Đại học Quốc gia Hà Nội
Trờng Đại học Ngoại ngữ
***
***
TI NGHIấN CU KHOA HC
CP TRNG I HC NGOI NG NM 2008
Nghiên cứu kính khiêm
ngữ
trong th tín tiếng Hán1
(có đối chiếu với tiếng
Việt)
Mã số: N.08.13
CHUYấN NGNH: Lí LUN NGễN NG
CH NHIM TI :TH.S PHM THY HNG
Hà Nội - 2009
Hà Nội - 2006
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Trung Quốc là một trong những dân tộc đặc biệt coi trọng lễ nghi, coi trọng phép
lịch sự. Trong văn hoá giao tiếp, nguyên tắc lịch sự được đòi hỏi hết sức nghiêm ngặt.Tiêu
chuẩn đầu tiên của lịch sự là đề cao đối tượng giao tiếp, hạ thấp bản thân. Để thực hiện
nguyên tắc này, đối với người khác, người Trung Quốc dùng kính ngữ, với bản thân mình
dùng khiêm ngữ.
Việc sử dụng kính- khiêm ngữ một cách hợp lý, uyển chuyển còn thể hiện phẩm
chất đạo đức khiêm tốn tốt đẹp của con người. Phẩm chất đạo đức tốt đẹp này được cả xã
hội thừa nhận và phấn đấu vươn tới. Đồng thời, việc sử dụng kính- khiêm ngữ còn có tác
dụng to lớn trong việc tạo không khí hoà nhã, hữu nghị trong giao tiếp.
Kính- khiêm ngữ trong tiếng Hán vô cùng phong phú, tần suất sử dụng cao, phạm vi
ứng dụng rộng. Hệ thống từ ngữ này có liên quan mật thiết đến lịch sử văn hoá lâu đời và
- Khái quát lý luận về kính- khiêm ngữ trong thư tín tiếng Hán.
- Miêu tả kết cấu và cách dùng của kính- khiêm ngữ trong thư tín tiếng Hán, sau đó tiến
hành so sánh với tiếng Việt, tìm ra điểm giống nhau và khác nhau.
- Vận dụng kết quả nghiên cứu vào công tác dạy học tiếng Hán, đồng thời nêu các kiến
nghị có liên quan.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trước tiên đề tài áp dụng phương pháp thống kê tiến hành thống kê, khảo sát 200
bức thư tiếng Hán của người Trung Quốc và 50 bức thư tiếng Việt của người Việt Nam,
tiếp đó miêu tả đặc điểm cấu tạo của kính- khiêm ngữ. Sau đó chúng tôi dùng phương pháp
phân tích tiến hành phân tích đặc điểm ngữ dụng của kính- khiêm ngữ trong thư tín. Cuối
cùng sử dụng phương pháp quy nạp để tổng kết các đặc điểm kết cấu và ngữ dụng của
kính- khiêm ngữ thành những quy tắc cơ bản.
Để có thể ứng dụng tốt hơn kết quả nghiên cứu vào công tác dạy, học tiếng Hán,
chúng tôi đã tiến hành điều tra khảo sát tình hình sử dụng kính- khiêm ngữ tiếng Hán của
một bộ phận sinh viên Việt Nam khi viết thư. Từ đó phân tích và nêu lên các kiến nghị có
liên quan.
6. Kết cấu công trình nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, đề tài nghiên cứu bao gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về kính- khiêm ngữ tiếng Hán
Chương 2: Đặc điểm của kính- khiêm ngữ trong thư tín tiếng Hán(có đối chiếu với tiếng
Việt)
Chương 3: Ứng dụng của kết quả nghiên cứu vào dạy, học tiếng Hán cho sinh viên Việt
Nam
3
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ KÍNH-KHIÊM NGỮ TIẾNG HÁN
1.Lịch sử vấn đề
Tiếng Hán là một trong những ngôn ngữ có lịch sử lâu đời và vốn từ vựng phong
phú nhất trên thế giới. Người dân Trung Quốc trong quá trình giao tiếp đặc biệt chú trọng
sự nho nhã lịch thiệp trong ngôn ngữ và cử chỉ. Từ xưa tới nay đã tích luỹ được một hệ
thống kính- khiêm ngữ hình thành từ trong giao tiếp của quảng đại quần chúng nhân dân.
hình sử dụng kính- khiêm ngữ trong thư tín nói chung.
4
Thứ ba, mấy năm gần đây, ý thức được tầm quan trọng của kính- khiêm ngữ trong
giao tiếp, một số học giả Việt Nam bắt đầu chú ý đến kính- khiêm ngữ, nhưng những
nghiên cứu đó đều từ những góc độ khác đề cập đến một phương diện nào đó của kính
khiêm ngữ mà thôi. Ví dụ: Tác giả Phạm Ngọc Hàm có tác phẩm “Đặc điểm và cách sử
dụng của lớp từ ngữ xưng hô tiếng Hán(trong sự so sánh với tiếng Việt)” (luận án tiến sỹ
năm 2004); tác giả Phạm Thị Thành có nghiên cứu “Nghi thức lời nói tiếng Việt hiện đại
qua các phát ngôn: chào- cảm ơn-xin lỗi”(Luận án phó tiến sỹ ngữ văn năm 1995). Có thể
thấy các nghiên cứu chuyên sâu về kính- khiêm ngữ trong thư tín tiếng Hán còn hạn chế.
