Khảo sát ý nghĩa hình ảnh trong ca dao dân ca tày nùng - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
ĐỖ VÂN NGA
KHẢO SÁT Ý NGHĨA HÌNH ẢNH
TRONG CA DAO - DÂN CA TÀY NÙNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
THÁI NGUYÊN - 2012 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các nội
dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố
trong bất cứ một công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Đỗ Vân Nga

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ khoa Ngữ văn,
phòng Quản lý và Đào tạo sau đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
đã tạo điều kiện cho tôi học tập.
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễ n Thị Huế , người
trong suốt thời gian qua đã tận tình giúp đỡ và động viên rất nhiều để tôi có
thể hoàn thành luận văn này.
Lời cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã động viên,
khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tác giả luận văn
Đỗ Vân Nga
DAO - DÂN CA TÀY NÙNG 33
2.1. Khảo sát những hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ trong ca dao - dân ca Tày
Nùng. 33
2.1.1. Hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ. 34
2.1.2. Hình ảnh động vật 41
2.1.3. Hình ảnh thực vật 48
2.1.4. Hình ảnh vật nuôi 55

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ii
2.2. Khảo sát những hình ảnh là vật dụng của con ngƣời trong sinh hoạt
hàng ngày. 57
2.2.1. Hình ảnh công trình kiến thiết 57
2.2.2. Hình ảnh các dụng cụ sinh hoạt gia đình 65
2.2.3. Hình ảnh những dụng cụ lao động sản xuất. 69
2.2.4. Hình ảnh đồ dùng cá nhân 73
2.3. Khảo sát những hình ảnh liên quan đến con ngƣời trong ca dao - dân ca
Tày Nùng 76
* Tiểu kết chƣơng 2 79
Chƣơng 3. Ý NGHĨA XÃ HỘI VÀ THẨM MỸ CỦA MỘT SỐ HÌNH
ẢNH TIÊU BIỂU TRONG CA DAO - DÂN CA TÀY NÙNG 81
3.1.  nghĩa của những hình ảnh có nguồn gốc từ các hiện tƣợng thiên
nhiên và đời sống hàng ngày của ngƣời dân Tày Nùng. 81
3.1.1. Hình ảnh núi non và con đèo 81
3.1.2. Hình ảnh mặt trăng, mặt trời 83
3.1.3. Hình ảnh chim 86
3.2.  nghĩa của những hình ảnh c ó nguồn gốc từ tín ngƣỡng - nghi lễ và
phong tục tập quán của ngƣời Tày Nùng 94
3.2.1. Hình ảnh trầu cau 94

Lấy nguồn cảm hứng từ cuộc sống, từ thiên nhiên, vũ trụ lời ca, tiếng
hát dân gian đƣợc tạo nên, nó là “cái hay, cái thơm của dân tộc”. Không có
tiếng đàn, tiếng hát “cuộc sống nhƣ thiếu muối, thiếu cơm”. Nhất là đối với
đồng bào các dân tộc cƣ trú ở những nơi non xanh núi biếc, suối sâu rừng
thẳm. Sống ở những vùng nhƣ vậy, chỉ có ca hát, đối đáp mới làm vui bản,
rộn mƣờng, câu ca cất lên để giải khuây bớt cảnh vắng lặng, giải tỏa những
cực nhọc, khổ đau, cất lên để giãi bày tâm tƣ, để trao duyên tình tứ, để thể
hiện ƣớc mơ, khát vọng hạnh phúc và để giúp ngƣời dân nơi đây hăng say lao
động, gây dựng bản làng ngày càng tốt đẹp hơn. Cũng là dân tộc thiểu số nên
ca dao - dân ca của hai dân tộc Tày Nùng cũng không nằm ngoài quy luật
phản ánh trên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
Ca dao - dân ca Tày Nùng là một phần quan trọng trong ca dao - dân ca
các dân tộc thiểu số, nó góp phần làm rạng rỡ hơn khuôn mặt xinh đẹp của
văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam. Với khối lƣợng những bài đã
sƣu tầm đƣợc có thể nói ca dao - dân ca Tày Nùng phong phú và đa dạng vào
bậc nhất nhì so với các dân tộc anh em khác (chỉ sau dân tộc Việt). Giới
nghiên cứu đã biết nhiều, viết nhiều về những làn điệu Then, Sli, Lƣợn…của
ngƣời Tày Nùng.
Tuy nhiên, ca dao - dân ca các dân tộc chủ yếu đạt nhiều thành tựu ở
việc sƣu tầm, biên soạn còn việc nghiên cứu các phƣơng diện nội dung, nghệ
thuật vẫn là vấn đề cần phải tiếp tục đi sâu tìm hiểu hơn nữa, nhằm để khẳng
định ý nghĩa, giá trị văn hoá của kho tàng văn học dân gian này. Trong đó,
việc nghiên cứu những hình ảnh, hình tƣợng, biểu tƣợng phản ánh mang tính
đặc trƣng dân tộc hầu nhƣ chƣa đƣợc các nhà nghiên cứu đề cập tới. Do vậy,
xuất phát từ tình hình thực tế, từ điều kiện và môi trƣờng công tác học tập, từ
tinh thần ham học hỏi và yêu thích ca dao - dân ca dân tộc các dân tộc thiểu

