ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN JOU YOUN HEE
KHẢO SÁT TỪ MƯỢN TIẾNG ANH
TRONG TIẾNG HÀN
(CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT) CHUYÊN NGÀNH : NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ : 60.22.01 LUẬN ÁN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học :
GS.TS. NGUYỄN VĂN KHANG
1.2.2.
Từ tiếng Anh tràn lan trên phương tiện phát sóng và sách báo
Hàn Quốc
14
1.2.3.
Từ ngữ tiếng Anh trong công nghệ thông tin Hàn Quốc
21
1.2.4.
Từ ngữ tiếng Anh trong đời sống giao tiếp bằng tiếng Hàn…
22
1.3
Đối chiếu với tiếng Việt
23
1.3.1.
Nhận định chung
23
1.3.2.
Sự vay mượn từ ngữ tiếng Anh có nguyên nhân từ việc học
tiếng Anh với tư cách là ngoại ngữ
24
1.3.3.
Từ tiếng Anh được sử dụng khi giao tiếp bằng tiếng Việt …
27
1.4.
Những nhận xét rút ra
34
52 4
Chƣơng 3. Khảo sát sự đồng hoá từ tiếng Anh trong tiếng
Hàn (có đối chiếu với tiếng Việt) ……………………………
54
3.1.
Đôi nét về tiếng Hàn
54
3.1.1.
Giới thiệu chung
54
3.1.2.
Nhận xét
55
3.2.
Khảo sát hiện tượng đồng hoá ngữ âm đối với từ mượn tiếng
Anh
57
3.3.
Khảo sát hiện tượng đồng hoá về hình thái học đối với từ mượn
tiếng Anh
59
3.4.
Khảo sát hiện tượng rút gọn các từ mượn Anh trong tiếng
Hàn
60
5
MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
Thế giới mà chúng ta đang sống luôn có sự vận động và biến đổi qua
từng ngày, và có một thực tế là sự giao lưu tương hỗ giữa các quốc gia trên
thế giới đang dần được thúc đẩy tăng cường, đồng thời ngôn ngữ của chính
các quốc gia đó cũng đang trực tiếp ảnh hưởng lẫn nhau. Với tư cách là
công cụ giao tiếp, trong quá trình du nhập, các yếu tố của ngôn ngữ cho vay
sẽ bị biến đổi về mặt hình thái và nội dung. Theo đó, những yếu tố mang
tính văn hóa, kinh tế, chính trị của khu vực sử dụng ngôn ngữ này cũng ảnh
hưởng tới khu vực sử dụng ngôn ngữ đi vay.
Mỗi quốc gia đều sở hữu một ngôn ngữ có tính chất kế thừa. Nói như
vậy tức là ngôn ngữ của mỗi một quốc gia chính là gốc rễ cơ bản nhất của
quốc gia đó. Vì vậy thật chẳng quá lời khi ta nói rằng, mỗi lời văn viết ra đã
làm nên và thể hiện dòng chảy văn hóa.
Hướng tới sự phát triển của quốc gia mình, ngày nay các nước trên
thế giới đang sống trong môi trường học tập song ngữ do nhận thức được
yêu cầu cần phải làm quen với một thứ ngôn ngữ được gọi là ngôn ngữ
quốc tế. Thứ ngôn ngữ quốc tế tiêu biểu cho thời đại này đã đi vào nhận
thức chúng ta một cách vô ý thức chính là tiếng Anh. Chúng ta đang không
chỉ coi nỗ lực tiếp nhận cũng như chấp nhận thực tế này trong phạm vi một
nước như là một mắt xích cần thiết cho sự phát triển đất nước mà giờ đây,
khi tiếng Anh đã tạo lập được cho mình vị trí thống trị trong hàng ngũ các
ngôn ngữ khiến cho cả những quốc gia không sử dụng Anh ngữ là ngôn ngữ
mẹ đẻ hay ngôn ngữ quốc gia cũng bị cuốn vào dòng chảy đó. Hàn Quốc
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội về từ vay mượn.
- Phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học đối chiếu.
- Phương pháp quy nạp diễn dịch. 7
5. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
Ý nghĩa lí luận: Khảo sát từ ngữ vay mượn tiếng Anh trong tiếng
Hàn có đối chiếu với tiếng Việt, góp phần vào việc nghiên cứu hiện tượng
vay mượn ở hai ngôn ngữ thuộc hai loại hình khác nhau: tiếng Hàn thuộc
ngôn ngữ chắp dính (agglutinative language) và tiếng Việt thuộc ngôn ngữ
đơn lập (isolating language) ngôn ngữ trong thời đại quốc tế hóa hiện nay.
Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần giúp người Việt Nam học tiếng Hàn và
người Hàn học tiếng Việt, cũng giúp cho người dân hai nước hiểu thêm về
tình hình ngôn ngữ văn hóa của nhau trong quan hệ hợp tác hữu nghị.
CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội
dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tình hình sử dụng từ tiếng Anh trong tiếng Hàn (có đối
chiếu với tiếng Việt)
Chương 2: Diễn tiến của từ tiếng Anh du nhập vào tiếng Hàn (có đối
chiếu với tiếng Việt)
Chương 3: Khảo sát sự đồng hoá từ tiếng Anh trong tiếng Hàn (có
đối chiếu với tiếng Việt)
vay mượn rồi sử dụng lâu dài, đã được phổ biến, nhưng vì vẫn chưa quen sử
dụng nên nhiều người vẫn coi đó như là một thứ tiếng nước ngoài. Ví dụ:
잉크 Ing-khư (tiếng Anh: Ink)
택시 Théc-si (tiếng Anh: Taxi)
크레용 Khư-rê-giông (tiếng Pháp: Crayon)
9
컵 Khóp (tiếng Hà Lan: kop)
Thực chất, việc phân biệt từ vay mượn và từ ngoại lai dựa theo mức
độ mà người sử dụng ngôn ngữ đang nhận thức, có đặc điểm mập mờ
nhưng có thể kiểm soát được tùy theo trình độ tri thức hoặc nghề nghiệp của
người nói.
Vay mượn (borrowing) là việc một hệ thống ngôn ngữ tiếp nhận các
yếu tố ngôn ngữ từ một hệ thống ngôn ngữ khác để sử dụng một phần có
tính hệ thống của hệ thống ngôn ngữ đó. Đặc biệt, một từ có trong một ngôn
ngữ được du nhập vào một ngôn ngữ khác và được viết y nguyên như vậy
thì từ đó gọi là “từ vay mượn” (loanword). Lúc này ngôn ngữ cho vay
mượn được gọi là ngôn ngữ gốc (source language) và ngôn ngữ tiếp nhận
được gọi là ngôn ngữ đích (target language). Ví dụ, cà-phê, gêm, gôn, sport,
sport car là những từ vay mượn từ tiếng Anh. Và tiếng Anh lúc này chính là
ngôn ngữ gốc, từ vay mượn từ tiếng Anh được viết sang tiếng Hàn Quốc và
tiếng Việt chính là ngôn ngữ đích.
Đối tượng trọng tâm của luận văn này là từ việc vay mượn giữa các
ngôn ngữ sẽ tiến hành xem xét và so sánh từ vay mượn tiếng Anh được du
nhập vào tiếng Hàn Quốc và tiếng Việt. Tuy nhiên có mấy điểm cần phải
cân nhắc đối với việc vay mượn giữa các ngôn ngữ .
Trước hết, khi tiếng Anh được du nhập vào tiếng Hàn thì phải làm rõ
tiếng tiếng Anh đó là thứ tiếng Anh nào. Trong luận văn này sẽ không chia
riêng rẽ “tiếng Anh Mỹ” và “tiếng Anh Anh” mà sẽ ghi hết tất cả từ vay
mượn tiếng Anh được phổ biến hóa tại Hàn Quốc (và Việt Nam) đang được
tiếng Nhật đã được phát âm thành [kopp‟u] giống như tiếng Bồ Đào Nha.
[kopp‟u] trong tiếng Nhật không phải là là “cup” trong tiếng Anh mà đầu
tiên được vay mượn từ từ „copo [kopp‟u] trong tiếng Bồ Đào Nha, rồi tiếp
đó lại được vay mượn lại thành từ [kopp‟u] trong tiếng Hàn. Như vậy có
11
nghĩa là từ “cup” trong tiếng Anh và từ [kopp‟u] được sử dụng trong tiếng
Hàn trước đây không có cùng gốc rễ ngôn ngữ.
Các từ sê-mên-tô (cerment), pêng-ki (pek) là những trường hợp tiếng
Hà Lan du nhập vào tiếng Nhật rồi lại tiếp tục du nhập vào tiếng Hàn.
