Tài liệu Đề tài nghiên cứu: Khảo sát điền dã văn học người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 96

Đề tài nghiên cứu: Khảo sát
điền dã văn học người Hoa ở
Thành phố Hồ Chí Minh

1
MỤC LỤC
Đề tài nghiên cứu: Khảo sát điền dã văn học người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh 1
1
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn học người Hoa là một mảng khá lớn, khá phát triển, và là thành
phần cấu thành khá quan trọng không thể thiếu trong kho tàng văn học Việt
2
Nam. Vào khoảng nửa cuối thế kỷ 17, văn học người Hoa ở miền Nam Việt
Nam đã xuất hiện Hà Tiên thập vịnh, tập thơ viết bằng chữ Hán với hơn 300
bài thơ của hơn 30 tác giả Việt, Hoa. Thế kỷ 18, văn học người Hoa còn được
biết đến bởi nhóm Sơn Hội (Thi xã Bình Dương) ở Gia Định, tập hợp nhiều trí
thức người Hoa, nổi tiếng có Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Diệp Minh
Phụng, Hoàng Ngọc Uẩn, Vương Kế Sanh… Đầu thế kỷ 19, văn học người
Hoa ở Trung và Nam bộ còn xuất hiện rất nhiều tên tuổi như Lý Văn Phức,
Phạm Phú Thứ, Trần Tiễn Thành, Lâm Duy Nghĩa, Trương Hảo Hợp….
Có thể thấy rằng, văn học người Hoa ở Trung và Nam bộ nói chung,
thành phố Hồ Chí Minh nói riêng rất phát triển, thế nhưng số người để tâm
vào sưu tầm, chỉnh lý và nghiên cứu văn học người Hoa thật không nhiều, nếu
không muốn nói rằng thật hiếm, ngoài những tên tuổi nổi tiếng như Trịnh Hoài
Đức, Ngô Nhân Tĩnh, … được chú ý nghiên cứu, các tác giả hầu như không
được biết đến, đặc biệt là tình hình văn học người Hoa Việt Nam kể từ cuối thế
kỷ 19 cho tới nay. Có thể nói, trong giới học giả hầu như không ai hiểu một
cách tường tận về tình hình phát triển cũng như thành tựu của dòng văn học
này từ cuốI thế kỷ 19 đến nay. Do đó chúng tôi quyết định nghiên cứu về mảng

văn học người Hoa. Trên đây là những thao tác cơ bản trong quá trình chúng
tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này.
5. Giới hạn của đề tài
Tìm ra những tác phẩm và tác giả văn học người Hoa, đặt chúng trong
tiến trình phát triển của văn học người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, sau đó
tiến hành giới thiệu về những tác giả, tác phẩm đó.
Địa bàn chúng tôi khảo sát, chủ yếu những khu vực có nhiều người Hoa
sinh sống trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt các di tích lịch sử, các
tổ chức xuất bản…có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với cộng đồng người
Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ những năm cuối thập
niên 80 của thế kỷ 17 đến nay, tức tính từ thời điểm người Hoa bắt đầu xuất
hiện sinh sống ở nơi này với quy mô lớn.
Nhắc đến khái niệm văn học của người Hoa thành phố Hồ Chí Minh, do
bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù, ắt có một bộ phận không nhỏ viết
bằng chữ Nôm hoặc chữ Quốc ngữ, nhưng ở đây chúng tôi chỉ nhắm vào
những tác phẩm của người Hoa được viết bằng Hán văn. Dẫu biết rằng làm như
4
vậy chưa hẳn hợp lý, nhưng do thời gian thực hiện đề tài có hạn, người Hoa ở
thành phố Hồ Chí Minh trong quá khứ lại từng trải qua nhiều lần bị ép buộc
nhập tịch Việt, thế nên việc xác định các tác giả người Việt gốc Hoa, hiện dùng
Việt văn để sáng tác thật không đơn giản.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
Công trình nghiên cứu này góp phần vào việc bảo lưu và hệ thống hóa
các tài liệu văn học của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh. Mặt khác công
trình cũng cung cấp phần nào tư liệu cho người muốn tìm hiểu về văn học
người Hoa như: sinh viên ngành văn, Trung Quốc học, Đông Phương học, Văn
hóa học, Hán Nôm, các học viên cao học có chuyên ngành liên quan muốn tìm
hiểu…. Sâu xa hơn là có thể góp phần vào việc bảo tồn các giá trị văn hóa tinh
thần của cộng đồng người Hoa nói riêng và của nước Việt Nam nói chung, tạo
ra sự gắn kết tinh thần giữa cộng đồng người Hoa với tinh thần dân tộc Việt