học dân gian, tiêu biểu cho những nhà văn hóa theo tân học nhƣng coi trọng
vốn văn học dân tộc. Hai ông đã có những cống hiến đáng kể vào việc sƣu tập
và nghiên cứu văn học dân gian với 6500 câu tục ngữ và 850 bài ca dao.
 Thời kỳ xây dựng nền văn hóa XHCN
Cách mạng tháng 8 đánh dấu một bƣớc ngoặt vĩ đại, mở ra một kỷ
nguyên mới cho sự phát triền về mọi mặt của đời sống dân tộc. Lịch sử
nghiên cứu, sƣu tầm văn học dân gian nói chung và ca dao - dân ca nói riêng
cùng bƣớc sang một trang mới đầy khởi sắc.
Mở đầu cho thời kì nở rộ công tác sƣu tầm và giới thiệu văn học dân
gian là cuốn Tục ngữ và dân ca của Vũ Ngọc Phan (xuất bản lần I - 1956) cho
đến nay đã tái bản trên dƣới 10 lần.
Tiếp đến là hàng loạt cuốn sách về ca dao - dân ca của mọi miền tổ
quốc nhƣ: Hát ví Nghệ Tĩnh, Hát phường vải, Hát giặm Nghệ Tĩnh (2 tập, tập
1 gồm 2 quyển); Dân ca quan học Bắc Ninh, Dân ca Thanh Hóa, Dân ca
miền Nam Trung Bộ (2 tập); Dân ca Bình Trị Thiên…

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
Việc sƣu tầm và biên soạn những công trình trên đã trở thành cơ sở đầu
tiên của việc nghiên cứu ca dao - dân ca và từ đó cho đến nay hàng trăm, hàng
ngàn đầu trang sách đáng quý đã ra đời phục vụ cho công tác học tập và giảng
dạy ca dao - dân ca trong các trƣờng phổ thông và đại học
So với lịch sử sƣu tầm và nghiên cứu ca dao - dân ca của ngƣời Việt
thì sƣu tầm, nghiên cứu ca dao - dân ca các dân tộc thiểu số còn rất non trẻ và
dừng lại ở số đầu cách rất khiêm tốn. Chỉ có một vài dân tộc có trình độ phát
triển thì công tác sƣu tầm mới đƣợc đẩy mạnh. Những cuốn Dân ca Mường,
Dân ca Mèo,… là những cuốn ra đời sớm nhất. Nhƣng vài thập kỉ trở lại đây
công tác sƣu tầm và nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số đã đƣợc quan tâm
hơn và ngày càng có nhiều công trình sƣu tập, nhiều chuyên luận, bài viết

của nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Lựa chọn đề tài luận văn “Khảo sát ý nghĩ a hình ảnh trong ca dao -
dân ca Tày Nùng”, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát, nghiên cứu và hệ thống
về những hình ảnh tiêu biểu, xuất hiện một cách thƣờng xuyên và chứa đựng
những ý nghĩa biểu tƣợng mang đặc trƣng dân tộc trong ca dao Tày Nùng. Tài
liệu mà chúng tôi dùng để khảo sát chủ yếu dựa vào các cuốn sách sau:
- Ca dao - dân ca Tày - Nùng, Triều Ân sƣu tầm, tuyển dịch giới thiệu,
nhà xuất bản văn hóa dân tộc, H, 1994 (Tƣ liệu A1)
- Dân ca đám cưới Tày - Nùng, Vi Quốc Bảo, Nông Minh Châu sƣu
tầm và giới thiệu, Nxb Việt Bắc, 1973 (Tƣ liệu A2)
- Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam. (Tập 17, 18, 19),
Nxb Khoa học xã hội, H, 2007 (Tƣ liệu A3)
Đây là những công trình sƣu tập khá đầy đủ về ca dao dân tộc Tày
Nùng. Trong quá trình khảo sát, chúng tôi có sự tham khảo và so sánh với ca

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
dao của những dân tộc cùng chung hệ ngôn ngữ để từ đó rút ra sự tƣơng đồng
và khác biệt.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi lựa chọn tài liệu và tập trung phạm vi
nghiên cứu của mình vào việc khảo sát phần lời ca trong các tài liệu sƣu tập
ca dao dân ca Tày Nùng nói trên (A1, A2, A3).
4. Mục đích nghiên cứu
Qua việc tìm hiểu đề tài, luận văn sẽ chỉ ra những vấn đề sau:
- Giá trị và chỗ đứng của ca dao Tày Nùng trong văn học dân gian các
dân tộc thiểu số nói riêng và văn học dân gian Việt Nam nói chung.

tiêu biể u truyề n thố ng
- Chƣơng 2: Khảo sát và phân l oại hệ thống hình ảnh trong ca dao -
dân ca Tày Nùng
- Chƣơng 3:  nghĩa xã hội và thẩm mỹ của một số hình ảnh tiêu biểu
trong ca dao - dân ca Tà y Nù ng.
- Ngoài ra là phần Phụ lục, Ti liệu tham khảo.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
Chƣơng 1
CA DAO - DÂN CA TÀY NÙNG VÀ SỰ XUẤT HIỆN NHỮNG
HÌNH ẢNH TIÊU BIỂU TRUYỀN THỐNG

Thơ ca dân gian của ngƣời Tày Nùng hết sức phong phú và đa dạng,
biểu hiện đời sống tâm hồn Tày Nùng ở đủ mọi cung bậc và sắc điệu. Ngƣời
Tày Nùng nói rằng chỉ riêng những câu lƣợn của mình đã "Nhiều hơn sao trên
trời" và ý tứ của nó cũng "Nhiều hơn nƣớc chảy". Đó là "Những lời từ gió mà
ra thành tiếng" vọng vào núi, rền vách đá để dội lại lòng ngƣời mọi buồn - vui
- sƣớng - khổ ở cõi ngƣời. Với họ con ngƣời thì có hạn nhƣng những lời ca,
câu hát từ ca dao - dân ca thì đông nhƣ cây rừng. Thơ ca dân gian của ngƣời
Tày Nùng có thể nói là phong phú, đặc sắc vào loại bậc nhất so với các dân
tộc thiểu số anh em khác. Nó bao gồm sli, lƣợn, hát then, hát pựt, mại xe, văn
than, văn tế, phong slƣ, hát quan lang, hát đồng dao, hát ru em Có đến với
những lời thơ, câu hát của ngƣời Tày Nùng chúng ta mới khám phá ra nhiều
cái hay, các đẹp mang dấu ấn bản sắc tộc ngƣời chứa đựng trong lớp ngôn từ
giản dị mà súc tích. Đặc biệt, nhiều ngƣời đã nhận thấy hệ thống những hình
ảnh, hình tƣợng có vị trí, ý nghĩa quan trọng trong ngôn ngữ thể loại này.
1.1. Ca dao - dân ca trong đời sống tinh thần của ngƣời dân Ty Nùng
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những hình ảnh tiêu biểu truyền

