BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
CỤC ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
o0o
NHIỆM VỤ
VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THEO
NGHỊ ĐỊNH THƯ VỚI HUNGARY
NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM HUNGARY TRONG
VIỆC SỬ DỤNG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG CÔNG
NGHỆ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở
VIỆT NAM
NGHỆ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ CHO KHU
VỰC DNNVV”
Hà Nội, 2010 Phần giới thiệu
Trong thế giới phát triển và toàn cầu hoá với tốc độ nhanh hiện nay, một
quốc gia, hay một vùng lãnh thổ sẽ có thể phát triển và duy trì một nền kinh tế
mạnh, nếu quốc gia đó có những bước tiến phù hợp với sự phát triển của nền
kinh tế và công nghệ của thế giới, biết duy trì khả năng cạnh tranh trên thị
trường, hay nói một cách khác là bảo đảm được một sự
phát triển bền vững.
Bằng chứng của việc này là sự phát triển liên tục của các hoạt động đổi mới nền
kinh tế, đổi mới công nghệ. Như vậy đổi mới ở đây có nghĩa là tạo ra một loại
sản phẩm mới, một công nghệ mới, một quy trình sản xuất mới, nhưng đồng thời
cũng là phát triển bvà đưa vào ứng d
ụng những phương pháp quản lý, tổ chức
c
trong thực tế, dựa vào những kiến thức đã được chứng minh từ những kết
3
quả nghiên cứu, mà mục đích của nó là nhằm tạo ra những loại vật liệu
mới, sản phẩm mới, phương pháp mới, hệ thống mới, dịch vụ mới, hoặc là
tiếp tục phát triển những vật chất, dịch vụ đã được hình thành , có được
trước đây. (sau đây gọi là thí nghiệm);
d) Nghiên cứu-phát triển: Bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứ
u ứng
dụng và thí nghiệm;
e) Nghiên cứu-phát triển và ứng dụng những kết quả của việc đổi mới công
nghệ: Bao gồm các hoạt động có mục đích thương mại, kinh tế, là những
ứng dụng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, là việc sử dụng những năng lực
của cộng đồng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và chất lượng các
dịch vụ cho cộng đồng, nhằm bảo vệ thiên nhiên và các công trình nhân
tạo, sự phát triển bền vững của đất nước, và cuối cùng là cải thiện tình
hình an toàn và an ninh xã hội (sau đây gọi là ứng dụng);
f) Đổi mới công nghệ: là tổng hợp của những hoạt động khoa học, kỹ thuật,
tổ chức, kinh tế mà kết quả của nó là tạo ra những sản phẩm, phương
pháp, dị
ch vụ có những đặc tính thay đổi cơ bản, việc ứng dụng các công
nghệ, quy trình hoàn toàn mới hoặc được nâng cấp về cơ bản, đưa chúng
vào thị trường tiêu thụ nhằm nâng cao hiện hiệu quả các hoạt động kinh
tế, thu nhập cho xã hội;
g) Hệ thống đổi mới quốc gia: là tập hợp của tất cả những cơ quan, doanh
nghiệp và các loại tổ chứ
c khác của một quốc gia, và các nguồn lực, quy
Ban đầu có ngh
ĩa là việc bán các công nghệ trên cơ sở thị trường.
Sau đó công nghệ đã trở thành một khu vực có tính độc lập của thị trường.
Ngày nay, người ta ngày càng nhấn mạnh hơn vai trò quan trọng của
nghiên cứu cơ bản.
Thị trường công nghệ mở rộng: mở rộng thành thị trường nghiên cứu –
phát triển và đổi mới.
Trước đây công nghệ - kỹ
thuật là một ngành kinh tế, sau mang tính xã
hội , và cuối cùng đã trở thành một thị trường tri thức tổng hợp.
Một bộ phận của thị trường công nghệ có xu hướng trở thành một phần
của thị trường.