đông người Hoa nhất ở nước ta hiện nay. Theo các tài liệu lịch sử, người Hoa
đến cư trú ở các vùng phía Nam nước ta vào những năm thuộc thập niên 80 của
thế kỷ XVII, nhưng xuất hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh với số lượng lớn vào
khoảng những năm 1778 cùng với sự thành lập của trung tâm người Hoa ở Chợ
Lớn.
Chợ Lớn xưa được gọi là “xứ Sài Gòn”, nguồn gốc của tên đất Sài Gòn
hiện giới nghiên cứu còn đang tranh luận, chưa ai đưa giả thiết đủ tính thuyết
phục. Có thể ngày xưa, người bản địa sống nơi đất cao, rừng cây gòn, nay còn
dấu ấn là Phú Lâm, nhưng điều chắc chắn là phía bắc vùng Chợ Lớn khá cao,
người Việt dành xây cất chùa chiền, thí dụ như chùa Giác Lâm, chùa Cây Mai,
chùa Gò…. Từ giồng đất này, chạy thẳng xuống vùng đồng bằng lại gặp khu
vực thấp lè tè ăn xuống phía Nam, đến ngọn rạch Bến Nghé. Con rạch này ăn
thông ra sông Sài Gòn. Ở Bến Nhà Rồng thuận lợi cho việc chở lúa gạo ra bến
cảng.
Người Hoa đến cư ngụ ở nước ta, đa số là nông dân, những người lao
động bần cùng của nước Trung Hoa cũ, sống cơ cực nghèo nàn và chịu cảnh
chiến tranh tàn phá liên miên nên buộc phải tha phương cầu thực. Trong số đó
có một số quan binh của triều đình nhà Minh chạy sang Việt Nam với ý nguyện
phản Thanh phục Minh; việc di dân ra nước ngoài với số lượng lớn phải mãi
đến khi cách mạng Trung Quốc thành công năm 1949, mới tạm thời chấm dứt.
Có thể chia người Hoa ở Nam bộ thành hai bộ phận chính tương ứng với
thời điểm và lý do di trú: bộ phận thứ nhất bao gồm những người Hoa vốn theo
7
đường lối phản Thanh phục Minh qua Việt Nam tỵ nạn chính trị vào những
năm nửa cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, như nhóm Trần Thượng Xuyên,
Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu và hậu duệ của họ, nhóm này được gọi chung là
nhóm Minh hương; bộ phận thứ hai gồm những người Hoa sang Việt Nam làm
ăn sinh sống từ giữa thế kỷ XVIII đến nay, nhóm này từng được gọi là người
Thanh để phân biệt với người Minh hương. Quá trình Việt hóa của hai bộ phận
này vì thế cũng khác nhau về tính chất: nếu những người như Phụ quốc Đô đốc

Âu.
Người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh phần lớn là những người đến từ
các tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến và các vùng đồng bằng duyên hải phía Nam
Trung Quốc, trong đó đông nhất là người Triều Châu (thuộc tỉnh Quảng Đông).
Người Hoa có chung một chữ viết, gọi là chữ Hán, hoặc chữ Hoa, nhưng tiếng
nói lại hoàn toàn khác nhau. Tiếng Quảng Đông và tiếng Triều Châu là hai
ngôn ngữ thông dụng trong đồng bào Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt
là tiếng Quảng Đông thường được sử dụng rộng rãi hơn nhiều so với hệ thống
các tiếng nói khác. Tiếng Phúc Kiến, tiếng Hải Nam và tiếng Hẹ nhìn chung
được sử dụng ở phạm vi hẹp hơn. Đồng thời đồng bào Hoa rất yêu mến chữ
Hoa và tiếng nói địa phương của mình.
Là một trong những bộ phận cấu thành của cộng đồng 54 dân tộc anh
em trên mảnh đất Việt Nam, đồng bào người Hoa đã cùng các động đồng cư
dân khác không ngừng khai hoang mở cõi, xây dựng nên một miền đất trù phú
qua các thời kỳ lịch sử giữ nước và dựng nước, ngày nay cùng nhau tiến lên
xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng một xã hội ngày càng yên bình, ấm no và
hạnh phúc hơn.
Là một trong những tộc người cùng làm chủ đất nước, nhất là ở các tỉnh
phía Nam, đồng bào người Hoa tự hào có các mối quan hệ bà con thân thiện
với những người Hoa khắp năm châu, tạo những điều kiện thuận lợi kêu gọi,
hợp tác hội nhập, góp phần xây dựng đất nước. Cộng đồng dân cư mang tính
đặc trưng cùng nền văn hoá phương Đông này, đến nước ta cũng như các nước
9
Đông Nam Á khác, họ đã sớm hoà nhập vào khối cộng đồng dân cư bản địa,
cùng đồng cam cộng khổ để xây dựng đất nước.
Về văn hóa cảnh quan, người Hoa đến đây cùng với người Việt vàmột số
cộng đồng các dân tộc anh em khác đã làm biến đổi vùng đất hoang sơ chỉ có
nước mênh mông (như sứ giả nhà Nguyên trên đường đến Cao Miên đã ghi
lại) thành một vùng đất phì nhiêu, trù phú; lịch sử đã ghi nhận sự đóng góp
của cha con Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích tại vùng đất cực tây Nam Bộ, cũng