Mặc dù các nghiên cứu có liên quan đến kính- khiêm ngữ của các nhà ngôn ngữ tuy
chưa toàn diện, nhưng thành quả nghiên cứu của họ đã cung cấp cho chúng tôi cơ sở lý
luận và thực tiễn giúp chúng tôi có thể đi sâu nghiên cứu đặc điểm, cách dùng của kính-
khiêm ngữ tiếng Hán, so sánh với tiếng Việt để tìm ra điểm dị đồng, đồng thời chỉ ra
những lỗi sai có liên quan đến kính- khiêm ngữ mà học sinh Việt Nam thường mắc phải
khi viết thư tiếng Hán, nêu lên những kiến nghị đối với việc dạy, học viết thư tiếng Hán
nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập tiếng Hán.
2.Định nghĩa về kính- khiêm ngữ
Các nhà ngôn ngữ Trung Quốc đã đưa ra không ít các khái niệm về kính- khiêm
ngữ.
Tác giả Vương Kim Phương trong “Thử bàn về đặc điểm của kính ngữ cổ đại Trung
Quốc”( Học báo dạy học Vũ Hán năm 2000) cho rằng: “ Cái gọi là kính ngữ cổ đại chính
là các từ ngữ tương đối cố định có sắc thái khiêm kỷ kính nhân được dân tộc Hán sử dụng
trong thời gian lịch sử lâu dài từ cuộc vận động “ Ngũ Tứ” về trước.”
Vương Kim Phương trong tác phẩm “Khái quát về kính ngữ, khiêm ngữ, uyển ngữ”
năm 1998 cho rằng kính ngữ không chỉ có sắc thái “kính nhân”(kính trọng người khác) mà
còn có sắc thái “khiêm kỷ”( hạ thấp bản thân). Quan điểm này hoàn toàn chính xác. Bởi
mỗi một kính ngữ bản thân nó đã bao hàm bên trong sắc thái khiêm nhường. Chúng ta đề
cao người khác cũng có nghĩa là hạ thấp bản thân. Đáng tiếc là Vương Kim Phương chỉ
nghiên cứu về kính ngữ cổ đại, mà chưa bàn đến kính ngữ hiện đại, cũng không đề cập đến
贵国
(quý quốc)
,大作
(tác phẩm lớn)
,玉音
(giọng nói trong như ngọc)vv…
dùng để tôn xưng sự vật có liên quan đến đối tượng giao tiếp; 赐教(dành cho sự chỉ bảo,
chỉ giáo)
,拜读
(có vinh dự đọc được) …tôn xưng hành vi của đối tượng giao tiếp. Khiêm
từ là ngôn từ biểu thị sự khiêm tốn, ví dụ:
不敢当(
không dám
)
vv…
Có thể thấy, định nghĩa của các nhà ngôn ngữ đều chỉ ra bản chất nổi bật nhất của
kính- khiêm ngữ đó là hạ thấp bản thân, đề cao người khác.
Các nhà ngôn ngữ học bàn về “kính ngữ”, “kính từ”, “khiêm ngữ”, “ khiêm từ” .
Vậy các khái niệm này có quan hệ gì với nhau. Theo tác giả Hách Minh Giám, Tôn Vi
trong “ Lễ nghi ứng dụng Trung Quốc toàn tập”(năm 1994), “ kính ngữ cũng gọi là kính
từ, nó đối lập với khiêm từ, là từ ngữ biểu thị sự tôn kính lễ phép. Khiêm từ là lời nói biểu
thị sự khiêm tốn”.
Như vậy “kính từ” chính là “kính ngữ”; “khiêm từ” chính là “khiêm ngữ”, phạm vi
của “ngữ” rộng hơn so với “từ”, nói cách khác khiêm ngữ đã bao gồm khiêm từ, kính ngữ
đã bao hàm kính từ. Kính- khiêm ngữ được nghiên cứu ở đây bao gồm kính- khiêm từ và
cụm từ kính, khiêm.
Trong quá trình giao tiếp, kính ngữ và khiêm ngữ nhìn chung không sử dụng riêng
rẽ mà sử dụng đồng bộ. Bởi vì “kính” và “khiêm” là một cặp tình cảm, thái độ đối ứng với
nhau. “Kính nhân” và “ khiêm kỷ” có tính thống nhất cao độ. “Khiêm kỷ” là thông qua hạ
thấp bản thân hoặc người, sự vật có liên quan đến bản thân mình để đề cao người khác
thiệu, thư hẹn, thư thăm hỏi chúc mừng, thư mời, thư cảm ơn. Tuy nhiên chúng tôi thấy
cách phân chia này quá vụn vặt.
Tổng hợp quan điểm của các nhà ngôn ngữ, cũng để tiện cho việc phân tích cách
dùng của kính-khiêm ngữ, chúng tôi chia thư tín thành 2 loại: thư giao dịch và thư thông
thường. Thư giao dịch bao gồm: thư cảm ơn, thư giới thiệu, thư tiến cử, thư xin phép, thư
mời, thư chúc mừng. Thư thông thường là những thư dùng để giao tiếp trong cuộc sống
hàng ngày, ví dụ: thư nhà, thư hỏi thăm, thư tình… Kính- khiêm ngữ mà chúng tôi nghiên
cứu tại đây là kính- khiêm ngữ xuất hiện trong thư giao dịch và thư thông thường.
