ĐẶC ĐIỂM PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA TRƯƠNG TỬU pot - Pdf 11



237

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 72A, số 3, năm 2012 ĐẶC ĐIỂM PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA TRƯƠNG TỬU
Nguyễn Thành

Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế

Tóm tắt. Trương Tửu là một trong những cây bút phê bình văn học tiêu biểu trước
tháng 9 năm 1945. Trong sự nghiệp phê bình của mình, ông đã sử dụng nhiều lý
thuyết phê bình khác nhau khi nghiên cứu văn học Việt Nam: lý thuyết thực chứng
của H. Taine (trường phái văn hóa - lịch sử), phân tâm học, xã hội học mác xít. Có
khi trong một công trình nghiên cứu, ông kết hợp nhiều lý thuyết khác nhau, chẳng
hạn kết hợp phê bình mác xít với phân tâm học, hoặc mác xít với tinh thần thực
chứng của trường phái văn hóa lịch sử Có khi cùng một tác phẩm, nhưng trong
các lần nghiên cứu khác nhau, ông đã sử dụng các lý thuyết khác nhau.
Bài báo nghiên cứu và đánh giá một cách toàn diện đặc điểm phê bình văn học của
Trương Tửu (bao gồm nội dung và hình thức, thành tựu và hạn chế), thông qua các
công trình tiêu biểu. Qua đó, khẳng định những nỗ lực có tính tiên phong của ông
trong phê bình văn học giai đoạn nửa đầu thế kỷ 20. Bài báo cũng đồng thời chỉ ra
những luận giải và nhận định chủ quan, phiến diện của nhà phê bình ở một số
trường hợp.

Trương Tửu (trước Cách mạng tháng Tám, ông lấy bút danh Nguyễn Bách
Khoa) tham gia viết phê bình văn học từ 1935, khi ông còn là cộng tác viên thường
xuyên của báo Loa và cơ bản chấm dứt sự nghiệp phê bình sau năm 1958. Việc đánh giá
cuộc đời hoạt động văn chương của ông (bao gồm phê bình, sáng tác và giảng dạy văn

- Thứ ba, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Trương Tửu đã tìm đến với một
chủ nghĩa Marx gắn với thực tiễn công nông hơn, nhưng thật rủi ro cho ông, lúc bấy giờ
ảnh hưởng chính trị từ Trung Quốc quá mạnh, nên ông đã bị chi phối bởi chủ nghĩa
Marx mang màu sắc Mao Trạch Đông. Cuốn Văn nghệ bình dân Việt Nam thể hiện khá
rõ sự tiếp thu đó.
Việc tiếp thu chủ nghĩa Marx phương Tây hoặc chủ nghĩa Marx kiểu Mao Trạch
Đông đã dẫn đến sự khác biệt trong các công trình phê bình văn học của Trương Tửu so
với các nhà phê bình mác xít tiếp thu chủ nghĩa Marx - Lenin ở Việt Nam trước và sau
Cách mạng tháng Tám. Đồng thời, nó cũng tạo cho các công trình phê bình của ông có
những đặc điểm riêng. Đặc điểm này đã khiến cho các công trình của Trương Tửu vừa
có những phát hiện nổi bật, vừa không tránh khỏi những suy diễn chủ quan. Điều đó
được thể hiện trong các công trình tiêu biểu với những đối tượng nghiên cứu cụ thể sau
đây:
1. Nghiên cứu Truyện Kiều của Nguyễn Du
Truyện Kiều được Trương Tửu chọn làm đối tượng khảo sát, nghiên cứu khi ông
có ý thức sử dụng phương pháp phê bình khách quan. Và đó là một sự lựa chọn đúng
đắn vì Truyện Kiều là một kiệt tác ẩn chứa những giá trị nội dung tư tưởng và nghệ
thuật phong phú, sâu sắc, độc đáo. Trương Tửu là tác giả của ba công trình nghiên cứu
về Truyện Kiều: Nguyễn Du và Truyện Kiều (1942), Văn chương Truyện Kiều (1945) và
Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du (1956). Mỗi công trình đều thể hiện rõ dấu ấn của
các lý thuyết phê bình khác nhau, trong đó chúng tôi chú ý hai công trình được xuất bản
năm 1942 và 1956, bởi chúng thể hiện rõ đặc điểm phê bình của Trương Tửu. 239