đặc thù, vừa hoà nhập với các cộng đồng khác, vừa giữ được những đặc điểm
riêng có tính ưu trội của riêng mình.
Về văn hóa tinh thần, người Hoa đến vùng Nam Bộ và Sài Gòn - Chợ Lớn
mang theo một nền văn hóa đã phát triển phong phú, đa dạng và đặc sắc.
Trước hết là văn hóa tín ngưỡng, tâm linh với việc thờ cúng rất nhiều
nhân thần và nhiên thần, hai hệ thống thần linh đã ăn sâu vào tâm thức của họ.
Về nhân thần có những thánh nhân được tôn thờ và truyền tụng trong đời sống
tinh thần của cộng đồng như Quan Công, Bao Công, Bổn Đầu Công, Bà Thiên
Hậu, Quan Âm Bồ Tát… Về nhiên thần cũng có rất nhiều biểu tượng thiêng
liêng được tôn thờ, như Ngọc Hoàng - Thượng Đế, Thổ Công - Táo Quân,
Thần Tài, Phật Di Lặc…. Các công trình kiến trúc tôn giáo, tâm linh uy nghi
được dựng lên: như miếu Thiên Hậu (Hội quán Tuệ Thành), Chùa Ông (Hội
quán Nghĩa An), Nhị Phủ Miếu (Chùa Ông Bổn), Quỳnh Phủ Hội quán, Hội
quán Sùng Chính và Chùa Quan Âm (Hội quán Ôn Lăng)…. Cùng với các nghi
lễ trong những ngày lễ tết, như Nguyên Đán, Nguyên Tiêu, Thanh Minh, Hàn
Thực, Đoan Ngọ, Trung Nguyên, Thượng Nguyên… làm cho đời sống tâm linh
của người Hoa vừa thiêng liêng vừa huyền ảo nhưng vẫn gắn với đời sống nhân
sinh của con người. Có người cho rằng: thông qua hệ thống tín ngưỡng, tâm
linh và các tục lệ, lễ thức, nhân cách và tâm lý người Hoa được hình thành, góp
phần củng cố các quan hệ gia đình, ý thức cộng đồng hướng tới những ước
vọng về một cuộc sống an sinh, bền vững.
Văn hóa nghệ thuật của người Hoa cũng hết sức phong phú với các loại
hình dân ca, dân vũ và các loại nhạc cụ đặc sắc. Dân ca có các làn điệu hát
Quảng, hát Tiều, dân vũ có múa lân - sư - rồng và dàn nhạc có nhạc Xã… làm
tăng thêm tính phong phú đa dạng, tính đặc sắc đặc thù cho văn hóa Nam Bộ
nói chung và Sài Gòn - Chợ Lớn nói riêng.
11
Nền kinh tế - văn hoá nghệ thuật cổ đại hưng thịnh một thời của Mạc
Cửu, Mạc Thiên Tích với "Thi đàn chiêu anh các", hay Gia Định tam gia với hệ
thống các tác phẩm nổi tiếng như Gia Định tam gia thi, Gia Định thành thông