Ở những thời đại khác nhau, ngôn ngữ mà người Trung Quốc sử dụng là khác nhau,
sự vận dụng kính-khiêm ngữ cũng không ngoại lệ. Đặc biệt là sau khi Trung Quốc thực
hiện cải cách mở cửa vào năm 1978, cách nhìn nhận của mọi người đối với sự vận dụng
kính- khiêm ngữ có nhiều nét mới. Bởi vậy, lấy năm 1978 làm tiêu chí, chúng tôi chia thư
tín thành 2 loại: thư tín truyền thống(viết trước năm 1978, sử dụng một lượng lớn kính-
khiêm ngữ) và thư tín hiện đại (viết sau năm 1978).
4.Hàm ý văn hoá của kính-khiêm ngữ
Hàm ý văn hoá của ngôn ngữ chính là “yếu tố văn hoá ẩn chứa trong hệ thống ngôn
ngữ, phản ánh quan niệm giá trị của một dân tộc, là yếu tố văn hoá phi tiêu chuẩn, phản
ánh tập tục xã hội, trạng thái tâm lý và phương thức tư duy” (Dạy học và nghiên cứu ngôn
ngữ, năm 1990, kỳ 2). Do đó, chúng ta nói đến nội hàm văn hoá của kính- khiêm ngữ
chính là nói đến các yếu tố văn hoá tiểm ẩn trong kính- khiêm ngữ.
7
Văn hoá Trung Hoa nguồn gốc sâu xa, nội dung phong phú, hệ thống hoàn chỉnh.
Không ít những quan niệm văn hoá truyền thống mãi trường tồn cùng thời gian. Ví dụ như
sự hài hoà khoan dung, quan niệm cung kính khiêm nhường trong giao tiếp- những nét văn
hoá này đều được phản ánh trong ngôn ngữ Hán, sự phát triển của kính- khiêm ngữ là một
minh chứng rõ nét nhất.
Đối với người Trung Quốc, trong quá trình giao tiếp, nhường nhịn khiêm tốn là
nguyên tắc đối nhân xử thế cao nhất. Vậy tại sao họ lại coi nguyên tắc này là nét đẹp trong
giao tiếp? Điều này được quyết định bởi quan niệm đạo đức của họ.
Học giả Samovar L.A trong cuốn sách “ Truyền thống văn hoá xuyên quốc gia” đã
thành tích, danh tiếng, năng lực của bản thân mình. Ngược lại, thường xuyên đề cao danh
dự của tập thể là trên hết. Quan niệm này xuất phát từ tầng sâu ý thức, hình thành tâm lý
phản ứng ổn định. Đại đa số người Trung Quốc khi nghe được lời khen của người khác, rất
8
ít người dám chính diện thừa nhận thành tích của mình, mà thường ngay lập tức không cần
suy nghĩ đã hạ thấp bản thân, quy thành tích đó về cho tập thể, bạn bè vv… , thậm chí phản
ứng bằng cách dùng phương thức thức khiêm tốn phủ định chính bản thân mình, ra sức né
tránh lời lẽ kiêu ngạo tự mãn đề cao bản thân. Do vậy, nhìn từ động cơ hành vi của họ, họ
biểu thị sự khiêm tốn không chỉ là do coi trọng giá trị khiêm tốn, mà còn là do đánh giá
thấp về giá trị “cá nhân” trong tầng sâu ý thức của họ.
Trong bảng của Samovar L.A, người phương Tây đặt giá trị “ tranh lên trước” ở cấp
độ 1, nhưng người phương Đông coi là có thể có, có thể không. Đối với người Trung
Quốc, thực chất hai đặc tính “khiêm tốn” và “không tranh lên trước” về mặt ý nghĩa là có
điểm bao hàm lẫn nhau. “Không tranh lên trước” chính là khiêm tốn, nhường nhịn. Khiêm
nhường không tranh giành, không chỉ là nguyên tắc đối nhân xử thế được người Trung
Quốc lựa chọn, mà cũng là tâm lý xã hội phổ biến, hình thành một loạt các lời nói khuyên
răn người ta phải khiêm tốn không tranh giành, như “
和为贵
,
忍为高
”( tạm dịch là: hoà
thuận là điều đáng quý, nhẫn nhịn là điều thanh cao)
,
“
退后一步
,
行安稳处
”(tạm dịch
là: lùi một bước trời êm biển rộng); “
树大招风
thống lấy lễ đối nhân, có trật tự trên dưới, đẳng cấp phân minh, đề cao người khác hạ thấp
bản thân, kính lão tôn sư… Có thể nói chế độ đẳng cấp, chuẩn mực đạo đức, trật tự luân lý
và tông pháp lễ giáo của xã hội phong kiến đều vô hình hoặc hữu hình buộc mọi người
phải tuân thủ nguyên tắc “kính nhân khiêm kỷ”, đây cũng là hạt nhân của văn hoá lễ nghi
Việt Nam.
