TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ HẠNH
KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN
NGHỆ THUẬT TRONG CỐ ĐÔ
CỦA YASUNARY KAWABATA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nƣớc ngoài
HÀ NỘI- 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ HẠNH
KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN
NGHỆ THUẬT TRONG CỐ ĐÔ
CỦA YASUNARY KAWABATA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nƣớc ngoài
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THỊ BÍCH DUNG
HÀ NỘI- 2015
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 3
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 5
5. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát .................................................. 6
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 6
7. Đóng góp của khóa luận................................................................................ 6
8. Bố cục khóa luận ........................................................................................... 6
NỘI DUNG....................................................................................................... 7
CHƢƠNG 1. KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG CỐ ĐÔ ............... 7
1.1. Khái niệm về không gian nghệ thuật ......................................................... 7
1.2. Không gian nghệ thuật trong Cố đô ........................................................... 8
1.2.1. Không gian chùa chiền, ni viện............................................................. 10
1.2.2. Không gian sinh hoạt ............................................................................ 18
1.2.3. Không gian tâm lý ................................................................................. 24
CHƢƠNG 2. THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG CỐ ĐÔ .................. 32
2.1. Khái niệm thời gian nghệ thuật ................................................................ 32
2.2. Thời gian nghệ thuật trong Cố đô ............................................................ 33
2.2.1. Thời gian tự nhiên ................................................................................. 34
2.2.2. Thời gian tâm lý .................................................................................... 40
2.3. Cách tổ chức thời gian ............................................................................. 42
KẾT LUẬN .................................................................................................... 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Lí do khoa học
Yasunary Kawabata (1899- 1972) là một nhà văn lớn của Nhật Bản,
người Châu Á thứ hai sau R. Tagore nhận giải thưởng Nobel văn chương vào
thời gian gắn liền với cảm quan về con người và cuộc đời, gắn bó với ước mơ
và lý tưởng của nhà văn. Không gian và thời gian là những yếu tố quan trọng
góp phần tạo nên diện mạo và giá trị của tác phẩm. Mỗi nhà văn có cách tổ
chức không gian và thời gian riêng tùy thuộc vào tài năng và phong cách của
mỗi người. Nhưng nhìn chung đó là những phạm trù quan trọng, giúp nhà văn
tái hiện về hiện thực đời sống, phản ánh quan niệm nhân sinh quan của mình.
Tác phẩm văn học là sản phẩm của nhà văn. Ở đó nhà văn không chỉ tái
hiện lại những sự kiện, hiện tượng của thế giới, đề xuất một quan niệm khái
quát tư tưởng rõ rệt về chúng mà còn xây dựng nên một thế giới nhân vật và
sự kiện tồn tại trong không gian và thời gian nghệ thuật nhất định đã gia công
và xử lý theo ý đồ của mình. Tìm hiểu không gian và thời gian trong một tác
phẩm văn học là điều rất thú vị và là mối quan tâm của nhiều người. Từ lâu
trong sáng tác của Y. Kawabata đề tài này được xem là đề tài mới mẻ, hấp
dẫn đối với những người say mê tìm hiểu văn chương xứ sở Phù Tang.
1.2. Lí do sư phạm
Việc tìm hiểu sáng tác của Y. Kawabata sẽ gúp người giáo viên tương lai
có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về văn học nước ngoài, đặc biệt là văn học
Nhật Bản. Từ đó tích lũy được những tư liệu cần thiết cung cấp cho học sinh
hiểu biết thêm về những sáng tác văn học được học trong nhà trường phổ
thông như thơ Haikư của Basho. Và đặc biệt giúp các em có cái nhìn đúng
đắn trong học tập và trong cuộc sống.
2
Một tác phẩm văn chương sinh động, hấp dẫn được thể hiện qua rất
nhiều phương diện nghệ thuật, trong đó “Không gian và thời gian nghệ thuật”
là đề tài độc đáo và đặc sắc. Khi nghiên cứu đề tài này người viết không chỉ
nắm được nội dung tư tưởng của tác phẩm mà còn là dấu hiệu nhận biết
phong cách của nhà văn.