cầu yên, giải hạn, "Chữa bệnh" cho ngƣời ốm, "Cầu mùa" cho dân gian nhằm
đem lại niềm vui, chỗ dựa tâm linh cho từng gia đình Tày Nùng.
Thể tài Mo chủ yếu đƣợc các ông Mo diễn xƣớng trong các cuộc hành
lễ trấn quỷ, trừ tà - ngôn ngữ Mo thƣờng dùng là tiếng Hán Hoa Nam. Nội
dung Mo chứa đựng rất nhiều tính chất bí ẩn, thể hiện tín ngƣỡng thần bí.
Thể tài Pựt, Then có nhiều điểm tƣơng đồng về nội dung và hình thức
diễn xƣớng. Trong nội dung Pựt, Then chất chứa giá trị văn học trong lời ca
và tính nghệ thuật cao trong diễn xƣớng. Vì thế, hai thể tài này có sức hấp dẫn
đặc biệt lâu bền, thật sự là nghệ thuật dân gian có sức cuốn hút mãnh liệt.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
Nội dung Pựt, Then vừa diễn tả những quan niệm cổ xƣa về vũ trụ, vừa
diễn tả những khía cạnh hiện thực muôn vẻ đời thƣờng trong xã hội Tày Nùng.
 nhóm những bài ca cúng bái thể tài "Loàn" đƣợc coi nhƣ một loại bài
ca cúng bái đặc biệt, thể tài này đƣợc dùng trong lễ cầu mƣa đầu năm mới mà
ngƣời dân quen gọi là "Hội Lồng Tồng". Thể tài "Loàn" dùng cúng các vị
thần linh, cầu mong sự bình an trăm họ, cầu trăm phúc đến với muôn ngƣời
cầu mƣa thuận gió hòa, cầu mùa màng phong lƣu, vạn vật sinh sôi nảy nở,
tống khứ tam tai, ôn dịch Loàn còn chứa đựng nội dung giáo huấn đạo đức
theo quan điểm dân gian.
1.1.1.2. Những bài ca tang lễ: Mại xe, văn than, văn tế
Cũng nhƣ các dân tộc khác trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam , dân
tộc Tày Nùng rất coi trọng việc tế lễ , tang ma. Đối với họ, việc lo tang ma cho
ngƣời đã khuất là một trong những lễ nghi phong tục quan trọng trong hệ
thống chu kỳ đời ngƣời.
Tang lễ của ngƣời Tày Nùng phải tuân theo những lễ nghi, phong tục
khá chặt chẽ với những trình tự nhất định nhƣng trong phạm vi luận văn nà y
là tìm hiểu và giới thiệu về các loại hình sinh hoạt ca dao - dân ca Tày Nùng

các đám cƣới.
Đây là một trong những tiểu hệ thống rấ t phong phú đã đƣợc tập hợp
thành sách với tựa đề "Dân ca đám cƣới Tày Nùng" do hai tác giả Nông Minh
Châu và Vi Quốc Bảo biên soạn, tập hợp với số lƣợ ng trên 100 bài ca và đƣợc
phân chia thành nhiều mục. Mỗi mục ứng với một hành động lễ thức trong
đám cƣới, đƣợc sắp xếp theo trình tự nhất định.
Trong đám cƣới cô dâu, chú rể là nhân vật trung tâm nhƣng không thể
không nhắc tới vai trò quan trọng không thể thiếu đó chính là "Quan làng" và
"Pả mẻ". "Quan làng" là ngƣời đại điện cao nhất trong đoàn đại biểu nhà trai
đi đón dâu. Còn "Pả mẻ" là đại diện đứng đầu bên nhà gái. Tiêu chuẩn để