5. Tầm quan trọng của kính-khiêm ngữ trong giao tiếp
5.1. Kính- khiêm ngữ có tác dụng điều hoà quan hệ giao tiếp
Là bộ phận quan trọng của ngôn ngữ lịch sự, kính-khiêm ngữ trực tiếp thể hiện chức
năng điều hoà các quan hệ giao tiếp. Trong quá trình giao tiếp bằng lời nói, hai bên giao
tiếp chịu sự chi phối của nguyên tắc lịch sự. Nhà ngôn ngữ học người Anh Geoffrey Leech
căn cứ theo đặc điểm văn hoá của Anh nêu ra sáu chuẩn mực của lịch sự, trong đó có hai
điều sau: 1) Chuẩn mực biểu dương: giảm thiểu hạ thấp, tăng thêm tán dương người khác;
2)Chuẩn mực khiêm tốn: giảm thiểu tán dương và tăng thêm hạ thấp bản thân. Như vậy,
người Anh đã có hai chuẩn mực liên quan đến kính- khiêm từ. Cố Viết Quốc của Trung
Quốc đã dựa trên khung lý luận của Leech để tiến hành nghiên cứu hiện tượng lịch sự
trong tiếng Hán. Ông căn cứ đặc điểm của tiếng Hán, tổng kết ra năm chuẩn mực lịch sự,
đồng thời chỉ rõ “Nguyên tắc biếm kỷ tôn nhân”(hạ thấp bản thân đề cao người khác) là
đặc điểm lớn nhất trong phép lịch sự của người Trung Quốc. Trong quá trình giao tiếp, để
tạo không khí hữu nghị thân mật, hai bên giao tiếp buộc phải tuân thủ nguyên tắc này.
Nhìn từ góc độ tâm lý, các nhà tâm lý học xã hội đều cho rằng, con người hầu hết
đều có lòng tự trọng. Trong quá trình giao tiếp, anh muốn được người khác tôn trọng thì
trước hết phải thể hiện mình tôn trọng người khác; muốn được người khác khen ngợi thì
phải chủ động khen ngợi người khác. Người xưa thường nói “ Dụ vi tha nhân sở kính sở ái,
kỷ tỉ tiên kính nhân ái nhân” (muốn được người khác kính trọng yêu mến thì bản thân mình
trước hết phải kính trọng, yêu mến người khác).
Đảm bảo nguyên tắc lịch sự giúp chúng ta có thể dung hoà quan hệ ở mức cao nhất.
Nó duy trì sự cân bằng về địa vị và quan hệ hữu hảo giữa hai bên giao tiếp. Do vậy, hai
bên giao tiếp cần hết sức chú ý đến việc tuân thủ nguyên tắc lịch sự, và việc sử dụng kính
khiêm ngữ giúp họ dễ dàng đạt được hiệu quả giao tiếp.
10
dụng kính- khiêm ngữ, đặc biệt là khi viết thư cho các nhân sỹ ngoài Đảng, các danh nhân
trong xã hội, ông sử dụng rất nhiều kính-khiêm ngữ, tạo nên hình tượng người Đảng viên
của Đảng cộng sản trọng lễ nghĩa, kính già trọng hiền, được đông đảo mọi người tín nhiệm
và tôn trọng, nhờ đó đã tập hợp được một lượng nhân sĩ, chiến sĩ yêu nước.
VD1:
马先生
来,
获读手书
,张同志回言,又接一月三日大示,久稽
回答,
幸原谅
之。两党的事不是两党私事,而是国民公事,先生于此关心之切,
钦
11
佩不已
。远承下问,略速
鄙见
,尚希进而教之。
手此奉复
。
敬致民族解放之礼
!
(1938 年 2 月 15 日致范长江先生信)
VD2:三十年前,
拜读先生
在《晨报》及《国民公报》上的
崇论宏议
,
现闻
先生
崇论闳议
(kiến giải cao siêu),
借聆教益
(nhân cơ hội này xin ngài chỉ giáo),
迎候
(nghênh đón),
倘蒙拔冗枉驾
(nếu được ngài hạ
cố đến chơi ),
无任欢迎
(vô cùng vinh hạnh ),
敬颂大安
(kính chúc đại an) để biểu thị sự
kính trọng đối tượng giao tiếp。
Kính- khiêm ngữ của tiếng Việt cũng giống kính-khiêm ngữ tiếng Hán, có công
dụng biểu thị giọng điệu cung kính khiêm nhường, nếu sử dụng hợp lý sẽ góp phần nâng
cao hiệu quả giao tiếp. Ví dụ:
Thưa Quý Ông!
Chúng tôi xin cảm ơn Quý Ông về tài liệu nhận được qua bưu điện gửi ngày 12
tháng 12… Chúng tôi đã mạn phép chuyển tập catalo của Quý Ông cho hãng Borger Bros,
có lẽ họ sẽ quan tâm đến những đề nghị của Quý Ông…
(Đặng Thị Hằng “Thư tín thương mại” NXB Thông tin lý
luận)
Bức thư trên đã sử dụng các kính-khiêm ngữ thưa Quý Ông, xin cảm ơn, mạn phép
biểu thị sự tôn trọng đối tượng giao tiếp. Rõ ràng thưa Quý Ông tỏ rõ sự tôn trọng đối
tượng giao tiếp hơn thưa Ông; xin cảm ơn cũng lịch sự hơn cảm ơn, khiêm ngữ mạn phép
cũng thể hiện thái độ khiêm tốn và hết sức đề cao người nhận thư của người viết thư. Nếu
thay toàn bộ các kính khiêm ngữ trên bằng những từ ngữ thông thường thì bức thư sẽ mất
đi vẻ trang trọng, lịch sự của nó,ví dụ:
Ông XX!
tự nhiên tối cao.