Kawabata giữa dòng chảy Đông- Tây”. Bài viết nghiên cứu về sự ảnh hưởng
của văn hóa phương Tây đối với Y. Kawabata và khẳng định văn hóa phương
Đông là gốc rễ trong tư tưởng nhà văn.
Tạp chí văn học số 11 năm 2005 với bài: “Y. Kawabata- Lữ khách
muôn đời đi tìm cái đẹp” của tác giả Nguyễn Thị Mai Liên. Bài nghiên cứu đi
sâu vào vẻ đẹp Nhật Bản trong sáng tác của Y. Kawabata: Vẻ đẹp thiên nhiên,
vẻ đẹp phong tục, vẻ đẹp của tâm hồn con người.
Trong nghiên cứu văn học số 6 năm 2006: Khương Việt Hà có bài bàn
về “Mĩ học Y. Kawabata” bài viết trình bày rõ quan điểm về cái đẹp của Y.
Kawabata và nguồn gốc hình thành quan điểm đó.
Tác giả Đào Thị Thu Hằng với cuốn chuyên luận “Văn hóa Nhật Bản
và Yasunary Kawabata” chuyên luận viết về những nét văn hóa đặc sắc của
Nhật Bản, về tác giả Y. Kawabata và nghệ thuật kể chuyện trong sáng tác của
ông, trong đó có nhắc đến phương diện không gian và thời gian.
Nhìn chung, đã có một số bài viết đề cập đến “Không gian và thời gian
nghệ thuật” trong sáng tác của Y. Kawabata nhưng chưa được khai thác sâu
mà chủ yếu chỉ tập trung làm nổi bật cái đẹp trong tác phẩm của ông.
Trong Lí luận văn học - Vấn đề và suy ngẫm của Nguyễn Văn Hạnh và
Huỳnh Như Phương, hai nhà nghiên cứu đi vào làm rõ một số đặc điểm về
hình tượng thời gian và không gian. Về hình tượng không gian có không gian
thiên nhiên, không gian sinh hoạt, có thể là không gian mở hay không gian
khép, là không gian tĩnh hay động.Về hình tượng thời gian có thời gian trần
thuật, thời gian tâm lí. Tác giả cũng nhấn mạnh “hình tượng thời gian cũng
đồng thời biểu lộ cách nhìn của con người về thế giới”[9; tr 183].
4
Không gian và thời gian là hai khía cạnh của sự vật, là kích thước của sự
sống, là một hiện tượng của thế giới khách quan. Nghệ thuật biểu hiện sự
sống, tái hiện sự sống làm sao không dựng cái khung không gian và thời gian
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, người viết đã sử dụng các phương pháp như:
- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp khảo sát tác phẩm.
- Phương pháp tổng hợp nâng cao vấn đề
7. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận đóng góp một phần nhỏ bé vào việc cung cấp ngữ liệu về
việc giảng dạy những tác phẩm văn học Nhật Bản sau này ở phổ thông.
8. Bố cục khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung của khóa luận được chia làm
hai chương:
Chương 1: Không gian nghệ thuật trong Cố đô
Chương 2: Thời gian nghệ thuật trong Cố đô
6
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG CỐ ĐÔ
1.1. Khái niệm về không gian nghệ thuật
Không gian là hình thức cơ bản của thế giới. Trong đó, các vật thể có độ
dài và độ lớn khác nhau nhưng đó chưa phải là không gian nghệ thuật. Không
gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật. Không có hình
tượng nghệ thuật nào không có không gian.
Nếu thế giới nghệ thuật là thế giới của cách nhìn và mang ý nghĩa khái
quát thì không gian nghệ thuật là trường nhìn mở ra từ một điểm nhìn, cách
nhìn. Không gian ấy có thể rất rộng có thể là rất hẹp. Nó cũng có viễn cảnh,
có giá trị tình cảm. Tình cảm có thể làm cho không gian bao la thêm hay gò
bó chật chội hơn. Không gian nghệ thuật không đồng nhất với không gian
Cố đô là một trong những kiệt tác nghệ thuật đạt giải Nobel văn học của
Kawabata (năm 1968). Câu chuyện nói tới một cặp chị em song sinh đã bị
chia cách từ lúc mới chào đời, tác phẩm đã nói lên vẻ đẹp của thành phố
Kyoto và các truyền thống cổ với những phụ nữ Kyoto còn giữ vẻ duyên
dáng, không bị nền văn hóa phương Tây làm biến chất.