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
đƣợc chọn là "Quan làng" và "Pả mẻ" phải là ngƣời có đạo đức, có uy tín, ăn
nói lịch thiệp, nhất thiết phải biết hát, hát hay có tài ứng khẩu nhanh.
Nội dung hát quan làng cũng rất nhiều vẻ, ứng với từng làn điệu nhất
định: Hát về phong tục, hát về lịch sử, hát giao duyên. Các bài hát giao duyên
thƣờng là các bài hát kết thúc một cuộc hát diễn ra giữa các phù rể và phù dâu.
Ca dao - dân ca nghi lễ và phong tục Tày Nùng đã phản ánh một cách
sắc nét xã hội và đời sống của dân tộc Tày Nùng. Qua những bài ca cúng bái,
tang lễ, đám cƣới cả một xã hội Tày Nùng cách chúng ta hàng mấy trăm
năm đã sống lại. Nhất là những phong tục, lễ nghi, tục lệ về tang ma, về cƣới
xin, về cầu cúng, chúc tụng Tất cả những tục lệ ấy đều trở thành tƣ liệu quý
báu cho những nhà văn hóa học, dân tộc học muốn nghiên cứu về văn hóa
phong tục của dân tộc Tày Nùng.
1.1.2. Ca dao - dân ca lao động và sinh hoạt
*Khái niệm:
"Dân ca sinh hoạt là các lời hát nhằm thực hiện các chức năng trong
cuộc sống hàng ngày nhƣ ru con, vui chơi hay bày tỏ tình cảm đối với quê

(Slẩy cá) là ngƣời giỏi chữ nghĩa, thơ phú, biết vẽ, biết trang trí soạn phong
slƣ gửi cho ngƣời con gái mà họ đem lòng yêu mến, khi ngƣời con gái nhận
đƣợc phong slƣ cũng lại đi nhờ thầy đọc hộ và viết thƣ trả lời.
Một bức phong slƣ có giá trị tinh thần rất đáng quý, một bức phong slƣ
hay, giàu cảm xúc không chỉ mang lại niềm vui cho ngƣời nhận nó mà còn trở
thành tài sản chung của cả bản, cả mƣờng, rất nhiều ngƣời thuộc lòng.
Những bức phong slƣ của trai, gái Tày Nùng không đơn thuần chỉ có
chữ nghĩa mà còn đƣợc trang trí công phu, cầu kỳ với nhiều hoa văn, hình hài
rất ấn tƣợng. Khung của bức phong slƣ đƣợc trang trí với nhiều họa tiết, có
lộc, có hoa, có bƣớm, có cỏ cây và các loài chim. Đặc biệt, ở bốn góc có bốn
cặp chim én mỏ ngậm những lá thƣ. Đó là hình ảnh tƣợng trƣng cho những
con én, nhạn đƣa những bức phong tình, bắc nối lƣơng duyên giữa những đôi
trai gái.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
Hình thức mở đầu những bức phong slƣ thƣờng đƣợc làm theo khuôn
mẫu đã thành mô thức câu trong dân gian.
Phần nội dung ngƣời viết thƣờng kể về hoàn cảnh, nỗi niềm, tâm trạng
cụ thể. Ngƣời ta nói rằng, chuyện trai gái yêu nhau tỏ tình bằng thƣ là chuyện
thƣờng, nhƣng tỏ tình theo lối phong slƣ của ngƣời Tày trong tập quán văn
hóa truyền thống là một nét ứng xử độc đáo, thể hiện một trình độ "đoan trang
trí tuệ".
1.1.2.2. Những bài hát vui chơi của trẻ em: Hát đồng dao và hát ru em
Những bài hát vui chơi dành cho trẻ em ở bất cứ dân tộc nào trên đất
nƣớc ta đều hay, ngộ nghĩnh, vui, khỏe nhất là những bài đồng dao.
Đồng dao là những câu hát dân gian có nội dung và hình thức phù hợp
với trẻ em, do trẻ em hát lúc vui chơi. Đồng dao có thể do ngƣời lớn sáng tác
nhƣng cũng có trƣờng hợp do chính trẻ em sáng tác.