Từ những đăc trưng này thi ta thấy thị trường công nghệ là một bộ phận đặc
biệt của thị trường tri thức. Hiện nay, th
ị trường công nghệ đã vận hành trong
hoàn cảnh toàn cầu hoá cũng như trong một quốc gia, tuy nhiên chúng ta cũng
còn chưa hiểu một cách rõ ràng về chúng.
5
1. Thị trường công nghệ của Hungary
1.1. Lịch sử của thị trường công nghệ Hungary
Trong sự phát triển kinh tế và công nghiệp mỗi vùng, mỗi quốc gia, hoạt
động nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới có vai trò then chốt đối với
từng quốc gia trên toàn thế giới. Một thước đo tốt nhất cho hoạt động nghiên
cứu, phát triển và đổi mới công nghệ của một quốc gia là sự tăng về số lượ
ng
của những người lao động trong khu vực công nghiệp mang tính tri thức và tỷ lệ
nước đối với Viện và vai trò của tuyển chọn đăng ký thực hiện đề tài ngày một
mạnh lên. Các nguồn kinh phí hỗ trợ, thông thường là từ tuyển ch
ọn đề tài chỉ có
tổng kinh phí thấp, hỗ trợ từ ngân sách lại dành phần ưu tiên lớn hơn cho những
nghiên cứu phục vụ cho phát triển công nghiệp.
Các trường đại học có truyền thống nghiên cứu thì coi việc giáo dục đạt
trình độ cao, đào tạo hướng về nghiên cứu lại coi đó là nhiệm vụ chính của họ,
và chương trình giảng dạy của trường chủ yếu sử d
ụng những công cụ lý thuyết
6
để tiệm cận với những nọi dung chuyên môn. Ngược lại, những trường đại học
có truyền thống đào tạo kỹ thuật (kỹ sư) thì cố gắng tạo sự cân bằng giữa giảng
dạy lý thuyết với những kỹ năng thực hành. Như vậy họ đã cố gắng áp dụng lý
thuyết vào những ứng dụng trong thực hành. Như vậy là những tr
ường đại học
hàng đầu có xu hướng đào tạo kỹ sư kỹ thuật, luôn luôn coi trọng mối quan hệ
hợp tác với công nghiệp, và xây dựng một giáo trình năng động theo nhu cầu
của các ngành công nghiệp. Các trường đại học hàng đầu này luôn đặt trọng
tâm trong cả các chỉ số về nghiên cứu khoa học cũng như đào tạo một đội ngũ
chuyên gia hàng đầu, tức là hiệu quả được
đánh giá bằng các kết quả nghiên
cứu, các ấn phẩm, bài báo khoa học, đào tạo Tiến sỹ, hiệu quả hoạt động của các
phòng thí nghiêm và mối quan hệ đổi mới với công nghiệp. Tất cả những chỉ số
này là thước đo cho các cán bộ giảng dạy, nghiên cứu viên trong việc thăng tiến
về nghề nghiệp và danh tiếng của họ trên trường quốc tế.
Về mặt lý thuy
ết, các nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng ở trình độ
Các quá trình thay đổi trong chính sách đổi mới tại Hungary
Cộng đồng Châu ÂU- EU Hungary
Tăng chi phí cho hoạt động R&D Giảm mạnh các chi phí cho hoạt động
R&D. Tổng chi không ổn định.
Hệ thống quản lý các hoạt động R&D ổn
định, xây dựng được các điều kiện rõ
ràng.
Đã làm suy yếu hệ thống các hoạt động
R&D, không ổn định trong công tác tổi
chức.
Tạo ra thị trường cho các hoạt động R&D. Chưa có thị trường cho các hoạt động
R&D.
Đã xây dựng hệ thống, mạng lưới Coi các hoạt động R&D là trường hợp
đơn lẻ, theo từng ngành nghề.