1.1. Nguyễn Du và Truyện Kiều
Nguyễn Du và Truyện Kiều (1942) là công trình phê bình văn học vận dụng kết
hợp những luận điểm của trường phái văn hoá - lịch sử với xã hội học và phân tâm học.
Theo Trương Tửu, những nhà phê bình và độc giả trước ông suốt gần hai thế kỷ đều

trong đó có thân phụ Nguyễn Du (ông Nguyễn Nghiễm) vô cùng căm thù chúa Trịnh và
những kẻ nịnh thần, nhưng bất lực, đành “gặm nhấm suông mối nguyện vọng phù Lê và
nỗi căm hờn đối với kẻ cường quyền”. Theo nhà phê bình, “qua di truyền họ tộc, tất cả
vận mệnh của đẳng cấp đã thấm vào mạch máu Nguyễn Du từ phút nằm trong bụng mẹ”.
Do vậy, cá tính của Nguyễn Du được hợp thành từ “cái khí phách tàn tạ của cha” và “cái 240

phong tình ưu du của mẹ”. Khi phân tích “thời đại Nguyễn Du”, nhà phê bình đã chứng
minh đó thời kỳ xã hội loạn lạc, do sự rối loạn từ trong triều đình bởi nạn kiêu binh, dân
tình khốn khổ, điêu linh, kéo dài 22 năm từ 1767 (lúc Trịnh Sâm lên ngôi) đến 1789 (khi
Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc phá tan quân Thanh, đánh đổ vua Lê, chúa Trịnh). Hoàn
cảnh đó đã tác động đến tâm hồn và tư tưởng Nguyễn Du, góp phần kết tinh lại “cá
tính” của ông. Như vậy, khái niệm “thời điểm” (moment) của H.Taine đã được Trương
Tửu hiểu là bao gồm cả thời khắc nhà văn được sinh ra lẫn thời gian mà nhà văn sinh
sống và sáng tác. Trong những thời đoạn đó, tình trạng xã hội ra sao và nó sẽ tác động
đến nhà văn như thế nào. Sự tác động này chắc chắn góp phần hình thành “cá tính” của
nhà văn. Từ “cá tính” được Trương Tửu sử dụng theo nghĩa bao hàm tâm tính, tư tưởng
của nhà văn, gần với khái niệm “tính khí” (tempérament) mà trường phái văn hoá - lịch
sử nêu ra.
Tham khảo các công trình y học, Trương Tửu còn cho rằng, Nguyễn Du là “một
con bệnh thần kinh”, thuộc vào loại người có “căn tạng cảm xúc quá độ”, thường biểu
hiện “lúc nào cũng lo sợ hãi hùng, rồi trí tưởng tượng bị kích thích thái quá phải làm
việc cấp bách, đâm ra sáo loạn”, “cho nên văn thơ ông phần lớn chỉ là ảo giác, khóc lóc
trầm muộn”. Và chính ảo giác đã tạo ra các cảnh tượng hãi hùng gắn với những kiếp
người lang thang, vật vờ như trong bài Văn tế thập loại chúng sinh (còn gọi là Văn
chiêu hồn) và cả trong Truyện Kiều, tập trung ở những hình ảnh gắn với oan hồn nhân
vật Đạm Tiên.
Như vậy, trong phần thứ nhất của cuốn sách, Trương Tửu đã cơ bản bám sát các