Cũng có những trường hợp từ tiếng Anh là từ gốc thông qua tiếng
Nhật mà du nhập vào tiếng Hàn. Ví dụ, theo Seo Jae Won (1992:352), từ
“ham-pak sư-thê-i-kư” được vay mượn trong tiếng Hàn chính là từ
“hamburg steak” [hmb :rgsteik] trong tiếng Anh, nhưng khi du nhập vào
tiếng Nhật thì từ này lại được phát âm theo phong cách tiếng Nhật thành
“ham-pa-ku-sư-tê-ki” và khi được vay mượn trong tiếng Hàn thì cách phát
âm đó vẫn được giữ nguyên. Những trường hợp vay mượn gián tiếp khác, ta
có thể tìm được những ví dụ là từ tiếng Hàn vay mượn thông qua tiếng Nhật
như “ma-hu-ra” (muffler), “a-pa-tô” (apartment), “ếch-ki-sư” (extract).
Luận văn này chú trọng tới các từ vay mượn tiếng Anh được chính tả
hóa bằng tiếng Hàn. Ví dụ , “gas” [gæs ] và “bus” [bs ] khi sang tiếng Hàn
sẽ được chính tả hóa thành “ga-sư” và “ bo-sư”. Thực tế những từ này có
thể phát âm là “po-sư” và “ka-sư” nhưng người ta vẫn chọn hình thức vay
mượn thành “ga-sư” và “bo-sư”. Những ví dụ về từ vay mượn trong luận
văn này được tập hợp từ các ví dụ trong báo viết, tạp chí, biển hiệu, theo
tuyển tập các ví dụ về từ ngoại lai của Viện nghiên cứu chữ quốc ngữ (xuất
bản năm 1988) và quy tắc cách biểu hiện từ ngoại lai trong Phương pháp
Hangul hóa, ngoài ra còn bao gồm cả các lời nói mang tính cố định đã trở
thành quán dụng ngữ hoặc trở nên thông dụng trong xã hội. (Tham khảo:
Trung tâm thông tin Ka Uh Ri, tìm kiếm Naver).
mượn các từ tiếng Anh trong tiếng Hàn đã liên tục xảy ra.
13
Nhiều nhà ngôn ngữ học đã bắt đầu lên tiếng rằng, việc lạm dụng từ
vay mượn tiếng Anh đã trở thành vấn đề rất nghiêm trọng, và đề nghị chấn
chỉnh.
1.2.2. Từ tiếng Anh tràn lan trên phương tiện phát sóng và sách
báo Hàn Quốc
Người hưởng ứng đầu tiên là ủy ban phát sóng. Ủy ban này đã đứng
ra yêu cầu sửa chữa các tiêu đề chương trình phát sóng bằng tiếng nước
ngoài và những từ ngữ mới chẳng rõ gốc gác từ bất kỳ quốc tịch nào như
“ Star Survival Meeting”, “Cult Nara”. Thống kê cho thấy, trong bốn đài
truyền hình phổ biến nhất thì chỉ ngoại trừ đài KBS 1TV và EBS, còn hơn
1/3 số các chương trình là có sử dụng tiêu đề tiếng nước ngoài. Trước tình
hình này, Ủy ban phát sóng yêu cầu các đài truyền hình phải hạn chế sử
dụng các tiêu đề bằng tiếng nước ngoài và từ ngữ mới không rõ gốc gác
quốc tịch vào các chương trình phát sóng mùa thu.
Ủy ban phát sóng cho biết:
“Trong tổng số 69 chương trình của đài KBS 2TV, 28 chương trình
(chiếm 40,6%) là có sử dụng tiêu đề và phụ đề tiếng nước ngoài, đài MBC
là 28/74 chương trình (chiếm 37,8%), và đài SBS là 22/66 chương trình
(chiếm 33,3%)” (Nhật báo Choson ngày 5 tháng 9 năm 2000).