về tình yêu thƣơng giữa con ngƣời với con ngƣời, với tự nhiên, với lao động,
với ƣớc mơ khát vọng về hạnh phúc.
Những loại hình sinh hoạt ca dao - dân ca chúng tôi vừa giới thiệu trên
đây có những thể tài riêng có của dân tộc Tày hoặc dân tộc Nùng. Nhƣng dựa
trên sự tƣơng đồng về điều kiện sống, trình độ kinh tế cũng nhƣ phong tục tập
quán không cách xa nhau là mấy nên chúng tôi tiến hành giới thiệu một cách
khái quát nhất về các loại hình sinh hoạt ca dao - dân ca cơ bản của hai dân
tộc Tày Nùng.
Bƣớc đầu tìm hiểu về các loại hình sinh hoạt ca dao - dân ca của ngƣời
Tày Nùng đã cho chúng ta thấy sức sống lâu bền và sự lan tỏa mạnh mẽ của
thể loại này trong đời sống sinh hoạt tinh thần của ngƣời Tày Nùng. Ca dao -
dân ca của các dân tộc thiểu số nói chung và của dân tộc Tày Nùng nói riêng
thƣờng xuất hiện trong môi trƣờng diễn xƣớng cụ thể gắn liền với đời sống,
phong tục, tín ngƣỡng và văn hóa tộc ngƣời. Chính vì thế ca dao - dân ca là
nơi thể hiện một cách sinh động nhất những nét đặc trƣng riêng biệt của văn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
hóa tộc ngƣời Tày Nùng, đó là một mảng màu riêng biệt trong bức tranh đa
sắc màu của nền văn hóa Việt Nam.
1.2. Hiện tƣợng những hình ảnh tiêu biểu truyền thống xuất hiện trong ca
dao - dân ca Tày Nùng
Khi tìm hiểu về những hình ảnh trong văn học dân gian nói chung và
hình ảnh trong ca dao - dân ca nói riêng nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định.
 chiều sâu của các hình ảnh đều không chỉ chứa đựng một tầng ý nghĩa.
Việc tìm hiểu cặn kẽ nguồn gốc phát sinh của các hình ảnh không phải là
công việc đơn giản, dễ dàng. Hệ thống hình ảnh trong ca dao - dân ca Tày
Nùng đƣợc sinh ra, nuôi dƣỡng, lớn lên không chỉ trên mảnh đất của văn học
dân gian mà còn của các loại hình văn hóa, văn nghệ. Bên cạnh đó, trong mỗi

