến này là đều phê phán về việc Vương Trí Nhàn viết về mặt xấu của

của người mới cầm bút cũng đầy rẫy những khó khăn gian khổ như mọi ngành nghề khác: “Đường
đi nước bước của một người mới cầm bút cũng bao gồm mọi chặng như một người thợ mới học
việc, một cán bộ khoa học trẻ trong những bước đầu” [75, tr104]. Người cầm bút nều có những
năng khiếu bẩm sinh thì hết sức may mắn. Nhưng nếu năng khiếu ấy không được rèn luyện thì nhà
văn không thể đạt được thành công. Quá trình rèn luyện phải được bắt đầu một cách tỉ mỉ, cẩn thận.
Người mới cầm bút phải chăm chút cho công việc của mình như những người làm những ngành
nghề khác trong buổi ban đầu. Và những công việc này “đòi hỏi phải thật hết lòng, thật tự nguyện,
không ai bảo mà tự mình buộc mình làm, lăn vào làm, say sưa, mê mải” [75, tr105]. Người cầm bút
phải đến với văn chương bằng tất cả tấm lòng của mình, vì một tình yêu say mê đối với văn chương
chứ không vì một mục đích nào khác. Trong Những kiếp hoa dại, Vương Trí Nhàn cho rằng để
đánh giá nền văn học của một nước thì “xem cách đào tạo những cây bút tiêu biểu sống cả đời bằng
nghề viết và trình độ những cây bút tiêu biểu đó so với các thời đại trước và so với trình độ ở các
nước khác” [72, tr182]. Như vậy, theo Vương Trí Nhàn nhà văn phải là người có cái tâm với nghề
và có quá trình rèn luyện trong một thời gian dài. Ở phần này ông đặc biệt nhấn mạnh: “… nhà văn
là kẻ đời đời khởi nghiệp, cuộc đời người viết chỉ có nghĩa ở chỗ luôn luôn là những cuộc làm lại từ
đầu” [ 72, tr182- 183]. Nhà văn phải luôn cố gắng, tận tụy trong từng tác phẩm, luôn tự làm mới
mình, chinh phục độc giả,… Có như thế, tác phẩm của anh ta mới có chất lượng và tồn tại với thời
gian. Còn nếu nhà văn chủ quan, ỷ lại, không phấn đấu, nhiệt tình với công việc thì tên tuổi của anh
sẽ mất dần đi trong đời sống văn học. George Sand cũng từng lí giải: “Nghệ thuật không phải là
một năng khiếu có thể phát triển mà không cần mở rộng kiến thức về mọi mặt. Cần phải sống, phải
tìm tòi, phải xào nấu lại rất nhiều, phải yêu rất nhiều và chịu nhiều đau khổ, đồng thời không ngừng
kiên trì làm việc” [107, tr121].
Đối với người cầm bút, Vương Trí Nhàn đặt ra một số yêu cầu. Ngoài sự nhạy cảm, tinh tế là
“một đặc điểm nghề nghiệp, một thứ tính trời cho, nhiều khì không hề có ý thức, có gắng gượng”
[72, tr106], ông còn cho rằng người cầm bút phải có một sự từng trải, một sự lịch lãm, và quá trình
làm việc nghiêm túc. Nhà văn phải có vốn sống phong phú, kinh nghiệm về cuộc đời và nếu anh ta
được sống trong những thời đại có nhiều biến động thì anh ta càng tích lũy được nhiều vốn sống:
“Thật đáng ao ước nếu anh luôn luôn được sống giũa những cơn xoáy của thời đại, nếu mọi thăng
trầm của cá nhân anh luôn luôn ăn khớp với mọi biến động của lịch sử, của nhân dân. Ấy là một
may mắn không cùng” [75, tr107]. Chính thực tế phong phú này sẽ là nguồn cảm hứng, chất liệu để

“Lúc đó, người viết như phải phân thân. Vừa làm tất cả công việc như mọi người, vừa phải tách ra
suy xét, tự mình xét mình, rồi tìm cách phô diễn, trao đổi [75, tr109]. Người viết phải tự nhận thức
quan niệm sống của mình, mặt mạnh mặt yếu của mình để tìm ra một con đường phù hợp. Và bằng
vốn sống, văn hóa của mình, người viết sẽ nhận ra nhiều điều quý giá: “Qua cuộc đời mình, từng
trải của mình mà nói những người khác. Từ một chi tiết bình thường đến những quan niệm lớn lao,
biết thứ gì là không cần cho mỗi người viết, biết thứ gì là không thể không mang vào trang sách nếu
mình đã nhập vào nó, đã chiếu rọi cho nó một thứ ánh sáng [ 75, tr109].