帝
(đế) là một từ tôn xưng.
帝
(đế) trong văn giáp cốt là hình của hoa Đế,
người xưa hết sức sùng bái hoa Đế bởi sự sinh sôi nảy nở của loài hoa này.
Đến thời Tiên Tần, trong quá trình giao tiếp, mọi người đã sử dụng rộng rãi kính-
khiêm ngữ. Bắt đầu là nội bộ thống trị, các vương hầu thường dùng
孤
(cô),
寡
(quả),
榖
(cốc)để khiêm xưng mình thiếu thiện, thiếu đức. Các khiêm ngữ này xuất hiện nhiều trong
sử sách thời đó như “Tả truyện”, “Quốc ngữ”. Theo thống kê của của Hồng Thành Ngọc
trong “Từ điển kính-khiêm từ”(2002) thì “Tả truyện” dùng 90 lần từ
寡人
(quả nhân),32
lần từ
孤
( cô), 19 lần
不榖
(bất cốc) ; “Quốc ngữ” dùng 42 lần từ
寡人
(quả nhân),28
lần từ
孤
(cô),14 lần từ
不榖
(bất cốc ). Thiên tử và vua các chư hầu hồi đó khi truyện trò
người khác, lo nghĩ thay cho người khác. Tư tưởng này đã thấm nhuần vào sâu thẳm tâm
linh của người dân Trung Quốc, hình thành một quan niệm văn hoá truyền từ đời này sang
đời khác, ảnh hưởng đến hành vi, bao gồm cả hành vi ngôn ngữ của họ. Cũng có thể nói,
chỉ sự biểu đạt ngôn ngữ phù hợp với quan điểm trên thì mới được coi là hợp lý, được mọi
người chấp nhận và mới đạt được hiệu quả giao tiếp tốt. Do vậy, trong giao tiếp, bề dưới
nói với bề trên, cấp dưới nói với cấp trên phải chú ý sử dụng kính ngữ, bản thân mình biểu
thị sự khiêm tốn thì phải sử dụng khiêm ngữ. Dùng nhiều lời nói lịch sự, biểu thị sự tôn
kính người khác, nhường nhịn người khác; thường dùng kính-khiêm ngữ để tán dương
người khác, hạ thấp bản thân, hết sức khoa trương những lợi ích mà người khác đem đến
cho mình, hạn chế hết mức tổn thất của mình, làm đối tượng giao tiếp cảm thấy yên tâm và
thân thiện. Kính-khiêm ngữ đã hình thành trên cơ sở văn hoá kính-khiêm này.
Nhu cầu tâm lý cũng là một trong những nguyên nhân khiến kính-khiêm ngữ hình
hành. Mọi người đều coi trọng thể diện của mình. Errving Goffman đưa ra “Lý luận hành
vi thể diện”, và cho rằng thể diện là sự thể hiện cái tôi của mỗi người, giữ thể diện cho
mình, cũng giữ thể diện cho người khác chính là chiến lược giao tiếp, đây là tư tưởng
xuyên suốt mọi hoạt động giao tiếp. Cho nên muốn giữ thể diện cho mình, không làm mình
mất mặt trước người khác, thì cách tốt nhất là làm thoả mãn sự tự tôn của người khác,
không làm người khác bị mất thể diện. Nếu bản thân mình tự nguyện cung kính khiêm tốn,
người khác cũng sẽ có phản ứng tương tự, đây là lẽ thường tình, cũng là một trong những
chiến lược giao tiếp “thể diện”. Vì lý do đó, trong quá trình giao tiếp mọi người luôn ý
thức được rằng phải đề cao đối tượng giao tiếp, hạ thấp bản thân, nói tới người khác thì
dùng kính từ, nhắc đến bản thân thì dùng khiêm từ. Có thể nói nhu cầu giữ thể diện, giữ tự
14
trọng cho bản thân chính là nguyên nhân tâm lý quan trọng dẫn đến sự hình thành và phát
triển của kính-khiêm ngữ.
Sự ra đời của kính-khiêm ngữ đáp ứng được nhu cầu giao tiếp của xã hội văn minh.
Trong “Lễ kỷ. Khúc Lễ Thượng” có viết: “Phu lễ giả, tự ti nhi tôn nhân”. (Người hiểu lễ
nghĩa thì phải tự hạ thấp bản thân mà đề cao người khác). Trong giao tiếp, “tự ti tôn nhân”
là nguyên tắc cơ bản của lễ. Có thể nói kính-khiêm ngữ là sự thể hiện nguyên tắc của lễ
trong ngôn ngữ. Nói cách khác, nhìn từ góc độ văn hoá, kính-khiêm ngữ chính là “sản
玉音
(ngọc âm- giọng nói trong như ngọc),
谨祝
(cẩn chúc- kính cẩn chúc…)…
Tóm lại, kính-khiêm ngữ trong tiếng Hán được hình thành nhờ bối cảnh văn hoá
của xã hội nô lệ và xã hội phong kiến Trung Quốc tồn tại gần ba nghìn năm. Sự nảy sinh
loại từ ngữ này cũng gắn bó mật thiết với chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá của Trung
Quốc cổ đại. Điều này đã giúp cho kính-khiêm ngữ hiện đại của Trung Quốc vẫn giữ được
bản sắc văn hoá dân tộc.
