BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT NỖI BUỒN CHIẾN TRANH
C
ỦA BẢO NINH VÀ ĂN MÀY DĨ VÃNG CỦA CHU LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM HÀ NỘI, 2014
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian cố gắng, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sỹ với đề tài
Không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến
tranh của Bảo Ninh và Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai. Tôi xin gửi lời cảm ơn
chân thành và sâu sắc nhất tới các thầy cô trong phòng Sau đại học - trường
Đại học sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy và đặc biệt là
cô giáo - PGS.TS. Lý Hoài Thu đã tạo điều kiện giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt
tình để tôi hoàn thành luận văn thạc sỹ này.
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Phương Thảo
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
5. Phương pháp nghiên cứu 8
6. Đóng góp của luận văn 9
7. Cấu trúc luận văn 9
NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1: NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH VÀ ĂN MÀY DĨ
VÃNG CỦA CHU LAI TRONG DÒNG CHẢY CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT
NAM VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH SAU NĂM 1975 10
1.1.Tiểu thuyết và những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết 10
1.2. Diện mạo của văn xuôi nói chung và tiểu thuyết Việt Nam nói riêng về đề
tài chiến tranh sau năm 1975 14
3.2. Các dạng thức thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến
tranh của Bảo Ninh và Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai 72
3.2.1. Thời gian lịch sử - sự kiện 72
3.2.2. Thời gian đồng hiện 75
3.3. Cách thức biểu hiện thời gian tiêu biểu trong Nỗi buồn chiến tranh và
Ăn mày dĩ vãng 80
3.3.1. Nỗi buồn chiến tranh: Thời gian quá khứ qua dòng kí ức và hoài
niệm 80
3.3.1.1. Dòng kí ức về những người thân trong gia đình 81
3.3.1.2. Dòng kí ức về đồng đội 84
3.3.1.3. Dòng kí ức về tình yêu và tuổi trẻ 93
3.3.2. Ăn mày dĩ vãng: Thực tại ăn mày quá khứ hào hùng trong hành
trình đi tìm dĩ vãng 103
3.3.2.1. Hành trình đi tìm dĩ vãng về đồng đội 105
3.3.2.2. Hành trình đi tìm dĩ vãng về tình yêu 108
*** Mối quan hệ giữa không gian và thời gian nghệ thuật trong Nỗi buồn
chiến tranh của Bảo Ninh và Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai 111
KẾT LUẬN 114
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
thời điểm xuất hiện gần nhau và đều được dư luận quan tâm đánh giá cao. Nỗi
buồn chiến tranh đã đạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 1991,
còn Ăn mày dĩ vãng đã dành được hai giải thưởng văn học (Giải A của hội
đồng văn học về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang Hội nhà
văn năm 1993, Giải thưởng văn học Bộ quốc phòng năm 1994), hai giải sân
khấu và vài giải điện ảnh. Đặt trong mạch vận động của văn xuôi chiến tranh
sau năm 1975, hai tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Ăn mày
dĩ vãng của Chu Lai là những thành công vượt trội.
Bảo Ninh và Chu Lai đều là những người lính trực tiếp chiến đấu trước
khi trở thành nhà văn. Những năm tháng vào sinh ra tử ở chiến trường Tây
2 Nguyên (Bảo Ninh) và ở vùng ven đô Sài Gòn (Chu Lai) đã để lại dấu ấn sâu
sắc trong tâm hồn mỗi người và cho họ vốn sống phong phú về số phận con
người ở nơi mà ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ là gang tấc. Vì thế viết
về đề tài chiến tranh sẽ là thế mạnh của họ và không gian – thời gian nghệ
thuật khi về viết về đề tài này được họ thể hiện một cách độc đáo trong các
tác phẩm. Trong số đó phải kể đến hai tác phẩm thành công hơn cả của Bảo
Ninh và Chu Lai là Nỗi buồn chiến tranh và Ăn mày dĩ vãng.