Giữa những người cầm bút, tuy mỗi người có một hướng đi riêng, một phong cách riêng
nhưng họ có mối quan hệ với nhau một cách chặt chẽ. Trước hết, nhiều phong cách khác nhau bổ
sung cho nhau: “Cũng giống như mọi nghề mọi ngành, ở đây có đủ bộ, đủ kiểu, đủ phong cách.
Những tính cách khác nhau bổ sung cho nhau” [75, tr111]. Việc trao đổi, trò chuyện với nhau giúp
các nhà văn rút ra kinh nghiệm cho bản thân: “Thường xuyên hơn, kỹ lưỡng hơn là những tâm sự,
những bàn bạc về cuộc đời, những ý nghĩ sau một chuyến đi, một ít điều thu hoạch được qua một
quyển sách. Thảng hoặc có đọc nhau và trực tiếp trao đổi về nhau thì những nhận xét cũng kín đáo
hơn, sắc nhọn hơn” [75, tr111]. Sau những lần trò chuyện, “ít tranh luận, gặp nhau để nghiền ngẫm
những ý nghĩ là chính” [75, tr112] các nhà văn, nhất là những người mới cầm bút tìm thấy cho mình
nhiều bài học. Họ cảm thấy “vừa có phần tự tin hơn, thấy mình hòa hợp trong những băn khoăn lo
lắng của bạn bè. Vừa thêm phần lo lắng cho việc viết, thấy mình phải cố gắng để xứng đáng với mọi
người” [75, tr112]. Như vậy việc tiếp xúc, trao đổi lẫn nhau hết sức bổ ích đối với những người cầm
bút, khiến họ nhận thức được vai trò, giá trị của mình và có thêm động lực để làm việc. Sự tin
tưởng, yêu mến của mọi người thôi thúc họ phải không ngừng nỗ lực để sáng tạo nên những tác
phẩm chất lượng. Thêm vào đó, mối quan hệ giữa những người cầm bút còn là mối quan hệ với lớp
người đi trước: “Một mối quan hệ khác tính chất tình cảm sâu sắc trong mỗi lớp người mới viết còn
là những trao đi đổi lại với lớp người đi trước” [75, tr112] Lớp người đi trước ở đây thường là
những người nổi tiếng, có một vị trí nhất định trong nền văn học bấy giờ. Tên tuổi của họ đã in sâu
vào tâm trí thế hệ trẻ ngay từ khi thế hệ này vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường. Họ có thể được coi
như những người thầy, một số ngời trong lớp nhà văn trẻ còn chưa biết mặt họ: “Chúng tôi tự nhận
là những học trò, dù học trò không bao giờ biết mặt thầy cả”. [75, tr113]. Những bậc tiền bối đã
giúp đỡ những người mới cầm bút một cách nhiệt tình, chu đáo: “Các anh phân tích cặn kẽ và đầy
sức thuyết phục về từng bước đi, từng thành công và thất bại của chúng tôi. Ngược trở lại, chúng tôi

hưởng trực tiếp đến đời sống của họ, giúp họ nắm bắt tình hình xã hội đương thời. Đặc biệt đối với
Vương Trí Nhàn, khi ông tham gia kháng chiến và bắt đầu cầm bút, bạn đọc – những người lính có
ý nghĩa rất quan trọng đối với ông và các nhà văn. Những người lính này hiểu rõ vị trí của mình
trong văn học bấy giờ và ý thức được cuộc sống của họ là một thực tế lớn lao để nhà văn phản ánh.
Vì thế họ phát huy vai trò bạn đọc của mình: “Anh không bằng lòng chỉ là một người đọc thụ động.
Hơn thế nữa, anh còn muốn là một người kiểm tra những điều nói tới trong văn chương. Chính đây
là chỗ xuất phát quan trọng, mà cũng là chỗ khác nhau rõ rệt giữa người đọc hiện nay và những
người đọc trước kia. [75, tr120]. Người đọc không chỉ tiếp nhận tác phẩm để thưởng thức, hiểu rõ
tâm tư tình cảm của nhà văn cũng như các vấn đề của cuộc sống mà còn xem xét lại tác phẩm để
biết nó có phản ánh đúng hiện thực hay không. Qua đó ta thấy người đọc hiện nay đóng vai trò chủ
động và tích cực hơn so với người đọc trước kia. Như vậy nhà phê bình Vương Trí Nhàn đã nhận
thức rất rõ vai trò của bạn đọc – những người lính, ông rút ra một nhận xét: “Một nhận thức quan
trọng đã ăn sâu vào suy nghĩ của người đọc kia. Các anh nắm được sức mạnh lợi hại của văn nghệ.
Các anh dành cho người viết một lòng tin thật sự và mong đợi ở văn nghệ khá nhiều” [75, tr121].