Tiểu thuyết Cố đô kể về cô gái trẻ Chieko, một đứa trẻ bị cha mẹ nghèo
xơ xác bỏ rơi và được gia đình thương gia Takichiro nhận nuôi, ở đây cô được
nuôi nấng dạy dỗ theo những nguyên tắc truyền thống của Nhật Bản. Chieko
là một cô bé nhạy cảm, trung thành, nhưng thường ấp ủ về thân thế của mình.
Ở Nhật bản người ta cho rằng một đứa trẻ bị bỏ rơi sẽ khổ ải với tai ương suốt
đời, thêm vào đó theo một quan niệm hết sức lạ lùng của Nhật Bản, trẻ sinh
đôi còn chịu sự nhục nhã đáng xấu hổ. Một ngày tình cờ cô gặp một cô gái lao
động xinh đẹp trong rừng tuyết tùng gần thành phố và phát hiện ra rằng cô là
người em song sinh của mình. Họ gắn kết sâu sắc với nhau vượt qua hàng rào
8
giai cấp xã hội - cô gái thô kệch, làm việc nặng nhọc Naeko và cô gái thanh
nhã, luôn được bảo vệ cẩn mật Chieko, nhưng sự giống nhau lạ lùng giữa họ
đã mau chóng làm phát sinh rắc rối, phiền toái. Toàn bộ câu chuyện được đặt
trong bối cảnh năm lễ hội tôn giáo ở Kyoto từ mùa xuân anh đào nở rộ đến
mùa đông lấp lánh tuyết.
Bản thân thành phố thật sự là một nhân vật quan trọng, thủ đô của vương
quốc xưa, từng là nơi đóng đô của Thiên hoàng và triều đình, sau hàng ngàn
năm vẫn là một thánh địa lãng mạn, quê hương mỹ thuật và hàng thủ công
trang nhã, ngày nay tuy bị khai thác cho du lịch nhưng vẫn là địa điểm thăm
viếng được ưa chuộng. Với các chùa chiền phật giáo và các đền thờ Thần đạo,
khu thủ công xưa và vườn thực vật, nơi này mang trong nó chất thơ mà Y.
Kawabata thể hiện bằng một phong cách dịu dàng, nhã nhặn, không ủy mị mà
1. Không gian chùa chiền, ni viện
Không gian của nghệ thuật
4 lần (10,52%)
Không gian của tâm linh
10 lần (26,32%)
Không gian của lễ hội
5 lần (13,16%)
2. Không gian sinh hoạt
Không gian ngôi nhà
5 lần (13,16%)
Không gian thành phố Kimono
3 lần (7,89%)
Không gian vùng Bắc Sơn
5 lần (13,16%)
3. Không gian tâm lý
6 lần (15 ,79%)
thoáng dưới những tán lá xanh. Ở thành phố xinh đẹp, trù phú: “Kyoto là một
thành phố lớn với những cây cối đẹp đến sững sờ. Không sao tả được cái
tuyệt mỹ nơi khu vườn bao quanh biệt thự hoàng gia cạnh chùa Xingakuin,
cánh rừng thông bên hoàng cung, bao nhiêu vạt vườn mênh mang của những
ngôi chùa cổ mà ngay cây cối trên các phố xá cũng rất tươi tốt. Những cây
liễu rủ ở Kiyamachi và bên bờ sông Takaxe, những con đường trồng liễu dọc
các dãy phố Godgio và Horikata thật lạ thường… Cả những cây thông đỏ mọc
thành hình bán nguyệt trên Bắc Sơn cũng khiến người ta thán phục”. Chính
cảnh đẹp tuyệt vời này đã thu hút du khách thập phương tụ họp về đây trong
những ngày lễ hội và cũng là nơi hai chị em song sinh Naeko và Chieko tình
cờ tìm ra nhau sau mấy chục năm lưu lạc.
11
Nhìn tổng thể, ngoài không gian thiên nhên, cây cỏ, không gian trong Cố
đô được Kawabata xây dựng đồng hiện gồm có: không gian phố phường Cố
đô, không gian cửa hiệu của gia đình Xada, không gian chùa chiền, không
gian làng, rừng - thông liễu ở Bắc Sơn, không gian Thất Lâu Thượng Quận.