1.3. Nhìn lại chặng đường đã qua, ta thấy có nhiều ý kiến bình luận khác
nhau, nhiều nghiên cứu đánh giá khác nhau về hai cuốn tiểu thuyết và hầu hết
đều khẳng định vị trí quan trọng của chúng trong đời sống tiểu thuyết đương
đại. Những công trình nghiên cứu tuy nhiều nhưng mới dừng lại chủ yếu ở
vấn đề miêu tả chiến tranh ở góc độ cá nhân thân phận con người, về việc sử
dụng kết cấu dòng ý thức độc đáo mới lạ, thủ pháp đồng hiện nối liền quá khứ
và tương lai… Sự độc đáo về không gian – thời gian nghệ thuật tuy đã được
đề cập nhưng còn tản mạn, riêng lẻ và còn có nhiều hướng mở ra để người
nghiên cứu tìm hiểu sâu sắc hơn về vấn đề này.
Có thể thấy Nỗi buồn chiến tranh và Ăn mày dĩ vãng đã thành công
bóng dáng của một tác phẩm lớn”. Còn giáo sư Trần Đình Sử lại nhận xét:
“Bảo Ninh đã đóng góp đáng kể nhiều mặt cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện
đại”. Lê Quang Trung thì khẳng định: “Tác giả cố gắng là người không chịu
đi trên lối mòn, có sự kết hợp giữa tính chân thực và huyền thoại. Tất cả
thông qua dòng ý thức của Kiên làm nên số phận các nhân vật…”.
Trên báo Văn nghệ số 43, 44, 47 năm 1991 liên tục có các bài viết về
Nỗi buồn chiến tranh như Nguyễn Khắc Phê với Đôi điều quanh ba tiểu
thuyết được giải, Đỗ Ngọc Thống với bài Viết về một xu hướng tiếp cận tác
phẩm.
Tiến sĩ mĩ học Đỗ Văn Khang lại chính thức phủ nhận không thương
tiếc giá trị của tác phẩm. Trên báo Văn nghệ số 43 ngày 26 tháng 10 năm
1991 với bài Nghĩ gì khi đọc thân phận của tình yêu ông viết: “… Tác phẩm
có cảm hứng chủ đạo là rối bời, bất định, tư tưởng rõ rang là hoang mang, dễ
4 rơi vào phủ định”. Cách tiếp cận như thế được xem là chưa xác đáng và còn
phiến diện.
Bên cạnh một số nhận xét phủ định giá trị Nỗi buồn chiến tranh của
Bảo Ninh, nhìn chung cuốn tiểu thuyết được đánh giá cao từ các nhà nghiên
cứu phê bình và đọc giả. Đó cũng là xu hướng đánh giá chung của các nhà
nghiên cứu hiện thời.
Trong cuốn Thi pháp hiện đại, với bài viết Thân phận tình yêu của
Bảo Ninh tác giả Đỗ Đức Hiểu đã đánh giá cao về tác phẩm, về ngôn từ nghệ
thuật cũng như vai trò của nhà văn: “Thân phận tình yêu hay Nỗi buồn
chiến tranh là một hiện tượng ngôn từ lạ lùng mang tính đa thanh, tính đối
thoại… là một cuộc phiêu lưu muốn nhập vào văn học hiện đại thế giới”. Tác
giả Nguyễn Đăng Điệp với bài Kĩ thuật dòng ý thức qua Nỗi buồn chiến
tranh của Bảo Ninh (In trong cuốn Tự sự học – một số vấn đề lí luận và lịch
sử) đã có những nghiên cứu rất sâu về kĩ thuật dòng ý thức – một thủ pháp
Ra đời sau Nỗi buồn chiến tranh, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai dường
như có số phận suôn sẻ hơn nhiều. Nó ít gặp phải nhiều tranh cãi như cuốn
tiểu thuyết của Bảo Ninh. Khi công bố giải thưởng văn học về đề tài chiến
tranh cách mạng và lực lượng vũ trang tuyển chọn trong ba năm (1991 –
1993), nhà văn Xuân Thiều với cương vị chủ tịch Hội đồng xét giải cho rằng:
“Để viết được tác phẩm này, dường như Chu Lai phải vật vã quặn đau như
người trở dạ. Cái tâm huyết của tác giả được phơi bày ra, y như người đọc có
thể nghe rõ tiếng kêu tha thiết và đau đớn, rằng, hỡi con người đương đại và
cả mai sau, hãy tĩnh tâm lại, không được bỏ quên quá khứ hào hùng, chứa
đầy máu và nước mắt của cả một dân tộc. Có thể gọi tác phẩm này đầy chất
lính, giọng văn băm bổ, sôi động, các thứ tình cảm suy tư đều đẩy đến tận
cùng. Cốt truyện có pha chút li kỳ bí hiểm kiểu kiếm hiệp, đọc rất cuốn hút.