Đã xây dựng được kế hoạch phát triển
kinh tế, xã hội, chính sách phát triển
mang tính dài hạn với những điều kiện rõ
ràng.
Không có kế hoạch, các điều kiện hoạt
động của các doanh nghiệp thường xuyên
thay đổi, dự báo phát triển trong giai đoạn
ngăn cũng không chắc chắn.
Hệ thống thu thuế rất ưu tiên cho sự phát
triển và minh bạch.
Các doanh nghiệp phải đóng thuế quá cao,
các biện pháp hỗ trợ đổi mới không mạnh.
Hoạt động đổi mới được chỉ đạo rõ ràng
trong hoạt động của chính phủ.
Đổi mới đã thực hiện được 15 năm, nhưng
cho đến năm 2008 vẫn chưa có cơ quan
trường.
8
Hệ thống ưu tiên tuyển chọn mới được áp dụng tại Hungary –với sự giúp
đỡ của EU- dựa vào đổi mới và bộ luật liên quan đến khuyến khích đổi mới đã
tạo ra sự hỗ trợ của nhà nước cho các hoạt động đổi mới và phát triển thị trường
công nghệ. Phần lớn các đề tài xin tuyển chọn nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh là hỗ trợ trự
c tiếp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi thực hiện hợp tác
phục vụ đổi mới với các tổ chức R&D, như vậy đó là một bước tiến hoạt động
đổi mới có định hướng, xây dựng thị trường công nghệ phục vụ nhu cầu cụ thể.
Sau khi phân tích, so sánh các quá trình đổi mới giữa một khối Châu Âu đã
phát triển với tình hình hoạt động R&D của Hungary, có thể tổng kế
t một cách
ngắn gọn, dự báo tương lai về tình hình phát triển của sự đổi mới.
• Sự phát triển cua công nghệ, cũng giống như trong sự phát triển kinh tế
trước đây, ngày nay cũng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của
nền kinh tế. Trong những năm của thập kỷ 1990, do hoạt động của các
doanh nghiệp đa quốc gia và sự toàn cầu hoá, các kết qu
ả nghiên cứu mới
đã được đưa vào áp dụng trong sản xuất và dịch vụ với tốc độ và độ lớn
chưa từng có trước đó. Như vậy, bản thân công nghệ, tiếp thu công nghệ,
sở hữu tri thức, so với những thời kỳ trước đây, đã trở thành những yếu tố
có vai trò quyết định nhất cho sự phát triển.
• Sự phát triển và ứ
ng dựng của công nghệ có một mối quan hệ với mức độ
phát triển của nền kinh tế thể hiện cụ thể như tỷ trọng của các sản phẩm
công nghệ cao đóng góp vào cho tổng GDP của một quốc gia thường thể
phát triển ngày nay đã xuất hiện tại tất cả các quốc gia, bởi vì, trong thực
tế, đời sống kinh tế đã có tác động tới tất cả các khu vực, ngành nghề
công nghiệp. Quá trình này đã dẫn đến việc là tất cả các lĩnh vực nghiên
cứu khoa học đã hoà nhập, liên quan với nhau, cùng có thể áp dụng những
phương pháp nghiên cứu đa ngành, tươ
ng thích với nhau, và có thể đem
lại những sáng chế, phát minh mà nó có thể hỗ trợ cho việc hình thành ra
những lĩnh vực chuyên môn mới.
• Những công nghệ có thể chuyển đổi được tạo ra một hệ thống, mà trong
hệ thống đó các khu vực công nghệ khác nhau sẽ có tác động qua lại lẫn
nhau thông quan một hệ thống tri thức nào đó, và qua đó, từ những đặc
tính của mỗi lĩnh vực, có kh
ả năng tích hợp những ứng dụng của nó vào
những lĩnh vực chuyên môn khác.