Không gian phố cổ ở Kyoto: những ngôi chùa cổ, thành phố ngập tràn trong
màu xanh tươi trẻ của cây cối. Chieko và Xinichi đã hứng khởi có một lượt đi
dạo không gian khu vườn cây phong lớn để ngắm cảnh thiên nhiên. Không
gian phố phường Kyoto cũng là nơi diễn ra các lễ hội mà lễ hội nào cũng nhắc
Chieko liên tưởng về quá khứ.
1.2.1.2. Không gian của tâm linh
Chùa Heian Dgingu, nơi có hoa anh đào đang kì nở rộ, chùa này được
coi là không cổ lắm. Chieko nhận được lời mời của Xinichi Midzuki, đi xem
anh đào nở ở chùa này. Hơn nữa chùa Heian nổi danh với ngày lễ Kỷ Nguyên.
“Người ta dựng ngôi chùa này vào năm 1895 để tưởng niệm thiên hoàng
Kammu, người hơn ngàn năm trước đã hạ chiếu thiên đô về chỗ bây giờ là
Kyoto. Cổng tam quan và chùa ngoài giống y như cổng Otemmon và cung
phận hoàn toàn khác, một người phụ nữ lao động, làm công và một tiểu thư
được cha mẹ yêu thương, quan tâm hết mực.
1.2.1.3. Không gian của lễ hội
Kyoto nơi gia đình Chieko sống là nơi có nhiều chùa cổ Phật giáo và
Thần đạo. Hằng năm nhiều lễ hội lớn nhỏ diễn ra làm cho Kyoto trở thành
không gian văn hóa với nhiều hoạt động lễ nghi mang tính cộng đồng, vừa tôn
nghiêm vừa thể hiện tinh thần đoàn kết. Kawabata đã kì công miêu tả những
công đoạn chuẩn bị và cách thức tiến hành nghi lễ ở các lễ hội, cách bài trí và
sắp xếp không gian trong chùa cho mỗi dịp nghi lễ. Chùa chiền và lễ hội gắn
kết các nhân vật theo một sự tác hợp rất ngẫu nhiên nhưng đầy xúc cảm. Một
trong những lễ hội để lại nhiều ấn tượng đối với Chieko là lễ hội Ghion. Hiện
tại, lễ Ghion năm nay, Chieko trở nên ưu tư vì biết cha mẹ ruột không may
13
mất sớm. Đó là nỗi buồn đau đối với nàng. Một lễ Ghion xa xăm, khi Chieko
còn trong sáng, ngây thơ đã dần trôi sâu hơn vào quá khứ nhưng lại vẫn cứ
hiển hiện rõ như in trong kí ức Chieko. Hằng năm, các nghi thức chuẩn bị cho
lễ hội vẫn không thay đổi, nhạc công và những chiếc kiệu được trang hoàng
hoa dây kết bằng đèn lồng vẫn cứ rực rỡ như thế. Tuy những chi tiết bài trí ở
chùa xưa và nay có sự thay đổi theo thời gian lịch sử. Và chúng gợi nhắc hồi
ức tươi đẹp khi Chieko và Xinichi mới chừng bảy, tám tuổi. Là một cậu bé có
nét đẹp xinh xắn, Xinichi ngày nhỏ đã được chọn làm chú tiểu có nhiệm vụ
rước lễ. Hình ảnh cậu bé Midzuki Xinichi “mặc quần áo chú tiểu, lông mày
kẻ, bôi môi son đỏ thắm, mặt xoa phấn trắng, đi cỗ xe đẩy trong ngày lễ
Ghion” cách đó hàng chục năm không thể nào phai nhòa trong tâm trí của
Chieko. Có hẳn những nghi thức quan trọng dành riêng cho chú tiểu làm
nhiệm vụ rước lễ. Vì vậy vai trò của chú tiểu cũng trở nên thiêng liêng hơn và
hình ảnh chú tiểu Xinichi bé bỏng trở thành ấn tượng khó phai trong kí ức
Hồi ức tươi đẹp đó trở về là sự tiếc nuối khi phải xa rời tuổi thơ. Rồi khi lễ
hội Ghion đang tới gần, Chieko thích thú nhớ tới chú tiểu Xinichi năm nào ăn
vận bảnh bao ngự trên chiếc kiệu thứ nhất. Cuộc trò chuyện vui vẻ giữa
Chieko, Xinichi và Riuxuke trên đường từ quán “Daiychi” trở về cũng lại
nhắc đến chú tiểu Xinichi và “cô bé đi sau kiệu không chịu tụt lại”. Kí ức của
Riuxuke về cô bé Chieko cũng ấn tượng không kém hồi ức sống động về
Xinichi trong tâm trí Chieko. Đó là sự kiện nổi bật được kí ức tuổi thơ lưu giữ
và gợi nhiều cảm xúc. Kỉ niệm đã làm cho tình thân càng trở nên khắng khít.