của con người thuộc “nòi tình” mà Nguyễn Du thì “vốn là một nòi tình thượng đẳng”
[2] Khi phân tích Từ Hải - nhân vật mà theo Trương Tửu “có lẽ là Nguyễn Du thích nhất
trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân”, nhà phê bình đã dùng những
kiến giải của Freud về tâm lý vô thức của con người và sự chuyển tải vô thức qua các
giấc mộng, từ đó cho rằng: “Với Từ Hải, Nguyễn Du đã làm một vị anh hùng trong
mộng tưởng” [3]. Về cái chết của Từ Hải, Trương Tửu có sự lý giải khá lý thú:“ Ông
(tức Nguyễn Du - chú thích của N.T.) vừa thỏa mãn được ước vọng thầm kín của trái
tim (muốn chết như Từ để trọn danh tiết một kẻ thất thế), vừa thoả mãn được bản ngã trí
thức hợp với thời đại và đẳng cấp (mong mỏi sự thái bình yên ổn). Còn nhân vật Thúy
Kiều thì Trương Tửu cho rằng nàng mới là “cái bóng thực của thi sĩ Nguyễn Du” [4].
Nhà phê bình cho rằng, sinh ra và lớn lên trong gia đình trưởng giả phong lưu, Vương
Thúy Kiều từ tấm bé đã sống cuộc đời đài các, nhàn hạ, lại được khuôn đúc theo một
thứ “giáo dục kiều dưỡng”, nên nảy sinh ở nàng “một tâm hồn nhu nhược quá đến bi
sầu, một bộ thần kinh dễ rung động quá đến hoảng hốt” [5]. Đi xa hơn nữa, nhà phê
bình còn dựa vào thuyết phân tâm học của Freud để chứng minh các trạng thái dồn ép
tâm lý ở Kiều là vừa do tâm tính, vừa do bản năng chi phối, dẫn đến Kiều thường hay lo
sợ (nghe chuyện Đạm Tiên liên hệ đến đời mình), thường hay thèm khát tình dục
(Trương Tửu xem Thúy Kiều là người đàn bà mắc chứng bệnh uỷ hoàng và ưu uất). Tuy
không lập luận một cách khắt khe như các nhà nho (Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ,
Tản Đà) - những người đánh giá Kiều từ đạo đức nho gia, nhưng quan điểm của Trương
Tửu về nhân vật Thuý Kiều cũng khá nặng nề và do vậy không tránh khỏi chủ quan, áp
đặt: “Tóm lại Kiều là một người ốm yếu thần kinh. Vì ốm yếu, nàng đã đã có một căn
tính dâm đãng, trầm uất, sầu muộn, hoảng hốt, liều lĩnh, sợ hãi. Căn tính này cộng với
cái lý tưởng thấp hèn về sự sống của nàng do giáo dục gây nên khiến nàng thành một kẻ
hèn nhát, ích kỷ, vụ lợi, vụ nhàn, thèm giàu sang, không chung thuỷ, thiếu đức độ và
nhân nghĩa” [6].
Nhìn chung, ý thức vận dụng phương pháp phê bình khách quan khi nghiên cứu
văn học nói chung và Truyện Kiều nói riêng của nhà phê bình Trương Tửu vào thời
điểm năm 1942 là nỗ lực đáng được ghi nhận. Bởi vì, các công trình được viết trước
Nguyễn Du và Truyện Kiều, về cơ bản chưa thoát khỏi lối bình phẩm chủ quan. Tuy

bình này. Cuốn sách được bắt đầu với việc điểm lại lịch sử vấn đề nghiên cứu Truyện
Kiều trước đó (trước 1956). Nhà phê bình đã tổng quan được một vốn tài liệu phong phú
liên quan đến việc bình giá Truyện Kiều, phân ra các quan điểm chính, rồi đánh giá,
bình luận về những quan điểm ấy. Qua việc lược thuật và bình luận về những ý kiến
khác nhau xoay quanh việc đánh giá nội dung và nghệ thuật của Truyện Kiều, Trương
Tửu cho rằng vẫn còn nhiều vấn đề liên quan đến tác phẩm này cần phải làm sáng tỏ.
Và trên cơ sở vận dụng quan điểm mác-xít trong phê bình văn học, ông đã phân tích
Truyện Kiều qua các bình diện sau:
Một là, tinh thần chống phong kiến của Truyện Kiều. Trương Tửu đồng thuận
với một số nhà phê bình cách mạng, tiêu biểu là Hoàng Xuân Nhị, rằng Truyện Kiều thể
hiện rõ tinh thần chống phong kiến. Tuy nhiên, theo nhà phê bình, thì những người đi
trước “chưa bao quát được hết ý nghĩa nhân đạo của Truyện Kiều”, tức là họ chỉ chú ý
bình diện “oán ghét chế độ phong kiến đã tiêu huỷ tài tình, vùi dập con người, nhưng
chưa đề cập được các bình diện khác, và ngay cả bình diện được đề cập thì họ vẫn chưa 243