• Trên cơ sở sự sắp xếp lại của các hoạt động của doanh nghiêp, của các
hoạt động R&D, sẽ có 03 loại chuyên ngành có vai trò quyết định trong
việc hình thành hệ thống nêu trên này, đó là công nghệ tin học, viễn thông
(ITC), công nghệ sinh học (BT) và công nghệ na nô (NT).
1.2. Tình hình đổi mới công nghệ của Hungary trong sự so sánh với quốc
tế.
Nước Hungary, tương tự như các nước phát triển khác trên thế giới, đang
sống trong giai đoạn quá độ tiến lên một xã hội tri thức. So sánh với mức độ
phát triển trung bình của các nước phát triển, những kết quả của nước Hungary
đã đạt được trong việc xây dựng một xã hội tri thức là rất đánh kể. Như vậy là so
sánh với tình hình của thế giới, nước Hungary có mộ
t vị trí tốt trong lĩnh vực
này. Tuy nhiên, vì những đặc điểm riêng, hoạt động nghiên cứu-phát triển-đổi
mới của nước Hungary còn trong tình trạng yếu kém so với các nước phát triển,
vì những lối suy nghĩ, quản lý cũ của thời kỳ trước thay đổi thể chế trước năm
1990 (quản lý xã hội chủ nghĩa) đã không xây dựng nền văn hoá đổi mới, cũng 12
Hình 2: Chỉ số sở hữu trí tuệ của một số quốc gia trên thế giới.
Từ sơ đồ trên có thể nhận thấy là chỉ số về đổi mới của nước Hungary thuộc
nhóm quốc gia đang trỗi dậy. Những nước có màu xanh lá cây là những quốc
gia hàng đầu trong lĩnh vực đổi mới, ví dụ như Thuỵ điển, sau đó là đến những
quốc gia mầu vàng, những quốc gai màu da cam là những quốc gia còn khiên
tốn trong đổi mới, còn màu xanh là của những nước yếu kém. Màu tr
ắng là giá
trị trung bình của cả Châu Âu.
Trong bảng phân loại năm 2007 của EU, các chỉ số đổi mới được phân
thành 02 nhóm, và gồm có 05 phân nhóm nhỏ, đó là:
1. Các điều kiện cơ bản:
a) Yếu tố động lực cho đổi mới: (Innovation drivers): nó xác định sự
hiện diện của hạ tầng cơ sở cần thiết cho việc xây dựng tiềm năng
của đổi mới,
b) Tạo ra tri thức (Knowledge creation): thước đo cho sự đầu tư vào
các hoạt động R&D – chỉ số này được coi là chìa khoá cho sự thành
công của việc xây dựng một nền kinh tế tri thức,
c) Quan hệ đổi mới và doanh nghiệp (Innovation &
Entrepreneurship): Là chỉ số đổi mới công nghệ trong các doanh
nghiệp.
2. Các kết quả:
a) Các ứng dụng (Applications): là thước đo cho hoạt động đổi mới tại
các doanh nghiệp và các ho
trường hợp các công trình nghiên cứu là của cá nhân thì việc hỗ trợ kinh phí cho
đăng ký bản quyền và duy trì bản quyền sẽ góp phần làm tăng số lượng các sáng
chế được bảo hộ.
Theo một nghiên cứu của Brüsszel thì đối với các hoạt động đổi m
ới không
thể bỏ qua vai trò của nhà nước, phân quyền quá cao, mà phải có hành lang pháp
lý tôt, giảm thiểu các thủ tục quan liêu để động viên và bảo vệ các doanh nghiệp
có tinh thần đổi mới.
Trong tháng 12 năm 2008, đã tổ chức một hội nghị thượng đỉnh Châu Âu
lần thứ 3 về các vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tại Hội nghị này, Hiệp hội vì
sự phát triển công nghệ c
ạnh tranh (Association for Competitive Technology,
ACT) đã trình bày một nghiên cứu mà trong đó Hiệp hội giưói thiệu một mô
hình có môi trường lý tưởng cho các hoạt động đổi mới.