Ba lễ hội chính trong năm của kinh đô cổ là lễ Kỉ Nguyên, lễ Cẩm Qùi
và lễ Ghion, đều do chùa Heian Dginu tổ chức, các đám rước thì đều từ hoàng
cung. Xuyên suốt thời gian lễ hội diễn ra trong năm định mệnh ấy, liên tục
những mối liên hệ mới và những nhầm lẫn nảy sinh. Lễ hội Ghion những
ngày sau cùng không khí vẫn rộn ràng, nô nức, nhất là đêm rước lễ với những
tràng đèn lồng nhỏ trang hoàng kiệu. Chiếc cầu trên Đại lộ thứ tư là không
gian Kawabata sắp đặt để tạo ra sự nhầm lẫn cho Hideo. Hai chị em Chieko
15
và Naeko lần đầu tiên gặp nhau và nhận ra nhau. Cùng một thời điểm, Hideo
đi xem hội vô tình gặp Naeko. Sự việc này đồng hiện trong trí nhớ Hideo khi
chàng một lần nữa đi ngang qua cây cầu ấy. Việc nhầm lẫn dẫn dắt tới hệ quả
cuối cùng là Hideo có được cuộc hẹn cùng đi dạo với Naeko trong lễ Kỉ
Nguyên. Trong lễ Kỉ Nguyên, Naeko đã diện thắt lưng hình thông liễu do
Hideo tặng, đó là điều kiện để cô thôn nữ chốn Bắc Sơn được lộng lẫy giống
như tiểu thư chốn kinh đô. Xinichi và Riuxuke lại được sắp xếp để thấy khung
cảnh này và đến lượt họ nhầm lẫn. Những mảnh ghép được xâu chuỗi tạo nên
sự logic cho câu chuyện. Lễ hội Ghion diễn ra cũng gợi trong lòng ông
Takichirô và người bạn hoài niệm tiếc nuối về quá khứ vàng son lễ hội khi hai
ông còn nhỏ. Qua câu chuyện của hai người, ở lễ hội của thời xưa mọi chuẩn
mực vẫn còn được duy trì, sự thiêng liêng và niềm háo hức vẫn như còn
rồi rẩy lên kiệu”.
Để chuẩn bị cho lễ hội Ghion sắp diễn ra, mọi người đã chuẩn bị từ hôm
trước. Không ngoại lệ, không gian nơi cửa hiệu nhà Chieko cũng có sự chuẩn
bị “ở cửa hiệu của Chieko người ta đã dỡ dãy hàng rào tô điểm cho mặt tiền
ngôi nhà để tu bổ”.
“Ngày lễ Lửa ở chùa trên núi Kurama, dành cho việc xua đuổi các hung
thần vốn được Chieko ưa thích hơn lễ Daimondgi. Naeko cũng thường có mặt
ở lễ Lửa…”. Nhật Bản là quốc gia có rất nhiều lễ hội nổi tiếng và thu hút rất
nhiều du khách cả trong nước và trên thế giới. Qua việc tìm hiểu Cố đô cho
bạn đọc biết đến văn hóa của Nhật Bản vô cùng phát triển, người đọc khi đã
được biết tới Nhật Bản chỉ muốn tới đó tự tìm hiểu và khám phá những giá trị
văn hóa nơi đây.