đi sâu các vấn đề cụ thể. Nhà phê bình, một mặt khảo sát khá kỹ những cấu trúc giai cấp
trong Truyện Kiều, nhưng mặt khác, ông không tránh khỏi sự lên gân, suy diễn. Chẳng
hạn, ông phân biệt rạch ròi trong Truyện Kiều có “hai chiến tuyến” đối lập, xung đột gay
gắt: một bên là “giai cấp thống trị”, bao gồm: thằng bán tơ, tên quan hối lộ, lũ sai nha
đầu trâu mặt ngựa, mụ mối, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Khuyển, Ưng, Hoạn bà,
Hoạn Thư, Bạc Bà, Bạc Hạnh, Hồ Tôn Hiến; bên khác là “những kẻ bị áp bức, bị xã hội
thống trị làm cho đau khổ”: Thúy Kiều, Vương viên ngoại, Vương Quan, Thúy Vân,
Kim Trọng, Mã Kiều, Thúc Sinh, Quản gia, Từ Hải Ông cho rằng, những người bị áp
bức này là lực lượng phản kháng lại “chế độ phong kiến nghẹt thở”. Từ đó, nhà phê
bình luận giải: “Chính sức phản kháng của họ đã xô đẩy xã hội phong kiến vào trạng
thái tan rã, đổ nát phân hoá”, rồi kết luận: Nguyễn Du đứng về phía tầng lớp bị áp bức,
nên ông có tư tưởng tiến bộ.


với những thắng lợi oanh liệt chống ngoại xâm, những chính sách cởi mở và những mâu
thuẫn nội tại của chế độ; triều đại Gia Long khôi phục trật tự phong kiến, tăng cường
chuyên chính, phản dân, phản nước và sự phản kháng yếu ớt của dân chúng. Nguyễn Du
đã chứng kiến “những điều trông thấy” trong giai đoạn lịch sử ấy.
- Phân tích vai trò bá chủ đồng tiền trong xã hội thời kỳ tiền tư bản, Trương Tửu
dựa trên gợi ý của nhà cách mạng Lê Duẩn, từ đó phác thảo diện mạo xã hội mà mọi tai
biến, hư hỏng, đọa lạc đều vì tiền và cậy tiền, từ bọn quan lại, sai nha đến lũ người vô
lương tâm: mẹ mối, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Bạc Bà, Bạc Hạnh. Nhà phê bình
ghi nhận tác giả Truyện Kiều luôn tỏ thái độ bất bình khi nói đến thế lực đồng tiền:
“Một ngày lạ thói sai nha/ Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”. Còn khi phân tích sự
bần cùng hóa của tầng lớp “thị dân tiểu tư hữu” (chữ của Trương Tửu), nhà phê bình
cho rằng “tình trạng bần cùng hóa của các gia đình tiểu tư hữu là một hiện tượng phổ
biến trong xã hội phong kiến suy đồi” [10]. Theo ông, Kiều, Vương ông, Vương bà đều
tiêu biểu cho tầng lớp tiểu thị dân qua gia cảnh và tâm lý suy tính hằng ngày. Tầng lớp
này luôn yếu thế trước thế lực phong kiến quý tộc.
Trong phần viết “Tự do và công bằng - hai vũ khí phản phong của nhân dân”,
Trương Tửu cho rằng “Ở Từ Hải, tự do cá nhân chủ nghĩa lại còn phối hợp với một ý
chí công bằng rất mãnh liệt” và Từ Hải không phải là con người xa lạ với thời đại lúc
bấy giờ, mà đó là hình bóng của anh hùng Nguyễn Huệ qua sự cảm nhận của đại thi hào
Nguyễn Du. Ông nhận định: “Hình bóng của anh hùng Nguyễn Huệ bao trùm cả thời
đại đã làm cơ sở hiện thực cho sự sáng tạo nhân vật Từ Hải của nhà thơ thiên tài
Nguyễn Du” [11].
Sau khi phân tích các bình diện cơ bản trên, nhà phê bình kết luận Truyện Kiều
là một “tác phẩm cổ điển tiêu biểu của văn học Việt Nam” (từ cổ điển được hiểu là tính
mẫu mực - chú giải của N.T.), là “tập đại thành” đầy sáng tạo của văn học Việt Nam.
Như vậy, so với hai công trình nghiên cứu về Truyện Kiều trước đây, thì Truyện
Kiều và thời đại Nguyễn Du là một công trình vận dụng khá nhuần nhuyễn lý thuyết phê
bình mác xít hơn cả.
2. Nghiên cứu thơ văn Nguyễn Công Trứ