Một lớp người đọc giàu hiểu biết, giàu niềm tin vào nhà văn và nền văn học như thế sẽ góp phần
làm cho văn học phát triển. Những nhà văn chân chính, có lương tâm hẳn sẽ cố gắng không ngừng
để sáng tạo các tác phẩm đáp ứng nhu cầu của thời đại.
Theo Vương Trí Nhàn, đối với bạn đọc – những người lính bấy giờ, văn học có một sự tác
động lớn lao, văn học trở thành vũ khí tuyên truyền cách mạng, góp phần cổ vũ cho công cuộc
kháng chiến của dân tộc. Những tác phẩm văn học thúc giục người lính lên đường chiến đấu: “Đó
là vai trò đặc biệt của nền văn học trong bốn mươi năm cách mạng, kể cả những tác phẩm mới viết
trong những năm chống Mỹ gần đây” [75, tr122]. Và người đọc ngày càng có tình cảm gắn bó với
người viết: “Càng ngày các anh càng có những chỗ thông cảm với người viết, dần dần nắm chắc
tiếng nói riêng của nghệ thuật, thấu hiểu cho những vui buồn của một người trong nghề” [75,
tr122]. Với tình cảm thân thiết này, người đọc phản ánh, trao đổi ý kiến với người viết. Tác phẩm
văn học nhận được tiếng vọng và sự cộng hưởng của độc giả. Một bài văn, bài thơ khi ra đời, đều
nhận ngay được sự khen chê của công chúng: “Kịp đến khi đôi bên thân thiết như bạn bè, người
chiến sĩ sẽ nhờ người viết trao đổi thêm ý nọ ý kia, và ngược trở lại, mạnh dạn nói thêm ý kiến của
mình về các tác phẩm” [75, tr122].
Vương Trí Nhàn đặc biệt nhấn mạnh rằng đối với người mới cầm bút, việc thiết lập được mối

cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai
cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [60, tr387]. Nhân vật tiểu thuyết là một loại nhân vật đặc
biệt, khác hẳn với nhân vật sử thi, nhân vật kịch. Trong các bài viết của mình, Vương Trí Nhàn chủ
yếu trình bày quan niệm về nhân vật tiểu thuyết. Ông cho rằng: “Một số tính cách trong các tiểu
thuyết của ta hiện nay mặc dù đã được những tay nghề thành thạo miêu tả, khá tinh tế, hấp dẫn,
nhưng sao vẫn cứ như đứa trẻ đứng trước người lớn. Ít nhiều “họ” còn thiếu sinh sắc” [75, tr142].
Sau đó ông đưa ra lý do để lý giải vấn đề này. Đặc điểm của các thể loại văn học nói chung và tiểu
thuyết nói riêng là: “Về đại thể, thế giới trong tác phẩm là một thế giới dễ hiểu hơn so với cuộc đời
thực. Cuộc sống bao giờ cũng phức tạp, nó triển khai vô tận trong không gian và nối tiếp thường
xuyên trong thời gian. Người nghệ sĩ mang lại cho nó một sự hạn chế, ít thì một vài câu thơ, cùng
lắm độ nghìn trang tiểu thuyết. Trong một khung cảnh nhất định, nhân vật văn học phức tạp nhất
cũng bị thu hẹp, bị cắt xén” [75, tr142]. Như vậy hiện thực đời sống và nhân vật trong tác phẩm bao
giờ cũng bị giới hạn hơn so với thực tế. Tác phẩm văn học chỉ là một lát cắt của cuộc sống, phản
ánh cuộc sống ở một khía cạnh nào đó. Nhân vật trong tác phẩm là phương tiện cơ bản để nhà văn
khái quát cuộc sống hiện thực một cách hình tượng. Vì vậy hình ảnh nhân vật cũng chỉ phản ánh
một phần nào đó của hình ảnh con người trong cuộc sống. Tiếp theo Vương Trí Nhàn rút ra ý kiến:
“Nhân vật không hiện lên được, bởi nó chưa có cái động cơ thúc đẩy mọi hành động cử chỉ, quy
định mọi mặt tính cách, cũng tức là chưa có bộ mặt thật. Và vì lý do ở đây, như chúng ta đều biết,
trong một số trường hợp, là do người viết còn dừng lại ở những biểu hiện thuộc về bề nổi của nhân
vật” [75, tr142-143]. Theo ý kiến của nhà phê bình này nhân vật không hiện lên sinh động được vì
nhà văn mới chỉ miêu tả ở những biểu hiện bề ngoài như tiểu sử, nghề nghiệp, hành động, … chưa
đi sâu tìm hiểu thế giới bên trong phong phú của nhân vật. Vì lẽ đó, tiểu thuyết phải khắc họa được