Có những chương, những đoạn anh viết về chiến trường hết sức linh động,
nếu không là người trong cuộc, không dựng lại không khí một địa bàn chiến
đấu khá đặc biệt này…. Ăn mày dĩ vãng cũng có chỗ chưa hoàn mỹ. Chính
cái giọng văn băm bổ sôi động ấy, chính cái cách đầy tình cảm, tư duy đến
tận cùng ấy lại tạo ra cái mặt trái khác bởi tính thái quá. Đấy là sự cường
6 điệu trong xử lý tình tiết, sự lộng ngôn trong văn bản. Và cũng vì say sưa
trong cốt truyện, tác giả đã thiếu chặt chẽ trong lý giải tính cách nhân vật của
mình. Từ bỏ quá khứ với một người dũng cảm trung hậu như Ba Sương, quả
thật không thể là điều quá dễ dàng. Dù sao đây cũng là cuốn tiểu thuyết sáng
giá về chiến tranh và người lính, với tầm tư tưởng đúng đắn và trong sáng rất
đáng trân trọng, khích lệ” [55].
Trong bài Một vài cảm nhận sau khi đọc Ăn mày dĩ vãng, tác giả
Xuân Trường đã đánh giá về cuốn tiểu thuyết của Chu Lai: “Cuộc chiến tranh
mà Chu Lai viết lại đó chính là cuộc chiến tranh thật anh dũng và quá nhiều
chính nghĩa vẫn cháy lên niềm tin mãnh liệt vào sự chiến thắng của cái tốt,
cái đẹp… Vì thế mặt trái của chiến tranh được phơi bày thì đồng thời vẻ đẹp
của con người, của cuộc chiến cũng được khẳng định” [25, tr.69]. Nguyễn
Thị Ngọc Diệp nhận xét về cách miêu tả sự hy sinh của người lính: “Vẫn là
hình ảnh của lớp lớp người lên đường chiến đấu rồi ngã xuống để giành giật
lấy hòa bình, nhưng không còn cái không khí hào hứng rộn rã đã có…. Có cái
gì đó thật ngậm ngùi buồn đau, đôi khi còn là sự xót xa chua chát” [12,
tr.42].
Những tìm tòi đánh giá của những người đi trước là những gợi ý quý
báu để tác giả luận văn mạnh dạn đi vào khai thác tìm hiểu sâu sắc hơn không
gian – thời gian nghệ thuật và mối quan hệ giữa chúng trong hai tác phẩm
được đánh giá là đỉnh cao của văn học viết về chiến tranh sau năm 1975 này.
Bởi lẽ tác giả nhận thấy những bài viết, nghiên cứu đánh giá tuy nhiều nhưng
vấn đề về không – thời gian nghệ thuật trong hai tác phẩm còn có thể được
khai thác tìm hiểu sâu hơn. Hơn nữa tìm hiểu sự độc đáo về không – thời gian
nghệ thuật và mối quan hệ giữa chúng trong hai tác phẩm đặt trong sự đối
sánh với các tác phẩm sau năm 1975 viết về cùng chủ đề chiến tranh khác là
điều rất cần thiết và là mục đích mà tác giả luận văn muốn hướng tới.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là tìm tòi, phát hiện những nét độc đáo riêng
biệt của Không – thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh
8 của Bảo Ninh và Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai; chỉ ra mối quan hệ giữa không
gian và thời gian nghệ thuật trong hai tác phẩm này, tất nhiên không tách rời
nó với việc đối sánh với các tác phẩm khác viết về cùng chủ đề chiến tranh và
làm sáng tỏ nội dung của hai cuốn tiểu thuyết.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Trên cở sở những tiền đề kiến thức lí luận cơ sở, luận văn chỉ rõ những
đặc điểm về không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Nỗi buồn
chiến tranh của Bảo Ninh và Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai.