càng sôi nổi, nhộn nhịp, phát triển theo chiều hướng đi lên. Những năm qua, họ
đã đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng kinh tế của thành phố và góp phần
giải quyết công ăn việc làm cho hàng chục ngàn lao động của thành phố.
Tuy sống ở khu vực gần như riêng biệt, nhưng từ lâu, người Việt và
người Hoa vẫn khăng khít trong việc làm ăn mua bán; lại giống nhau trên nét
lớn về tín ngưỡng dân gian, đa thần, thờ Phật, thờ Quan Công, ăn Tết âm lịch,
mùng 5 tháng 5 (Đoan Ngọ), ăn rằm tháng 7, vui tiết trung thu….Nhưng ở
đồng bào người Hoa có một số mặt tích cực, cần được nghiên cứu và đề cao:
- Hiếu khách, nhớ ơn bạn bè, đã mang ơn thì nhớ ơn rất bền lâu.
- Lấy chữ Tín làm đầu, đã hứa là giữ lời hứa mặc dầu bị thiệt thòi. Trả
nợ đúng thời hạn, chấp nhận bị lỗ vốn khi hàng hóa sụt giá thình lình. Không
thích dùng giấy tờ, giao kèo, hoặc kiện tụng đến cửa quan. Giải quyết êm thấm
nội bộ là tốt nhất.
- Không tự ái vụn vặt vì lời ăn tiếng nói lúc xã giao, giúp đỡ tận tình với
bạn bè.
- Gắn bó với người Việt trong giai đoạn chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ. Thời Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, người Hoa ở Hội kín đã trợ
giúp nghĩa quân, mặc dầu việc lớn không thành, nhưng những đóng góp của họ
là không thể phủ nhận. Công nhân, lớp người nghèo thành thị người Hoa đã
hưởng ứng những cuộc tranh đấu giai đoạn khi vừa có Đảng, thời kỳ kháng
chiến chống Pháp, chống Mỹ. Nhiều người Hoa đã can đảm hưởng ứng lời kêu
gọi của Đảng của cách mạng, thậm chí thân sa vào vòng tù đày nơi khám Chí
Hòa, nơi nhà tù Côn Đảo, nhưng họ vẫn quyết một lòng trung trinh với Đảng
với đất nước. Lòng từ thiện của người Hoa còn biểu hiện rõ rệt trong các phong
trào xóa đói giảm nghèo, quyên góp cứu trợ đồng bào khi thiên tai, lũ lụt.
1.3. Tình hình chung về văn học trong cộng đồng người Hoa ở thành
phố Hồ Chí Minh
Người Hoa đến Việt Nam cư trú lâu dài, đã mang theo những hoài cảm
lẫn văn hóa vùng đất tổ. Con cháu họ tiếp tục được thừa kế văn hóa của tổ tiên
13

sự phát triển văn học bạch thoại, đặc biệt là thơ và tản văn mới. Từ cuối thập
14
niên 40 đến đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, trong số những di dân người Hoa
này đã xuất hiện không ít những nhân tài và những con người lòng tràn đầy
nhiệt huyết đối với văn học, như Đặng Hồng Nho, Hoắc Văn, La Phong, Diệp
Truyền Hoa, Trần Hữu Cầm, Triệu Đại Độn Có thể nói đây là những người đi
đầu trong việc tạo ra đỉnh cao thơ hiện đại và thơ cổ ở cả hai thập niên 60 và
70.Giai đoạn này có khá nhiều tác phẩm được xuất bản, như Thập nhị thi tập,
Tượng Nham cốc thi diệp, Thuỷ thủ, Kiếp Dư ngâm thảo, Thính Vũ lâu thi thảo,
Long Trai thi tập, Diệp Truyền Hoa thi tập, Hiến cấp ngã đích ái nhân, Thuỷ
chi mê, Bút luỹ, Phong xa, Trung học sinh, Mê phong…. Về thành tựu đa dạng
phong phú của văn học ở giai đoạn này, trước mắt vẫn chưa có một công trình
nghiên cứu nào xoáy vào nội dung nêu trên, lại thêm các công trình trên phần
nhiều thất lạc, hiện chúng tôi chỉ tìm lại được khoảng 50% số tài liệu nêu trên.
Giai đoạn thứ tư, giai đoạn tiềm tàng của văn học Hoa văn. Sau giải
phóng miền Nam năm 1975 đến trước ngày đất nước bắt đầu mở cửa, văn học
Hoa văn ở trạng thái lắng xuống bởi giáo dục Hoa văn bị đình trệ suốt hơn 10
năm, hình thành một thời văn hóa trống rỗng của người Hoa. Nhìn chung cũng
vì kinh tế khó khăn nên những người chấp bút đành phải gác bút để tìm kế sinh
nhai, không ai còn tâm trí dành cho việc sáng tác. Một bộ phận giới trí thức và
nhân sĩ trung lưu ngày trước cũng lần lượt tìm đường ra nước ngoài định cư.
Những nhân tố kể trên cùng với nhiều lý do khác khiến cho văn học Hoa văn
không còn được như trước nữa.
Giai đoạn sau khi nước ta cải cách mở cửa đến nay, trước mắt ở thành
phố Hồ Chí Minh chỉ còn có một tờ báo Hoa văn là báo Sài Gòn Giải Phóng, từ
năm 1987 báo này đã thành lập “Câu lạc bộ Văn hữu” (Câu lạc bộ bạn văn),
câu lạc bộ này đã tiếp nhận tất cả các bạn văn ở tờ phụ san Văn nghệ vốn định
kỳ hàng tuần phát hành, tạo không khí cho các văn sĩ chấp bút và sáng tác. Từ
năm 1990, hoạt động văn học Hoa văn phát triển mạnh trở lại. Ở giai đoạn này,
ngoài những cây bút đã nổi danh trước giải phóng sau một thời gian dài gác bút