„Tiếng nước ngoài chiếm lĩnh 60% tên chương trình phát sóng‟
Diễn đàn thảo luận của liên đoàn văn hóa Hangeul. “Cần phải kiểm
soát tình trạng lạm dụng ngay từ những người làm nghề ngôn luận”
“ɎewsȠline”," “Star Golden Jѥll”, “Rainâow Romance㰝, “ࡂravo
Well-being Lifm”, “Science Magazine N”, “Hello$Music Shake”ࡂ là
14
Bảng 1. Tần số thường xuyên sử dụng tiếng Anh trên các kênh của
các đài phát sóng:
Kênh phát
sóng
Thời lượng phát
sóng theo điều
tra
Số lượng từ
ngoại ngữ được
sử dụng
Tần số thường xuyên
(bao nhiêu phút/1
chương trình)
YTN
585
339
1,73
SBS
11.083
2.687
4,11
EBS
1.130
200
5,65
KBS2
8.247
1.195
6,90
MBC
“ Một bộ phận người xem cảm thấy thích thú trước cách biểu đạt
bằng tiếng Anh của những người xuất hiện trên truyền hình nên đã bắt
chước mô phỏng theo lối nói đó, bằng cách đó cuộc sống sinh hoạt ngôn
ngữ đang thực sự “lâm bệnh”, và “Chúng ta nên sửa đổi “quy định cân nhắc
khi phát sóng” mới chỉ đang dừng lại ở tiêu chuẩn quy định và khuyên bảo,
trở thành quy định buộc hạn chế có tính chất thực tế, hoặc nên xem xét về
việc lập ra một quy định liên quan mới”.
Giám đốc sản xuất đài SBS Min In Sik thì chỉ ra rằng, tiếng Hàn phải
được sử dụng nhiều hơn nữa đối với trường hợp là tin tức hoặc chương trình
thời sự so với chương trình giải trí hoặc phim truyền hình, và người xuất
hiện trên các chương trình giải trí phải nhận thức được rằng mục đích gây
cười và có vẻ đẳng cấp hơn khi sử dụng tiếng Anh, ngoài ra những lối diễn
đạt theo phong cách Anh ngữ một cách sai lệch để trông có vẻ ngờ nghệch
hơn đang trở thành trào lưu sẽ làm thoái hóa, làm hỏng phong cách ngôn
ngữ của những người trẻ tuổi ở lứa tuổi đôi mươi. Sau đó ông còn nói thêm:
“Điều quan trọng hơn cả là tôi muốn tạo một không khí cảm thấy yêu thích
tiếng Hàn và mọi nỗ lực được đặt ra là để nhằm mục đích đó”.
Tính chất nghiêm trọng của việc lạm dụng tiếng Anh trong báo chí
cũng giống như vậy. Đại diện liên đoàn văn hóa Hangeul Kim Yeong
Myeong chỉ trích rằng, báo chí đang lạm dụng từ vựng tiếng Anh một cách
không cần thiết và đang kết hợp, sử dụng lộn xộn các ký tự chữ viết Anh
ngữ một cách không cần thiết, ngoài ra còn lạm dụng quá mức ngôn từ
17
Konglish ( là loại từ ngoại lai và từ phức hợp không rõ quốc tịch xuất xứ
được kết hợp với tiếng Hàn), các từ viết tắt của tiếng Anh, có khi người ta
còn không thèm kết hợp Hangeul với tiếng Anh mà chỉ sử dụng mỗi tiếng
Anh mà thôi. Nói về lý do tại sao ngôn luận lại lạm dụng tiếng Anh, đại
diện Kim cho rằng, đó là vì các nhà báo và những người trong ngành đã bị
thấm nhuần ý thức Elite. Đại diện Kim nhận xét:
Quốc; và năm ngoái số người Hàn Quốc tham gia ứng thi chứng chỉ Toefl là
130.000 người với tổng kinh phí là 23 triệu đôla Mỹ (tương đương 21 tỷ
Won) Theo khảo sát điều tra của Viện nghiên cứu SamSung, năm ngoái
người Hàn Quốc đã dành khoảng 15.000 tỷ Won để đi học thêm tiếng Anh.
Thậm chí gần đây còn xuất hiện tổ chức chuyên môn giáo dục tiếng Anh
tiền sinh cho các bà mẹ để tạo sự thích thú học tiếng Anh cho các em bé
ngay từ trong bụng mẹ qua những bài hát đồng dao và câu chuyện thần tiên
bằng tiếng Anh. Không chỉ có vậy, thành phố Pusan đang xúc tiến dự án
đến năm 2020 sẽ “xây dựng cơ sở hạ tầng tiếng Anh”, nhằm “làng hóa Anh
ngữ” toàn vùng.