7. Những biến đổi của kính-khiêm ngữ
Là một hiện tượng văn hoá đặc biệt, bản thân kính-khiêm ngữ có tính kế thừa. Do
vậy không ít kính-khiêm ngữ ra đời từ thời xưa vẫn còn được sử dụng ngày nay. Ví dụ:
trong thư ngoại giao người Trung Quốc vẫn tôn xưng vua của các nước là
陛下
(bệ hạ)
,
阁下
(các hạ), tôn xưng vợ của người khác là
夫人
(phu nhân), con gái của đối tượng giao
tiếp là
爱女
(ái nữ)… Tất cả các kính-khiêm ngữ này đều được truyền lại từ thời viễn cổ.
15
Tương tự như vậy ngày nay, một số lượng lớn kính-khiêm ngữ ra đời từ thời viễn cổ vẫn
được sử dụng trong thư tín tiếng Hán. Một số kính-khiêm ngữ có tần số sử dụng rất cao,
tuy nhiên cùng với sự thay đổi của thời đại, ý nghĩa và cách dùng của một số kính- khiêm
ngữ đã có sự thay đổi.
Ví dụ:
先生
钧
(quân) để xưng hô Quốc vương,
台
(đài) để xưng các bá quan văn võ. Nhưng
trong giao tiếp ngày nay, yêu cầu về địa vị xã hội của đối tượng được tôn xưng có xu
hướng giảm dần.
Xã hội biến đổi dẫn đến sự biến đổi của ngôn ngữ. Điều này có nghĩa là cùng với sự
thay đổi của thời gian, kính-khiêm ngữ mới sẽ xuất hiện, đồng thời một số kính-khiêm ngữ
ra đời từ rất sớm sẽ trở thành “dấu vết của lịch sử”, ví dụ như các khiêm ngữ
仆
(bộc)
,奴
家
(nô gia)
,贱妾
(tiện thiếp)… Ngoài ra một số kính-khiêm ngữ có thay đổi, từ nghĩa tốt
trở thành nghĩa xấu, ví dụ
千金小姐
(thiên kim tiểu thư) trước đây dùng làm kính từ tôn
xưng con gái người khác, ngày nay từ này lại được dùng để chỉ các cô gái được nuông
chiều quá mức, có ý xấu.
Kính-khiêm ngữ ra đời sau cũng có, nhưng không nhiều, phần lớn là phát triển dựa
trên nền kính-khiêm ngữ cũ. Ví dụ dùng
贵
(quý) tôn xưng các đơn vị công tác thành
贵公
司
(quý công ty)
,贵校
(quý trường)
chúc tốt đẹp. Nhưng điểm khác nhau là
敬祝
(kính chúc) có một ngữ tố
敬
(kính) biểu thị sự
kính trọng. Từ điển tiếng Hán hiện đại chú 敬祝 là kính từ, có nghĩa cầu chúc. Còn
祝愿
(chúc nguyện) chỉ là một lời chúc phúc thuộc từ ngữ lịch sự mà thôi, không được coi là
kính từ.
Quan hệ bao hàm giữa từ ngữ lịch sự và kính khiêm ngữ (quan hệ giữa chỉnh thể và
bộ phận) được Lưu Hồng Lệ miêu tả trong “Kính khiêm từ hiện đại” ( 2000) như sau:
Uyển ngữ là một bộ phận cấu thành của từ ngữ lịch sự. Vậy kính-khiêm ngữ và
uyển ngữ có quan hệ như thế nào? Uyển ngữ là những từ ngữ uyển chuyển, không trực
tiếp. Ví dụ: từ “chết” thì nói thành
去世
(khứ thế),
过世
(quá thế)… Những từ này là uyển
ngữ, không phải là kính- khiêm ngữ. Nếu uyển ngữ còn biểu đạt thái độ kính trọng, khiêm
nhường thì uyển ngữ đó chính là kính khiêm ngữ, ví dụ để biểu thị sự tiếc thương, kính
trọng người đã mất, người nói sử dụng các từ
逝世
(tạ thế),
长眠
(an giấc ngàn thu),
归天
(quy tiên). Những uyển ngữ này đều dùng cho những đối tượng mà người nói tôn trọng,
không dùng với đối tượng mà người nói coi thường hoặc ghét bỏ bởi chúng có hàm ý tôn
trọng, do đó những từ này được coi là kính từ. Có thể thấy quan hệ giữa uyển ngữ và kính
17
光临
(quang lâm),
光
顾
(quang cố),
赏光
(thưởng quang) biểu thị rất vinh dự được người khác đến thăm, thưởng
thức… Như vậy
劳驾
và
借光
đều có ý nghĩa biểu thị sự cung kính, chúng đều là kính-
khiêm từ kiêm từ khách sáo. Song
慢走
( xin hãy đi cẩn thận)chỉ là lời nói lịch sự biểu thị
sự khách khí dùng khi chủ nhân tiễn khách ra về,
留步
(xin dừng bước) là lời nói khách khí
mà khách biểu thị ý không muốn phiền chủ nhà tiễn mình, cả hai từ này không có sắc thái
kính khiêm nên không phải là kính-khiêm ngữ. Lưu Hồng Lệ đã miêu tả quan hệ giữa kính
khiêm ngữ với từ ngữ khách khí bằng mô hình sau:
Từ những so sánh trên có thể thấy giữa kính-khiêm ngữ và uyển ngữ, từ khách khí
có một ranh giới không rõ ràng, chính điểm này khiến chúng ta khó phân biệt được kính-
khiêm ngữ với từ ngữ lịch sự khác.