dùng chữ Hán sáng tác trên khắp toàn cầu. Ngoài ra, các nhà văn người Hoa
còn có cơ hội tham dự Hội nghị văn học Hoa văn thế giới tổ chức ở khắp mọi
nơi trên thế giới.
16
Chương II
CÁC TÁC GIẢ TÁC PHẨM VĂN HỌC HOA VĂN
2.1. Các tác giả tác phẩm văn học Hoa văn trước khi Pháp đánh chiếm
miền Nam
Văn học Hoa văn trong thời gian này phát triển hết sức rực rỡ, tiêu biểu
nhất có Gia Định Sơn hội 嘉定山淩. Gia Định Sơn hội hoạt động vào khoảng
cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, thành phần gồm có các nhà thơ: Chỉ sơn
Trịnh Hoài Đức 止山鄭懷德, Nhữ sơn Ngô Nhân Tĩnh 汝山吳人靜, Kì sơn
Diệp Minh Phụng 祁山葉明鳳, Phục sơn Vương Kế Sanh 伏山王繼生, Hội
sơn Huỳnh Ngọc Uẩn 淩山黃玉淩. Bạch Mai thi xã thì do sư trụ trì chùa Cây
Mai là Hoằng Ân Sang 殷弘創 lập ra, có rất nhiều người Việt Nam và người
Minh Hương tham gia sáng tác Nôm văn và Hán văn. Theo cuốn “Địa chí văn
hóa Thành phố Hồ Chí Minh” cuốn 1, Cao Tự Thanh đã phân tích: sự xuất hiện
của Sơn hội đã đóng góp một phần quan trọng trong tiến trình văn hóa từ đó về
sau của Việt Nam nói chung, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Ngày nay, các
tác phẩm của các thi nhân trong Sơn hội và một số thi nhân giai đoạn sau còn
tồn tại như: Gia Định tam gia thi 嘉定三家淩 thu thập thơ ca của Trịnh Hoài
Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh; Gia Định thành thông chí 嘉定城通
誌 , Cấn Trai thi tập 艮淩詩集 , Gia Định tam thập cảnh 嘉定三十景 của
Trịnh Hoài Đức; Nhất thống địa dư chí 一統地輿誌 , Hoa Nguyên thi thảo 淩
原淩草 của Lê Quang Định; Thập Anh thi tập 拾英詩集, Thập Anh văn tập 拾
英文集 của Ngô Nhân Tĩnh, Trương Mộng Mai thi tập 淩淩梅淩集 hay Mộng
Mai đình thi thảo 夢梅梅亭詩草 của Trương Hảo Hợp,… nghiễm nhiên được
coi là di sản Việt Nam.
17
2.1.1. Gia Định tam gia thi 嘉定三家詩 do Trịnh Hoài Đức khắc in,