Dự đính sẽ đầu tư với chi phí dự án là 2.775 tỷ Won vào 100 dự án
nhỏ lẻ được chia ra làm 4 lĩnh vực như dẫn đầu lĩnh vực công cộng và xây
dựng môi trường sử dụng Anh ngữ có liên quan tới dự án giáo dục như cải
thiện công tác giáo dục tại các trường tiểu học và trung học cơ sở. Đến năm
2009 sẽ xây dựng xong làng Anh ngữ tại khu Pu Jeon Dong cùng với các
ngân hàng, bệnh viện chuyên dùng tiếng Anh và cả khu mua sắm chuyên
dùng tiếng Anh như hiệu sách tại khu vực lân cận, ngoài ra còn có kế hoạch
chỉ định chọn “Ngày cả nước sử dụng Anh ngữ”. Anh ngữ vẫn chưa được
chỉ định là ngôn ngữ phổ biến như một thứ quốc ngữ để cùng đồng hành với
tiếng Hàn trên toàn quốc nhưng những “làng Anh ngữ” cũng đang ngày
càng mọc lên như nấm tại nhiều vùng trong cả nước.
Tại “Làng Anh ngữ”, người ta phải sử dụng duy nhất tiếng Anh trong
cuộc sống thường nhật; kiểu làng này đã bắt đầu xuất hiện lần đầu tiên vào
19
mùa hè năm 2004 tại vùng ven biển khu Dae Bu Do - thành phố An San –
tỉnh Kyeong Ki Do rồi sau đó đã kéo theo một loạt các địa phương khác
như Pa Ju, Seoul, Kang Bok, Song Pa, Jeon Ju, Kyeong Ju, Dae Gu, Su
Won, Cheju, Jang Hueng, Yeong Gwang, và tính ra đã có đến hơn 40 nơi
khác đang có dự định sẽ thành lập.
(Bao gồm cả
Hán tự)
Từ ngoại lai
(tiếng nước ngoài)
Tổng cộng
Phiên âm
tiếng Hàn
Phiên âm tiếng Anh
Số ngữ tiết
1,371
237
179
1,787
Tỷ lệ
767
133
100
100%
(Nguồn: Lee Jung Boc 1998)
Nếu quan sát bảng 2 ở trên có thể thấy được trong số toàn bộ 1.787
ngữ tiết thì từ ngoại lai (tiếng nước ngoài) được phiên âm bằng Hangul có
237 từ, chiếm 13.3% và từ được phiên âm bằng tiếng Anh gồm 179 từ,
chiếm 10.0%. Hơn nữa, toàn bộ các từ sử dụng được sử dụng trong tài liệu
lên tới 416 từ, chiếm 23.3%.
Sự thật là cứ 100 ngữ tiết thì có khoảng 23 từ là từ ngoại lai, riêng
điều này cũng đã chỉ ra tính nghiêm trọng của việc lạm dụng từ tiếng Anh
vay mượn trong ngành công nghệ thông tin. Tuy nhiên, ngoại trừ các tiểu từ
thì đa số các cuộc hội thoại trong cuộc sống hàng ngày cũng đã chỉ ra một
팀장님
책상에
올려
놨습니다
.”
“
아
~
그래
?
땡큐
~,
미스김
오늘
스타일
죽이는데
…
오늘
데이트
있나봐
?”
오늘
노
,
노
~
아주
굳이야
굳
~
베리
나이스
!”
“Ms Kim! Chiều hôm qua cô đã nộp mấy tài liệu briefing cho trưởng
team chưa?”
“Vâng, sáng nay tôi đã đặt lên bàn làm việc của trưởng team rồi ạ”.
“À, thế à? Thank you, Ms Kim! Hôm nay trông style của cô được
lắm… Chắc hôm nay cô có buổi date à?”
“Hôm nay bạn tôi có tổ chức buổi meeting (làm quen) cho tôi nên tôi
cũng để ý đến áo xống một chút. Nhưng color trông có vẻ hơi quê…”
“No, no, no, no… Rất good đấy chứ! Good~ Very nice!”.
Chúng ta hãy cùng quan sát các từ vay mượn trong từng câu ở đoạn
hội thoại trên.