6.2. Luận văn phát hiện và chỉ rõ nét độc đáo riêng biệt và mối quan hệ giữa
không gian và thời gian nghệ thuật trong hai cuốn tiểu thuyết này, có sự so
sánh đối chiếu với các tác phẩm khác cùng viết về đề tài chiến tranh. Với
những phát hiện này, luận văn nêu bật những đóng góp to lớn của Bảo Ninh
và Chu Lai trong hành trình cách tân thể loại tiểu thuyết Việt Nam đương đại,
đặc biệt là về mặt xây dựng các mô hình không gian và tổ chức các dạng thức
thời gian nghệ thuật. Từ đó, khẳng định những dấu ấn thi pháp cũng như tài
năng phong cách của từng nhà văn.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn sẽ được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Ăn mày dĩ vãng của
Chu Lai trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam về đề tài chiến tranh
sau năm 1975
Chương 2: Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh và Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai
Chương 3: Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh và Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai
10 NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH VÀ ĂN MÀY DĨ VÃNG
CỦA CHU LAI TRONG DÒNG CHẢY CỦA TIỂU THUYẾT
chất tổng quát hơn cả về thể loại này: “Tiểu thuyết là một thể loại lớn nằm
trong phương thức tự sự có khả năng phản ánh hiện thực một cách bao quát ở
mọi giới hạn không gian và thời gian, khả năng khám phá một cách sâu sắc
những vấn đề thuộc thân phận con người thông qua những tính cách đa dạng
phức tạp và khả năng tái hiện những bức tranh mạng tính tổng thể rộng lớn
về đời sống xã hội”. Điểm chung gặp gỡ của các quan điểm là đều khẳng định
tính chất đặc biệt và vai trò rộng lớn của tiểu thuyết: Phản ánh bức tranh hiện
thực rộng lớn trong đó chứa đựng nhiều vấn đề sâu sắc của đời sống xã hội,
của số phận con người.
Nếu truyện ngắn là một thể loại tự sự cỡ nhỏ, khả năng bao quát hiện
thực đời sống, thể hiện số phận cá nhân chỉ giới hạn trong một phạm vi nào
đó, ít thể hiện quá trình vận động mà chủ yếu như một lát cắt, một khoảnh
khắc, quan tâm đến cái chốc lát thì tiểu thuyết là một dòng chảy theo suốt số
phận con người. Bản thân tiểu thuyết cũng luôn biến đổi, có khả năng “tung
hoành” vô bờ, có “sức chứa” và “sức chở” hiện thực rất lớn. Nó mô tả hiện
thực đời sống ở bề rộng lẫn chiều sâu. Xác định nội hàm tiểu thuyết giúp ta
nhận được những đặc điểm thi pháp cơ bản của thể loại. Trên cơ sở đó, khám
phá về quan niệm nghệ thuật của người nghệ sĩ cũng như cách thức kiến tạo
các yếu tố thời gian và không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học.
Trong mối tương quan với các thể loại khác, tiểu thuyết là một thể loại
có dung lượng phản ánh hiện thực, “sức chứa” hiện thực lớn: Không chỉ có
khả năng bao quát hiện thực rộng lớn theo xu thế “hướng ngoại”, tiểu thuyết
còn “hướng nội” – tập trung khám phá những bí ẩn, đa chiều trong đời sống
tâm hồn con người – đây thực sự là yếu tố cốt yếu tạo nên sức hấp dẫn bền
vững của thể loại này.