hoàn cảnh, cuộc đời, số phận của nhân vật, đặc biệt là sự phát triển tính cách của nhân vật: “Có
điều, nói tới số phận, cái chính vẫn là xem xem có phải tác phẩm đã tìm thấy quy luật phát triển của
nhân vật, chỉ rõ nhân vật trong nhiều bình diện tính cách của nó” [75, tr143]. Tính cách theo ý
nghĩa chung nhất, là sự thể hiện các phẩm chất xã hội lịch sử của con người qua các đặc điểm cá
nhân, gắn liền với phẩm chất tâm sinh lý của họ. Điều quan trọng đối với nhà văn là phải nắm được
mối liên hệ bên trong của tính cách: “Thực chất của số phận là mối liên hệ bên trong của tính cách,
cái thần của tính cách, do hoàn cảnh quy định. Khi đã nắm được cái đó rồi, thì dựng lại một quảng
đời ngắn, hay đi vào nhân vật từ bé đến lớn, là chuyện tùy ý, đằng nào cũng được” [75, tr144]. Tính

họ, và trong việc dựng lên nhân vật, cái chính là phải thấy mỗi cá nhân đó gợi mở không cùng về
nhiều phía, tâm tư nhiều tầng, nhiều lớp phức tạp, ràng rịt với nhau, điều cuối cùng về nhân vật
chưa được nói ra, nên tất cả các phía các mặt đều cần dò tìm khai thác” [75, tr149].
1.2.1.2.2. Quan niệm về truyện ngắn
Truyện ngắn là một thể loại khá phổ biến trong sáng tác của nhà văn. Nó gần với tiểu thuyết
hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời. Truyện ngắn có những đặc tính riêng về
thể loại và người viết phải tuân theo những điều đó. Tuy nhiên cũng như các thể loại khác, truyện
ngắn cũng cần được sáng tạo. Trong các bài viết của mình, Vương Trí Nhàn đã đề cập đến sự sáng
tạo trong truyện ngắn. Ngay từ đầu ông đã khẳng định rằng: “Việc đi ngược quy phạm lại luôn có
sức mời gọi những ngòi bút độc đáo” [75, tr150]. Ông đưa ra một số ví dụ về vấn đề truyện “không
có chuyện”. Lối viết này đã được nhà văn Nga Pauxtôpxki sử dụng rất thành công và được giới
thiệu vào nước ta những năm 59 – 60. Một trong những nhà văn Việt Nam sử dụng lối viết này là
Nguyễn Công Hoan. Truyện của ông là “những mảnh đời, những cảnh đời nho nhỏ” [75, tr151].
Tuy nhiên bên cạnh đó, nhiều nhà văn vẫn viết loại truyện “bao quát cả một đời người” như Nam
Cao, Thạch Lam. Tình hình truyện ngắn Việt Nam lúc bấy giờ phản ánh hai quy tắc lớn của truyện
ngắn là: truyện phải có chuyện và chuyện chỉ cắt ra một khúc một đoạn, trong cả cuộc sống. Theo
Vương Trí Nhàn, ý kiến của ông về việc này là: “Tính trên số lượng thuần túy, những truyện tuân
thủ quy tắc vẫn nhiều hơn, nhưng chính vì thế mỗi lần được đọc những truyện không tuân theo quy
tắc, chúng ta thấy có chút ý vị riêng” [75, tr151].
Sau đó ông trình bày về các phong cách truyện ngắn của các nhà văn khác nhau. Những
phong cách này hết sức đa dạng phong phú, mỗi người có một vẻ riêng. Ông đi sâu vào phân tích
một số trường hợp nhà văn có phong cách độc đáo như Nam Cao, Thạch Lam, Nguyễn Tuân,… Với
Vương Trí Nhàn, phong cách của người viết truyện ngắn là một yếu tố rất quan trọng: “Cái chất
riêng của ngòi bút, điều ấy vốn là đòi hỏi chung cho mọi thể tài, đến truyện ngắn cũng trở nên một
đòi hỏi bắt buộc” [75, tr157]. Quá trình tìm tòi để có được phong cách riêng quả là gian nan và vất
vả: “Con đường để một nhà văn đạt tới thế giới truyện ngắn riêng của mình, đôi khi là rất giản dị,
nhưng thông thường, rất quanh co phức tạp” [75, tr157].
Như vậy, sự sáng tạo trong truyện ngắn là một vấn đề đáng quan tâm. Nó góp phần tạo nên
phong cách của nhà văn. Nhà văn cần tích cực học hỏi tinh hoa của dân tộc cũng như thế giới để tạo
sự đổi mới trong sáng tác của mình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status