Trước những bấn loạn của xã hội lúc bấy giờ, chàng trai trẻ Nguyễn Công Trứ
đã nhờ đạo đức và tư tưởng Nho gia “an bần lạc đạo” mà mặc dù gia cảnh nghèo nàn,
chàng vẫn luôn “lạc quan và hy vọng”. Từ chỗ ghét bọn phú hộ giàu có, coi khinh
chúng, Nguyễn Công Trứ đề cao thú hành lạc (cầm kỳ thi tửu phong vân tuyết nguyệt)
của lớp nhà nho tài tử (mẫu hình là từ Lý Bạch, Đỗ Phủ, Lưu Linh ở Trung Hoa thời
Đường). Và vì thế, ông cũng mê hát ả đào, vì hát ả đào là nơi tập trung đầy đủ nhất cho
tư tưởng hành lạc của nhà nho tài tử. Trong thơ văn, ông nói nhiều về thú hát ả đào, ca
ngợi triết lý hành lạc, không loại trừ khao khát tình dục, nhưng biểu hiện cái dâm trong
thơ văn ông “tế nhị lắm, đẹp lắm” nên “cũng có tính cách quý tộc”. Nguyễn Công Trứ
đã đậu giải nguyên và được bổ nhiệm làm quan năm 1819 (lúc ông 41 tuổi) là thời điểm
tư tưởng Tống Nho được nhà Nguyễn (từ vua Gia Long) ra sức khôi phục và tôn dựng.
Nguyễn Công Trứ làm quan suốt trong thời các vua Minh Mạng và Thiệu Trị trị vì. Ông
chủ yếu đóng góp cho triều chính bằng chuyện “dẹp giặc”, nhưng cuộc đời làm quan
của ông cũng không suôn sẻ, lúc được thăng chức, lúc bị giáng chức. Đến 70 tuổi, ông
mới được vua Thiệu Trị cho nghỉ hưu. Điều này, theo nhà phê bình, đã góp phần hình
thành tư tưởng “phản kháng” của Nguyễn Công Trứ. Ông đề cao nhân cách cao thượng
của người quân tử “trọng nghĩa, khinh tài” với chất khí khái, ngang tàng, và cũng có lúc
ngán ngẫm cho cuộc đời đen bạc. Về cuối đời, chứng kiến sự mâu thuẫn và bế tắc của
chế độ phong kiến nhà Nguyễn và cũng là của đẳng cấp mình, trước sự xâm lăng của
phương Tây bởi đạo Gia Tô và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, Nguyễn Công Trứ không
tránh khỏi tư tưởng bi quan, yếm thế, thể hiện qua thái độ “nhân sinh ảo mộng” và
“ thoát tục”. Như vậy, về cơ bản, Trương Tửu đã phân tích một cách thuyết phục tâm lý
và tư tưởng Nguyễn Công Trứ (thể hiện qua tác phẩm văn học của ông) bằng cơ sở lịch
sử - xã hội một cách rõ rệt, trong đó hai bình diện được nhà phê bình đặc biệt chú ý bám 246

sát là thời đại Nguyễn Công Trứ (hoàn cảnh xã hội thời Nguyễn Công Trứ : cơ cấu giai
cấp, chế độ thống trị, sự tác động của bên ngoài, phong trào nông dân trong nước ) và

sàng lọc qua giới lý luận và chính trị Trung Quốc) để nghiên cứu các tác giả thuộc dòng
bình dân Việt Nam. Cuốn sách này từng bị phê phán nhiều từ phía những người phê
bình mác-xít lẫn những người phi mác-xít vì sự máy móc của người viết trong việc vận
dụng nguyên tắc “giai cấp tính” của lý luận phê bình mác - xít vốn còn sơ khai nhưng đã
thịnh hành lúc bấy giờ. Trong Văn nghệ bình dân Việt Nam, Trương Tửu phân chia lịch
sử văn học Việt Nam trước thế kỷ XX thành hai dòng: dòng quý tộc và dòng bình dân,
rồi cho rằng: dòng quý tộc thì “đầy rẫy những yếu tố bảo thủ phong kiến”, “phản quần 247