12 Tiểu thuyết nổi bật lên ở “khả năng phản ánh một cách toàn vẹn và
sinh động bức tranh mang tính tổng thể của hiện thực đời sống”. Đây là một
Ngoài ra, tiểu thuyết còn là một thể loại mang bản chất tổng hợp, có sự
pha trộn đa dạng trong tiểu thuyết những phong cách nghệ thuật của các thể
loại khác như thơ, kịch, ký… và khả năng tổng hợp những thủ pháp nghệ
thuật của các loại hình lân cận như điện ảnh, hội họa, điêu khắc, âm nhạc…
Trong nhiều trường đoạn khác nhau, người viết tiểu thuyết có thể vận dụng
một cách linh hoạt và sáng tạo nhiều phương thức: tự sự, trữ tình, kịch. Trong
quỹ đạo vận động của thể loại, người viết tiểu thuyết có thể khai thác ưu thế
của điện ảnh, điêu khắc, âm nhạc, hội họa trong việc lắp ghép các mảng
không gian, đặc tả chi tiết, tạo hình nhân vật, phối âm, hòa sắc… Có thể bắt
gặp trong tiểu thuyết những rung động tinh tế, cảm xúc tràn trào của thơ ca,
những xung đột xã hội gay gắt của hình thái kịch, những mảng hiện thực nóng
hổi chất sống trực tiếp của ký, những sắc màu của hội họa, những điệp khúc,
thanh âm của nhạc, sự hỗ trợ, thay thế ký hiệu ngôn ngữ bằng những khuôn
hình của điện ảnh, những bức chân dung cân xứng hài hòa của điêu khắc… Ở
mỗi giai đoạn, thời kì, ở từng tác giả, tiểu thuyết lại “lột xác” để tìm kiếm cho
mình những nét mới đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của công chúng
văn chương. Đó là Gorki với tiểu thuyết thế sự - trữ tình, Tônxtôi với tiểu
thuyết sử thi – tâm lý, Đôtxtôiépki với tiểu thuyết – kịch, Mác két với tiểu
thuyết huyền thoại… Điều này đã minh chứng cho câu nói của M.Bakhtin
“Tiểu thuyết là thể loại duy nhất đang định hình và chưa xong xuôi”.
Bước sang thế kỷ mới (thế kỷ XXI), sứ mệnh của tiểu thuyết đối với
đời sống văn học chắc chắn vẫn là hết sức to lớn. Nhìn vào những đặc trưng
của tiểu thuyết, chúng ta hoàn toàn có đầy đủ cơ sở để khẳng định rằng: Một
nền văn học chỉ thực sự lớn mạnh khi nó được nuôi dưỡng bằng tác phẩm và
tên tuổi của các nhà tiểu thuyết. Cùng với sự xuất hiện và “lên ngôi” của thi
pháp học (cụ thể là thi pháp thể loại và tự sự học) thì không gian và thời gian
nghệ thuật là yếu tố quan trọng được các nhà nghiên cứu quan tâm khi tìm
hiểu tiểu thuyết. Bởi lẽ trong những cách tân nghệ thuật gần đây, phạm trù
14
15 Cảm hứng chủ đạo trong văn xuôi chiến tranh khi đó là chủ nghĩa yêu
nước, khát vọng tự do độc lập, là niềm tự hào về sự nghiệp cứu nước vĩ đại
của nhân dân Việt Nam anh hùng. Nhà nghiên cứu phê bình Hoài Thanh nhận
thấy: “Thực đẹp đẽ vô cùng cái quang cảnh của một dân tộc vươn mình lên
ánh sáng, cảnh tưng bừng của cả dân tộc Việt Nam trỗi dậy. Tôi cảm thấy
khắp nơi ở quanh tôi và trong lòng tôi một cuộc tái sinh màu nhiệm”. Đó
chính là niềm hạnh phúc từ đáy lòng những công dân đầu tiên được làm chủ
vận mệnh mình, được thấy rõ sức mạnh của dân tộc mình. Trong chiến tranh,
họ càng hiểu hơn bao giờ hết chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.
Đã có bao lớp thanh niên xác định “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến
chống quân thù”, “Đánh Tây sướng bằng tiên chớ gì” [53, tr.60]. Với họ,
đường ra trận là “Đường vui” (Nguyễn Tuân), khuôn mặt người “bừng bừng
như say” [7, tr.50]. Cảnh ra trận trong nhiều trang viết thẫm đẫm chất thơ và
chất lãng mạn. Anh phi công trong Vùng trời của Hữu Mai ngồi trong máy
bay mà vẫn nhận thấy thiên nhiên thật huyền diệu: “Trên đầu anh có một trời
sao và dưới cánh anh cũng là một trời sao của đất nước”. Còn nhân vật
Thiêm (Trong Mẫn và tôi của Phan Tứ) thì thổ lộ: “Bỗng dưng tôi bắt gặp
một bông hoa vui đang nở ngập ngừng trong tôi, tỏa hương quen thuộc,xông
vào đầu tôi lịm dần. Tôi nhận ra rồi. Đó là niềm vui được đánh giặc”[58,
tr.93]. Những lời đẹp nhất dành cho những người anh hùng có chiến công
oanh liệt. Họ là “thứ thép được luyện lửa nhiều rồi, đem đúc súng hay rèn
lưỡi cày đều ăn chịu cả” [58, tr.647].