2.1.4. Thập Anh văn tập 拾英文集 , văn tập gồm 187 bài kinh nghĩa
của Ngô Nhân Tĩnh. Sách do thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển
tàng, bản viết tay, ký hiệu A.1679.
2.1.5. Mộng Mai đình thi thảo 斋梅亭斋草, gồm 170 bài thơ do Trương
Hảo Hợp hiệu Lượng Trai sáng tác khi đi sứ Trung Quốc. Sách do thư viện
Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội điển tàng, bản viết tay, ký hiệu A. 1529.
2.2. Các tác giả tác phẩm văn học Hoa văn từ những năm 40 đến
những năm đầu thập niên 70
Chợ Lớn đương thời có khoảng 16 tờ báo Hoa văn lớn nhỏ, mỗi tờ phụ
san báo giấy đều lập ra trang “văn nghệ” là nơi để các tác giả Hoa văn thi triển
tài năng. Các thi xã, văn xã cũng dần dần thành lập, có vài thi xã chỉ có một hai
người, có nhà thơ cùng lúc tham gia nhiều thi xã. Ví dụ như, Tồn tại thi xã 存
在詩社 trong những năm 70 có các thành viên: Ngân Phát 銀髮 , Trọng Thu 仲
秋 , Ngã Môn 我門 (Huỳnh Kỷ Nguyên 黃紀原), Dược Hà 藥河 (Trần Bổn
Minh 陳本銘), Cổ Huyền 古弦 và Tạ Nguyệt 射月; Hải Vận văn xã 海韻文社
có Từ Trác Anh 徐卓英 , Hà Dã 淩野, Thôn Phu 村夫, Lê Khải Khanh 黎淩淩,
Mộng Linh 夢玲; Đào Thanh văn xã 濤聲文社 có Duẫn Linh 尹玲, Tư Băng
斯淩, Hiển Huy 顯輝, Dư Huyền 餘弦, Hữu Ái Linh 友愛玲, Xuân Mộng 春
夢, Trần Quốc Chính 陳國正; Tư Tập văn xã 思集文社 có Thu Mộng 秋夢,
Hoài Ngọc Tử 懷玉子, Thi Hán Uy 施漢威, Dật Tử 逸子; Bôn Lưu thi xã 奔
流詩社 có Dũ Dân 淩民, Lý Hy Kiện 李希健, Phiêu Bạc 飄泊, Hồng Phụ
Quốc 洪輔國; Phiêu Phiêu thi xã 飄飄詩社 có Lý Chí Thành 李志成, Trần
Hằng Hạnh 陳恒行, Tây Mục 西牧, Thi Minh Đông 施明東; Thư Sinh văn xã
19
書生文社 có Lô Siêu Hồng 盧超虹, Ngải Hồng 艾虹, Hiểu Tinh 曉星; Văn
Nghệ xã 文藝社 có Tạ Chấn Dục 謝振煜… Ngoài ra có bộ phận tác giả không
tham gia một thi xã hay văn xã nào, như: Đỗ Phong Nhân 杜風人, Kỳ Dị 奇異,
Ngạc Lục 淩綠, Kiếm Minh 劍鳴, Thái Dương 太陽, Ngô Kiện Phù 吳健孚,
Trần Tuyết Anh 陳雪英, Dục Nhật 浴日, Khí Như Hồng 氣如虹, Trần Mộng
Thơ 陳夢詩, Trần Xuyên Chiết 陳川浙, Huỳnh Quảng Cơ 黃廣基 . Đầu thập