chúng”, “tính chất nô lệ, giả tạo”. Ông chỉ ghi nhận dòng bình dân “mang nhiều yếu tố
phản phong, dân tộc, quần chúng” (các tiêu chí đánh giá của ông gần với tiêu chí của
Đề cương văn hoá (1943) với ba tính chất: dân tộc, khoa học, đại chúng, nhưng không
hoàn toàn giống nhau). Để đề cao “văn nghệ bình dân”, nhà phê bình vô tình (hay cố ý)
hạ thấp “văn nghệ quý tộc”. Nhưng ngay việc phân loại văn nghệ theo kiểu quý tộc hoặc
bình dân đã là một sai lầm, nguy hiểm hơn nữa, khi ông cụ thể hóa văn nghệ bình dân
(theo giai cấp) thành văn nghệ trung nông, văn nghệ bần cố nông và cùng dân.
Phần dẫn giải có tính chất lý luận thì còn nhiều hạn chế, nhưng trong phần viết
phê bình tác phẩm của các tác giả thuộc “dòng bình dân” như Hồ Xuân Hương, Nguyễn
Khuyến, Tú Xương, thì ông có những đóng góp đáng ghi nhận. Đáng chú ý là, nếu như
trước đây, Trương Tửu chỉ chú ý phân tích nội dung tư tưởng, thì trong cuốn Văn nghệ
bình dân Việt Nam, ông đã dành nhiều trang để phân tích nghệ thuật tác phẩm văn học,
ít nhiều giúp người đọc hình dung phong cách của tác giả. Chẳng hạn, việc phân tích
chất liệu và cách biểu hiện của Hồ Xuân Hương trong thơ “Về cách biểu hiện và phô
diễn, Hồ Xuân Hương là một thi sĩ hiện thực triệt để” [13]. Về ngôn ngữ, ông đã chỉ ra
thơ Hồ Xuân Hương “dùng toàn từ thuần Việt, có giá trị tạo hình đặc biệt”. Khi phân
tích Nguyễn Khuyến, nhà phê bình cũng đã chỉ ra đúng “lối châm biếm mát mẻ mà chì
chiết”, một “nụ cười ngậm kín, thanh lịch” và “một lòng yêu chân thật những cảnh thôn
dã, đồng nội” ở nhà thơ này. Trương Tửu còn phân tích nghệ thuật tả cảnh, tả người đặc

***
Như vậy, về nội dung các công trình của Trương Tửu có thể còn những chỗ cần
bàn luận, tranh luận, có chỗ không chuẩn xác, nhưng có nhiều chỗ có tính thuyết phục.
Về hình thức, Trương Tửu có thao tác khoa học rõ rệt. Trong các công trình
nghiên cứu của mình, ông thường dùng nhiều luận cứ và luận chứng để chứng minh các
luận điểm. Các luận cứ của ông thường dựa vào các công trình của giới học giả phương
Tây, còn các luận chứng thường được ông trích dẫn rõ ràng và phong phú. Về sử học,
ông dựa vào nhiều sử liệu đáng tin cậy (Hoàng Lê nhất thống chí, Đại Nam chính biên
liệt truyện, Lịch sử Việt Nam do Đào Duy Anh biên soạn, Việt Nam sử lược do Trần
Trọng Kim biên soạn, một số tài liệu lịch sử, văn hoá do các tác giả Pháp biên soạn )
Việc trình bày các vấn đề nghiên cứu theo kiểu “nói có sách, mách có chứng” như thế là
một thao tác cần thiết của khoa học phê bình.
Văn phê bình của Trương Tửu đầy tính tranh luận, thông thường những ý kiến
mang tính tranh luận của ông thường được trình bày ở phần đầu mỗi công trình, thực
chất đó là phần điểm lại lịch sử vấn đề nghiên cứu. Sự khởi động công trình bằng các
luận điểm có tính tranh luận như thế đã góp phần tạo cho giọng văn các công trình khoa
học của ông thường khúc chiết. Văn phê bình của Trương Tửu nghiêng về lý tính hơn là
cảm tính, mạch văn trôi chảy, liên tục, có lúc hùng hồn.
Tóm lại, gạt bỏ một số luận điểm chủ quan vội vàng, có khi máy móc rải rác
trong các công trình phê bình quy mô của Trương Tửu, chúng ta sẽ có những luận điểm
có tính gợi mở rất đáng ghi nhận về các tác gia lớn trong lịch sử văn học Việt Nam như
Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương. Không ít
những luận điểm của ông đã được các học giả sau này kế thừa, triển khai và có thành
tựu. Vì thế, công lao của Trương Tửu là khai phá (vận dụng một số lý thuyết phê bình
hiện đại) và khai mở (một số vấn đề nghiên cứu) cho phê bình văn học hiện đại Việt
Nam./.
249

his efforts of literary criticism in the first half of the 20th century. The article also
points out the subjective comments and ideas from critic in some cases.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status