Ms + Kim, Briefing, Trưởng + team
Thank you, style, date
Meeting, color
Good
Very nice
Tiếng
Tiếng
Tiếng
Tiếng
Tiếng
23
ngữ
trả lời
Anh
Đức
Trung
Nga
Nhật
Pháp
Học 1 ngoại
ngữ
393
374
0
0
9
0
10
Học 2 ngoại
ngữ
218
217
0
57
(Nguồn: Đỗ Huy Thịnh, 1999, Chính sách giáo dục ngoại ngữ tại Việt Nam:
Sự nổi lên của tiếng Anh và ảnh hưởng của nó đối với một nền giáo dục cao
hơn)
Bảng số liệu trên dựa vào một nghiên cứu của Đỗ Huy Thịnh được
tiến hành bằng phương pháp phỏng vấn, quan sát tham gia và phát phiếu
điều tra với đối tượng là 641 sinh viên đang học tập tại các trường đại học
chuyên nghiệp ở 6 thành phố lớn của Việt Nam (Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Đà
Lạt, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ). Nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào
những sinh viên học từ 1 đến 4 ngoại ngữ và kết quả điều tra các ngoại ngữ
của những sinh viên này cho thấy, trong các thứ tiếng Anh, Đức, Trung,
Nga, Nhật, Pháp thì tiếng Anh vẫn có một sự khác biệt nổi bật so với các
ngoại ngữ khác với số sinh viên học tiếng Anh là 621 sinh viên trong tổng
số 641.
24
Như vậy, điều này cho thấy ngay cả ở Việt Nam, tiếng Anh cũng trở
thành ngôn ngữ đầu tiên mở ra một thời đại ngôn ngữ quốc tế và ngay cả
những sinh viên có ý định học tiếng Anh cũng thấy rõ được sự khác biệt nổi
bật giữa tiếng Anh với các ngoại ngữ khác.
Ngoài ra chúng ta cũng có thể hiểu thêm một điều nữa là xét ở góc độ
lịch sử, tuỳ từng hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam mà số lượng học sinh lựa
chọn học một ngoại ngữ nào đó là do chịu ảnh hưởng nền văn hoá của đất
nước đó vào thời điểm bấy giờ.
Dựa vào bảng trên có thể thấy, sau tiếng Anh là lần lượt đến các thứ
tiếng Pháp, Trung, Nga, Nhật, Đức. Điều đó chỉ ra rằng việc tiến hành học
ngoại ngữ cũng rất phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam.
Quan sát bảng 4 dưới đây được trích từ nghiên cứu của Lee Jee Seon
dựa trên cơ sở nghiên cứu của Đỗ Huy Thịnh, chúng ta có thể đoán được
mục đích học tiếng Anh của các sinh viên đã điều tra ở bảng 3.
Dưới đây là bảng điều tra về lý do học tiếng Anh của các sinh viên.
25
C
Tạo sự thân
mật với
khách du
lịch
89
260
222
50
621
D
Giải trí
32
158
283
149
621
E
Du học
182
174
139
126
621
F
Giờ học vui
vẻ
44
196
Nam.
Ví dụ:
1-1) Có money không?
1-2) Phone cho em đi!
1-3) Cần tuyển nhân viên marketing.
<Nguyễn Xuân Tú,
1999:143>
1-4) Chuẩn bị tham dự festival.
<lbid, 143>
1-5) Ngày mai thầy A bận nên giờ học grammar chuyển sang
học phonetic.
<Nguyễn Văn Khang,
1999:229>
1-6) Cuốn sách này thuộc loại best-seller.
<Lee Jee Seon, 2001:109>
1-7) Thank you vina milk.
1-8) Tôi đã đi part time(job) về.
Quan sát những ví dụ trên đây, là những câu nói có chứa từ vay
mượn Anh thường xuyên được sử dụng và dễ dàng nghe thấy ở Việt Nam
thì có thể tìm ra được những điểm tương đồng với các cách biểu hiện ở Hàn
Quốc. Chỉ trong một câu nhưng cách biểu hiện trung tâm và hơn nữa là tự
bản thân từ đó cũng đã tạo cho người nghe một cảm giác cao cấp. Như ở ví
dụ 1-1), sử dụng từ “money” để nhấn mạnh thay cho từ “tiền”, ở ví dụ 1-2),
sử dụng từ “phone” để nhấn mạnh thay cho từ “gọi điện” không chỉ đóng
vai trò nâng cao tư thế của câu lên một tầng nữa mà còn đóng vai trò giúp