từ những năm 40 trở đi đã xuất bản nhiều cuốn từ điển, tự điển, sách giáo khoa,
truyện, thơ ,… Ông từng đi chu du khắp nước Việt Nam, qua nhiều danh lam
thắng cảnh, đến đâu cũng
có đề vịnh, tổng hợp thành
túi sách một cách ung
dung tự tại. Tập thơ Long
trai thi tập ra đời năm
20
1960, tập hợp những bài thơ, đề vịnh đã ghi dấu bước chân ông trên khắp đất
nước và những bài bạn bè ông sáng tác. Đường về cố quốc xa vời vợi là cuốn
tiểu thuyết được Lý Văn Hùng viết và in năm 1951. Ngoài ra ông còn xuất bản
hàng loạt sách công cụ và sách khảo cứu khác. Hình 1: Long
Trai thi tập (bản photo)
2.2.2. Diệp Hoa thi tập 葉花詩集 – Diệp Truyền Hoa
Tác giả Diệp Truyền Hoa 葉傳華 sinh ngày 14/9/1918 ở Hội An (Quảng
Nam). Năm 1993 về Trung Quốc học ở trường Bồi Chính Quảng Châu đến
năm 1937 thì trở lại Hội An. Năm 1938, trong thời kỳ kháng Nhật, ông đã
thành lập Đoàn Thanh niên Hoa kiều ở Hội An, tiến hành công việc cứu nước.
Sau kháng chiến thắng lợi ông trở lại Hội An và kết hôn ở đó. Ông từng học
Trường Đại học Thanh Hoa, thi vào khoa Triết học Trường Đại học Liên hợp
Tây Nam, từng giảng dạy ở trường công học Trung Hoa… Về Việt Nam ông
từng nhận công tác giảng dạy ở khoa Ngoại ngữ trường Đại học Sư phạm và
khoa Triết học trường Đại học Văn khoa ở Sài Gòn, sau đó cũng nhận dạy ở
Đại học Văn Khoa Thuận Hóa…. Ngày 05/11/1970 ông bệnh và qua đời ở
bệnh viện Nguyễn Văn Học (Sài Gòn).
Tác phẩm Diệp Hoa thi tập được xuất bản bởi Cục in ấn Đạt Hưng, số
64 đường Tản Đà, Chợ Lớn, năm 1971; đã tập hợp tất cả các sáng tác của Diệp
Truyền Hoa trong suốt 26 năm, từ khi cầm bút đến khi qua đời. Tập được sắp
xếp thành các chương:
Tiểu thi (những bài thơ ngắn bày tỏ tâm tư cảm xúc của bản thân tác giả,

năm 1960 và được xuất bản năm 1961.
Sự nghiệp sáng tác của Tạ Chấn Dục khá phong phú, ngoài tác phẩm
nêu trên, ông còn Hiếu biện tập (tập phê bình thơ, 1963), Tản- Cổ quái-Hiện
đại thi (1975), Song sinh nhật (2008); ông còn là dịch giả của rất nhiều tác
phẩm dịch thuật từ tiếng Việt sang tiếng Trung và tiếng Trung sang tiếng Việt.

Hình 2: Gửi tặng người tình của tôi
22
2.2.4. Kiếp dư thi thảo 劫斋斋草 , 197 bài thơ cổ thể, cận thể của Giáo sư
Trần Hữu Cầm, tên hiệu Kiếp Dư sinh. Phần đầu sách có lời tựa của Phùng
Trác Huân người đất Nam Hải, phần sau có lời tự bạt của tác giả vào năm
1973. Sách do báo Tân Luận Đàn in tháng 1 năm 1974.
2.2.5. Thính Vũ lầu thi thảo 斋雨斋斋草 , 146 bài thơ cổ thể, cận thể của
Triệu Đại Độn sáng tác. Phần đầu có lời tựa của Hà Kiếm Bình, Lý Du, Trương
Tác Mai, Lý Ích Bá. Sách in tháng 10 năm 1969.
2.2.6. Lan Hiên ngâm thảo 蘭軒吟草 tác giả La Sở Nam 羅楚楠 được
xuất bản năm 1972 gồm 435 bài thơ, phú, ngâm vịnh. Phần đầu có lời đề từ của
Trần Sĩ Minh, Dương Tôn Hiền.
2.2.7. Trương Nhân Thơ nam du tập 張斋詩南遊集,
Tác giả Trương Nhân Thơ là
một nữ sĩ tài hoa không những có tài
ứng đối thơ văn rất tài tình mà còn là
một nghệ sĩ vẽ hoa mẫu đơn rất sắc
sảo, nữ giới đương thời ở Chợ Lớn
không ai sánh bằng. Đây là tập viết
tay của tác giả, đầu tập có lời đề của
Thuận Đức Chu Ích Bá.
Hình 3: Trương Nhân Thơ nam du tập
2.2.8. Sài Gòn Mậu Thân 1968 西貢 1968 年戊申之戰
23

1 Ký ngôn
寄言
3 Văn Cẩm Ninh
文錦寧
2
- Thủ 手
- Giao tiếp điểm 交接點
4 Phương Hồ
方乎
1
Tháng tám 八月
5 Ngải Hồng
艾虹
1
Không đề 不題
6 Thạch Linh
石羚
2
- Đổi mới 革新
- Sơ du 初游
7 Đông Mộng
冬夢
3
- Mẹ hiền 母親
- Nhớ 思念
- Đắp cát vùi thơ có được chăng? 堆個
25

Trích đoạn Việt Hoa tản văn tuyển 越華散文選 Các tác phẩm văn học khác trong giai đoạn này
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status