Tiểu kết
Xã hội có giai cấp đã hình thành nên hệ thống kính-khiêm ngữ. Lễ nghi Nho giáo và
quan niệm đẳng cấp tíếp tục tạo ra mảnh đất phì nhiêu cho kính-khiêm ngữ sinh sôi, phát
triển. Thể diện và nhu cầu tâm lý cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng hình
thành nên kính-khiêm ngữ.
18
khiêm ngữ tố là những ngữ tố có ý nghĩa hoặc sắc thái biểu thị sự cung kính, khiêm
nhường, như
贵
(quý),
贱
(tiện),
尊
(tôn),
家
(gia),
舍
(xá),
台
(đài),
令
(lệnh),
惠
(huệ),
驾
(giá),
小
(tiểu)vv…
19
Thứ hai, kính-khiêm ngữ tố có thể đơn độc tạo thành kính-khiêm ngữ, cũng có thể
kết hợp với các ngữ tố hoặc từ khác để tạo thành kính-khiêm từ hoặc cụm từ kính-khiêm.
Thứ ba, trong số kính-khiêm ngữ thống kê được, số lượng kính-khiêm ngữ đa âm
tiết là nhiều nhất( kính khiêm ngữ đơn âm tiết có 160 từ, đa âm tiết có 266 từ, và cụm từ
kính khiêm là 152). Tỷ lệ này có thể miêu tả như sau:
Biểu đồ 1: Tỷ lệ kính- khiêm ngữ trong thư tín tiếng Hán hiện đại
Chúng tôi cũng sưu tập 50 bức thư do người Việt Nam viết, bao gồm 20 thư thương
thể dùng
您
, ví dụ:
妈妈,您好!
陈先生,您好!
Từ ngài trong tiếng Việt là một kính từ. Nhưng nói chung ngài chỉ dùng trong
trường hợp xã giao chính thức, hơn nữa phải dùng cho những người đàn ông có địa vị cao
trong xã hội, không dùng cho nữ giới. Ví dụ: “ Kính gửi: Ngài đại sứ nước CHND Trung
Hoa!”.
Ông,bà cũng là những kính từ đơn âm, dùng trong các thư tín, văn bản hành chính.
Ví dụ:
Kính gửi: Ông hiệu trưởng trường ĐHNN-ĐHQG Hà Nội
Trân trọng kính mời: Bà Nguyễn Thị Phúc- giáo viên khoa Toán trường Đại
học Sư phạm Hà Nội…
Các kính-khiêm từ đơn âm thường gặp là:
兄
(huynh),
弟
(đệ),
请
(thỉnh),
蒙
(mông)…
公
(công),
子
(tử),
君
(quân):thời xưa thường dùng để xưng hô nam giới, đều có thể
kết cấu chính phụ trạng-trung. Dưới đây là những cách kết cấu của kính-khiêm từ đa âm:
21
1.2.1. Kính(khiêm) ngữ tố + phi kính khiêm ngữ tố kính-khiêm từ
Đây là phương thức chủ yếu cấu thành kính-khiêm từ đa âm. Trong mỗi một kính-
khiêm từ đều có một kính(khiêm)ngữ tố. Do vậy kính(khiêm) ngữ tố là tiêu chí nổi bật của
loại kính- khiêm từ này, giúp chúng ta xác định một từ có phải là kính-khiêm ngữ hay
không. Chúng tôi chia loại kính-khiêm từ này thành ba loại nhỏ:
a)Kính(khiêm)ngữ tố + ngữ tố xưng vị kính-khiêm từ xưng vị
Loại kính khiêm từ này chủ yếu dùng để xưng hô bản thân, người và sự vật có liên
quan đến bản thân, hoặc dùng để tôn xưng đối tượng giao tiếp, cùng người và sự vật liên
quan đến đối tượng giao tiếp.
Các khiêm ngữ tố thường dùng gồm
家
(gia),
舍
(xá),
小
(tiểu)biểu thị ý nghĩa thuộc
về gia đình, ít hiểu biết, thấp kém, có sắc thái khiêm nhường. Ví dụ:
家
(gia) có thể dùng
trước ngữ tố xưng vị, khiêm xưng thân quyến là bề trên, hoặc cùng thứ bậc của mình.
Khiêm xưng bề trên của mình như:
家祖
(gia tổ): dùng để khiêm xưng ông nội của mình
家父
(gia phụ),
家严
(gia nghiêm),
家尊
(tiểu đệ),
小妹
(tiểu muội)
:
khiêm xưng em trai, em gái mình
小儿
(tiểu nhi),
小女
(tiểu nữ)
:
khiêm xưng con trai, con gái mình
Một số kính ngữ tố như
尊
(tôn),
贤
(hiền),
令
(lệnh) biểu thị ý nghĩa tôn quý, hiền
đức, tốt đẹp, có sắc thái tôn kính, thường kết hợp với các ngữ tố xưng vị tạo thành kính từ.