nhân tạo trong ca dao cổ truyền Việt Nam" tác giả Trƣơng Thị Nhàn đã tiến
hành khảo sát 1.350 câu ca dao trong cuốn "Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam"
do Vũ Ngọc Phan sƣu tầm và biên soạn, in lần thứ 8, H, 1978. Tác giả Trƣơng
Thị Nhàn đã xác định đƣợc 210 vật thể nhân tạo, xuất hiện 790 lần, chiếm tỷ
lệ 60% số lần xuất hiện/ câu. Có thể thấy, đó là một thế giới vật thể nhân tạo
vô cùng phong phú và đa dạng trong ca dao ngƣời Việt. Dựa trên sự thống kê
trên Trƣơng Thị Nhàn đã phân loại các hình ảnh vật thể nhân tạo thành bốn
nhóm cụ thể:
Nhóm 1: Các đồ dùng cá nhân: áo, quần, khăn, mũ, nón, gƣơng, lƣợc, giày
Nhóm 2: Các dụng cụ sinh hoạt gia đình: Chăn, chiếu, giƣờng, màn,
mâm, chén, bát, đĩa
Nhóm 3: Các dụng cụ sản xuất: Lƣới, đó, lờ, gàu, con thuyề n
Nhóm 4: Các công trình kiến thiết: Nhà, đình, cầu
 bài viết này tác giả Trƣơng Thị Nhàn đã đƣa ra một số phân tích cụ
thể đối với những vật thể tiêu biểu, cả về tần số xuất hiện và khả năng biểu
trƣng hóa nghệ thuật. Trong mỗi nhóm tác giả lại đi sâu phân tích kỹ sự xuất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18
hiện của một hoặc hai hình ảnh tiêu biểu cũng nhƣ lý giải vì sao nó xuất hiện
với tần số cao cũng nhƣ giá trị thẩm mỹ và khả năng biểu đạt.
Nhóm 1: tác giả đã chỉ ra 36 loại đồ vật với tổng s ố lần xuất hiện của
toàn nhóm là 182 lầ n. Nổ i bậ t nhấ t trong nhó m nà y là sƣ̣ xuấ t hiệ n củ a chiế c
áo với 77 lầ n xuấ t hiệ n vớ i nhƣ̃ ng hì nh thƣ́ c nhƣ : áo gấm, áo xông hƣơng, áo
lành, áo rách…và các bộ phận của áo nhƣ : nút á o , tà áo , vạt áo…Tác giả
Trƣơng Thị Nhà n đã đi sâu và o phân tí ch giá trị biể u trƣng củ a hì nh ả nh chiế c
áo, đó là giá trị thẩ m mỹ và khả năng biể u hiệ n. Chiêc á o không chỉ đơn thuầ n là
vậ t che thân mà trong ca dao - dân ca nó cò n chƣ́ a đƣ̣ ng nhƣ̃ ng ý nghĩ a khác.
Trong miêu tả tì nh yêu , chiế c á o mang ý nghĩ a là cá i gắ n bó ,là sự giao

giƣờ ng cho đến đôi đũa , mâm, bát…có thể giải thích lí do chính là sự gầ n
gũi, đắ c dụ ng và thiế t thân củ a nhƣ̃ ng vậ t dụ ng đó trong cuộ c số ng gia đì nh ,
cuộ c số ng vợ chồ ng.
Trong 57 vậ t thể dụ ng cụ sinh hoạ t gia đình tá c giả đã chú ý phân tích
hình ảnh đôi đũa với ý nghĩa rất đặc biệt . Hơn bất cứ vật dụng nào khác , đôi
đũa có khả năng biểu hiện các kiểu quan hệ của đôi lứa . Đôi đũ a gắ n liề n vớ i
tậ p quá n sinh hoạ t củ a ngƣờ i Vệ t Nam bở i trong bƣ̃ a ăn củ a ngƣờ i Việ t thì đôi
đũ a là vậ t dụ ng không thể thiế u nhƣng cá i chí nh là ở đặ c điể m cấ u trú c của nó:
đũ a bao giờ cũ ng phả i có đôi. Trong ca dao, đôi đũ a xuấ t hiệ n thà nh ba biế n thể
chính:
Đôi đũ a lệ ch chỉ quan hệ khậ p khiễ ng, không xƣ́ ng đôi vƣ̀ a lƣ́ a:
Chồ ng thấ p mà lấ y vợ cao
Nhƣ đôi đũ a lệ ch so sao cho bằ ng
Đôi đũ a bằ ng chỉ quan hệ tƣơng xƣ́ ng:
Đôi ta nhƣ đũ a trong kho
Không tề không tiệ n cũ ng so cho bằ ng
Đôi đũ a ngọ c chỉ quan hệ tƣơng xƣ́ ng đế n tuyệ t mỹ :
Đôi ta là bạ n thong dong

Trích đoạn Hình ảnh đồ dùng cá nhân Khảo sát những hình ảnh liên quan đến con ngƣời trong ca dao dân ca Hình ảnh mặt trăng, mặt trời Hình ảnh trầu cau Hình ảnh hoa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status