Hội Karyobinga, có bơi thuyền rồng trên khúc sông gần Araxiyama và
Kyokuxinoen bên dòng suối chảy qua vườn chùa Kamigamo… Những lễ hội
diễn ra được tổ chức theo những thời điểm cố định trong năm trở thành truyền
thống văn hóa Kyoto. Toàn bộ Cố đô, những lễ hội diễn ra trong hệ qui chiếu
so sánh tâm cảnh và ngoại cảnh. Lễ tống hạ vào đêm trước tiết lập thu, sau đó
17
nửa tháng đống lửa tiễn biệt cháy. Ngày còn nhỏ, Chieko háo hức để ngắm
khung cảnh này. Nhưng hiện tại, khi đối diện với những tình huống quá bất
ngờ trong cuộc sống, nỗi lòng đang rối như tơ vò, Chieko cảm nhận nỗi buồn
không dứt, lễ tống hạ không còn là sự háo hức đối với cô nữa. Lễ Ghion vào
mùa hạ của hiện tại nhắc về một lễ Ghion xa xôi, sống động trong kí ức. Quá
khứ vui tươi đã lùi hẳn, hiện tại gieo vào lòng người những ưu tư không dễ
nguôi ngoai. Cố đô luôn có kết thúc mở, rộng lối cho một khoảng mênh
mông vô định của xúc cảm tràn về. Nội tâm nhân vật như một tập phim, trong
đó những mảnh ghép trắng đen là hình ảnh của quá khứ luôn ào ạt song song
với những thước phim đầy màu sắc của hiện tại. Lấy khung hình này chồng
kia, họ vốn có cũng như vẫn còn lại ba người với nhau: cha, mẹ và Chieko”.
Ngôi nhà nhìn từ ngoài vào có hàng rào bên lối vào cửa hiệu và những phiến
gỗ. Trên tầng hai, dưới mấy khung cửa sổ con có treo tấm biển hiệu cũ, bên
trên nó là cái mái nhỏ xíu - một vật trang trí độc đáo và đồng thời cũng là dấu
hiệu cho thấy hãng buôn đã lâu đời”. Không gian ngôi nhà hiện lên cho thấy
gia đình ông Takichiro là một gia đình thương gia buôn bán khá giả, có lối
kiến trúc mang đậm chất cố đô Kyoto.
Cửa hàng của gia đình Xada là không gian cư trú của ba thành viên
Takichiro, Xighe và Chieko. Tuy vậy vì thiết kế khá đặc biệt mà nó gây cản
trở cho công việc sáng tạo của ông Takichiro. Trong không khí tĩnh mịch nơi
chùa chiền, khi phác thảo bản vẽ cho thắt lưng kimono, bất chợt ông
Takichiro lại đồng hiện khung cảnh buôn bán ở cửa hàng nhà ông. Việc mua
bán ở cửa hàng và những người khách ra vào ngang qua phòng làm việc của
ông gây phiền nhiễu cho ông không ít. Ông phải kìm nén những bực dọc và
nó trở thành độc tố trong tâm hồn ông, hiện hình một cách rõ nét qua bản
phác thảo kimono mà ông đưa Hideo xem mẫu. Bức vẽ này thể hiện sự sáng
tạo tuyệt vời của ông Takichiro, chiếc thắt lưng cùng mẫu vẽ đó được Hideo
dệt như một cặp bằng cả tài năng và tâm hồn. Một thành phẩm hoàn hảo được
19
tạo ra từ sự lao động nghệ thuật của hai lữ khách độc lập nhau đã tạo thành
nhịp cầu để những tâm hồn cô độc được giải phóng. Và dòng ý thức dẫn ông
đến với tấm rèm vải hoa được Chieko chu đáo treo để ngăn cách âm thanh
bên ngoài với phòng làm việc của ông.
Cửa hiệu của gia đình Xada cách đó hàng chục năm nơi cô bé Chieko bị
bỏ rơi được dấu kín trong hồi ức của ông Takichiro và bà Xighe. Đó là không
gian nơi cái đẹp được sinh ra. Nếu không có mảng kí ức của bà Xighe, người
đọc sẽ phân vân giữa hai giả thuyết: Chieko bị bỏ rơi hay Chieko thực sự bị
đánh cắp. Bối cảnh đồng hiện này tồn tại trong kí ức bà Xighe như một ngăn