Ví dụ: tôn xưng thân quyến của người khác, người Trung Quốc dùng
令
(lệnh) trước các
ngữ tố xưng vị, không phân biệt tuổi tác:
令尊
(lệnh tôn),
令严
(lệnh nghiêm): tôn xưng phụ thân của người khác
令子
(lệnh tử),
令郎
tuổi thì dùng
令
(lệnh) thay thế cho
尊
(tôn) và
贤
(hiền).
大
(đại) cũng dùng trước ngữ tố xưng vị để tôn xưng người khác, cho dù người đó
không phải là họ hàng thân thích của mình, như:
大姐
(đại tỉ),
大哥
(đại ca),
大叔
(đại
thúc),
大姑
(đại cô),
大姨
(đại di).
Khả năng tổ hợp của các kính(khiêm) ngữ tố trên có thể khái quát bằng bảng sau:
Từ loại Kính(khiêm)
từ
Hàm ý Ví dụ
Khiêm
từ
家 + ngữ tố
xưng vị
(NTXV)
(đại thúc),
大哥
(đại ca)
尊 + NTXV
Tôn xưng bề trên hoặc người
cùng thứ bậc là thân quyến của
đối tượng giao tiếp
尊 堂
(tôn đường),
尊 夫 人
(tôn
phu nhân)
23
贤 + NTXV
Tôn xưng đối tượng giao tiếp
hoặc thân thích của đối tượng
giao tiếp
贤兄
(hiền huynh),
贤弟
(hiền đệ)
Kính-khiêm từ do kính khiêm ngữ tố kết hợp với ngữ tố xưng vị tạo thành, dùng để
tôn xưng hoặc khiêm xưng, trong giao tiếp thư tín, loại kính(khiêm) từ này được sử dụng
với tần xuất rất cao.
Trong tiếng Việt, loại kính(khiêm) từ có kết cấu tương tự có: lệnh tôn, lệnh bà, lệnh
huynh, hiền đệ, tiểu muội, hiền huynh, hiền hữu, hiền muội, hiền thê, hiền mẫu. Những
kính(khiêm)từ này đều vay mượn từ tiếng Hán.
b) Kính(khiêm)ngữ tố + danh ngữ tố danh từ kính(khiêm)
Theo thống kê 200 bức thư tiếng Hán, trong số kính(khiêm) từ đa âm tiết, số lượng
kính- khiêm từ do kính(khiêm)ngữ tố kết hợp với danh ngữ tố tạo thành là nhiều nhất. Căn
(quý canh),
尊庚
(tôn canh),
尊齿
(tôn xỉ),
高寿
(cao thọ),
高龄
(cao linh),
芳龄
(phương linh)
:
dùng để hỏi một cách lịch sự tuổi của đối tượng giao tiếp
尊容
(tôn dung),
尊颜
(tôn nhan),
尊仪
(tôn nghi),
尊范
(tôn phạm),
玉容
(ngọc dung),
玉貌
(ngọc mạo)
:
tôn vinh dung mạo của đối tượng giao tiếp
贵国
(quý quốc),
贵校
不敏
(bất mẫn): dùng để khiêm xưng bản thân mình
thiếu tài thiếu đức, ngu dốt bất tài
愚见
(ngu kiến),
愚计
(ngu kế),
寓意
(ngụ ý): dùng để khiêm xưng mưu lược của
mình là thiển cận, ngu dốt
24
浅见
(thiển kiến),
浅闻
(thiển văn),
浅学
(thiển học): dùng để khiêm xưng bản thân
mình học thức nông cạn, tầm nhìn hạn hẹp
拙妻
(chuyết thê),
拙室
(chuyết thất),
拙荆
(chuyết kinh): dùng khiêm xưng vợ mình
vụng về, kém cỏi
拙笔
(chuyết bỉ),
拙著
(chuyết trước),
拙作
(tiểu nhân): nam giới sử dụng để khiêm xưng bản thân mình thô
thiển, thấp hèn
贱生
(tiện sinh),
小生
(tiểu sinh): người đọc sách dùng để khiêm xưng mình là kẻ
hèn mọn
贫舍
(bần xá),
寒舍
(hàn xá),
敝舍
(tệ xá),
小房
(tiểu phòng): dùng để khiêm xưng
nơi ở của mình nghèo nàn, chật chội…
卑意
(ti ý),
鄙见
(bỉ kiến),
鄙意
(bỉ ý): dùng để khiêm xưng ý kiến của mình…
Tiếng Việt có: hàn sĩ, bần tăng, ngu ý…
• Kính(khiêm)ngữ tố + phương vị từ danh từ kính(khiêm)
Một số ít kính(khiêm) ngữ tố kết hợp với phương vị từ để tạo thành danh từ kính-
khiêm, ví dụ như:
舍下
(xá hạ)
,舍间
(xá gian):dùng để khiêm xưng nơi ở của mình
(đạo hữu)…
Hiện nay, những kính-khiêm từ có kết cấu như trên trong tiếng Việt rất ít. Một số
kính-khiêm từ trước kia vay mượn của tiếng Hán hiện cũng không còn dùng nữa, như tại
hạ, các hạ… Do những từ xưng hô này có sắc thái của văn phong cổ, trước đây người ta
sử dụng là do chịu ảnh hưởng của tư tưởng văn hoá Nho gia. Nhưng những ảnh hưởng đó
đối với xã hội hiện đại đã giảm dần đi cùng với thời gian. Trong xã hội mới ngày nay, mọi
25