Âm hưởng sử thi hào hùng, sảng khoái, cảm hứng ngợi ca cuộc chiến
hiện tại và tin tưởng mãnh liệt vào ngày mai đã trở thành đặc điểm chủ đạo
trong văn xuôi về đề tài chiến tranh trước năm 1975. Và nguồn cảm hứng chủ
đạo ấy sẽ chi phối cách tổ chức cốt truyện, cách xây dựng nhân vật và sự lựa
chọn ngôn ngữ, giọng điệu… Nhìn chung, cốt truyện của văn xuôi Việt Nam
đoạn quay ngược về quá khứ song dường như các đoạn này chỉ có tác dụng
soi chiếu nội tâm nhân vật chứ không tạo ấn tượng riêng nào về thời gian.
Truyện Mẫn và tôi do tôi (Thiêm) kể lại. Đôi khi có vài đoạn hồi tưởng lại
thời kỳ Thiêm chưa vào bộ đội song thực chất câu chuyện vẫn được kể theo
17 trình tự thời gian tuyến tính, mối tình Mẫn – Thiêm hình thành và ngày càng
gắn bó cùng sự trưởng thành của đội quân du kích Tam Sa từ lúc còn đầy khó
khăn đến khi đủ lớn mạnh để đương đầu với kẻ thù. Cách trần thuật theo thời
gian tuyến tính như vậy là phù hợp với nhãn quan chính trị. Mọi xung đột làm
nền cho tác phẩm đều là xung đột có tính lịch sử - xã hội.
Cách xây dựng nhân vật trong văn xuôi chiến tranh trước năm 1975
mang nhiều nét đặc trưng riêng. Trần Đình Sử cho rằng: “Nhân vật văn học
nào cũng biểu hiện cách hiểu của nhà văn về con người theo một quan điểm
nhất định và qua các đặc điểm mà anh ta lựa chọn” [45, tr.46]. Cách xây
dựng nhân vật phụ thuộc vào quan niệm nghệ thuật về con người trong từng
thời kì văn học. Sứ mệnh “phục vụ kháng chiến” đã hướng nhà văn tập trung
thể hiện con người quần chúng, những người thuộc ba thành phần cơ bản:
công – nông – binh. Các chủng loại nhân vật khác ít xuất hiện, hoặc nếu có
cũng rất mờ nhạt. Phù hợp với cách tổ chức cốt truyện trên cơ sở xung đột
địch – ta, nhân vật được phân ra rạch ròi hai tuyến chính diện và phản diện.
Nhưng dụng công và tâm huyết của nhà văn luôn dành cho các nhân vật chính
diện. Đó phần lớn là những người anh hùng. Họ mang phẩm chất của nhân vật
sử thi: là đại diện cho vẻ đẹp của cộng đồng, tầm vóc núi sông, của lịch sử,
luôn luôn chiến thắng hoàn cảnh. Họ sống chủ yếu trong tư cách con người
chính trị, con người công dân. Bị kẻ thù treo lơ lửng trên cây dừa, chị Sứ tự
nhủ: “Bữa nay có lẽ mình chết. Nhưng mình chỉ thấy tiếc chứ không ăn hận
mắc cỡ gì cả… Tới phút này đối với Đảng, mình vẫn còn y nguyên, như chị
Minh Khai, chị Võ Thị Sáu… nên từ phút này trở đi, mình cũng phải giữ được
một cây mác, một cây vụ, một cây rựa. Ai không có thì vót chông, năm trăm
cây chông. Đốt lửa lên!”. Hào sảng hoặc trữ tình thống thiết là những sắc
giọng thể hiện ý thức nhà văn về tính chất chính nghĩa và vẻ đẹp của cuộc
kháng chiến. Hiện thực chiến tranh thường được thi vị hóa, được “tráng một
lớp men trữ tình hơi dày” như sau này Nguyễn Minh Châu nhìn lại.
Tóm lại, là một bộ phận cơ bản làm nên diện mạo văn học 1945 – 1975,
đề tài chiến tranh được các nhà văn xử lý nhất quán, tuân theo khuôn mẫu
chung của loại hình văn học sử thi.