Hiệp hội vì sự phát triển công nghệ cạnh tranh (Association for
Competitive Technology, ACT) được thành lập năm 1998, thành viên của Hiệp
hội chủ yếu là những doanh nghiệp vừa và nhỏ từ nước Mỹ và các nước thành
viên của Cộng đồng Châu Âu. Hoạt động chủ yếu của Hiệp h
ội là để hỗ trợ
việc bảo hộ sở hữu công nghiệp và trí tuệ cho cộng đồng phát triển công nghệ.
Ngài Jonathan Zuck, Chủ tịch Hiệp hội ACT, tại Hội nghị Brüsszel đã phát
biểu: Một công trình nghiên cứu được giao thực hiện tại các cơ sở nghiên cứu
của trường đại học Cambridge và Birmingham sẽ phân tích những vấn đề liên
quan đến khuyến khích đổi mới và cố gắng không gắ
n chính trị vào nghiên cứu,
egyetemi kutatóműhelyekben készült, igyekszik a politikai aktualitásoktól
távolságot tartva szemlélni az innovációösztönzés problematikáját, và kết quả
của công trình nghjiên cứu là không bao giờ hoàn chỉnh tuyệt đối, mà nó chỉ cố
Những sự thay đổi về
chính sách
Thiếu sáng kiến
Thiếu vốn
Những sức cản đối với sự
đổi mới
Chủ nghĩa bảo hộ của EU
và các quốc gia
Thiếu sự hợp tác giữa các
doanh nghiệp
Hệ thống đào tạo khiếm
khuyết
Sự khác biệt giữa EU và
nước Hungary
Sự chênh lệch kinh tế các
nước thuộc EU
Luậ
t bảo hô trí tuệ yêu
Hình 1: Theo ý kiến của các doanh nghiệp được hỏi thì nguyên nhân của việc kém đổi
mới là do độ năng động của các doanh nghiệp Châu Âu kém hơn so với nước Mỹ, hoặc
nước Nhật Bản (theo tỷ lệ phiếu trả lời).
Nguồn: Tim Vorley và John Round: Entrepreneurship environments, 2008. december.
Công trình nghiên cứu cho rằng, trong số những yêu cầu đối với một môi
trường lý tưởng cho các hoạt động đổi mới thì đầu tiên là cần có một hệ thống
thuế trực tuyến (online) minh bạch, dễ hiểu, phương thức đơn giả, thống nhất
15
(European Institute of Innovation
and Technology; EIT). Bộ máy điều hành chiến lược của EIT gồm một uỷ ban
có 18 thành viên, được lựa chọn từ các nước thành viên của EU, là những giảng
viên đại học, cán bộ nghiên cứu, đổi mới, chuyên gia có vị trí lãnh đạo có kinh
nghiệm trong thương trường. Mục tiêu của Viện EIT này là làm hài hoà các hoạt
động giảng dạy, phát triển và nghiên cứu khoa học nhằm để làm tăng năng lực
đổi mới, cạnh tranh c
ủa EU. Mặc dù, trong những năm qua đã có những nỗ lực
theo hướng kết hợp hài hoà này, nhưng việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu
của Châu Âu vào thực tế vẫn chưa đạt yêu cầu. Với việc thành lập tổ chức mới
này, EU mong muốn nhất thể hoá „tam giác trí thức” (giảng dạy - nghiên cứu -
đổi mới), tức là kết hợp hài hoà các hoạt động của các trường đại học, các vi
ện
nghiên cứu và các doanh nghiệp, nhằm tạo một sức bật cho các hoạt động đổi
mới của Cộng đồng Châu Âu. Viện EIT mong muốn đạt mục tiêu là các trường
đại học, các viện nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp cùng hợp tác để xây
1
http://ec.europa.eu/eit/
16
dựng một mạng lưới chung gọi là „Cộng đồng Tri thức và Đổi mới” (TIT –
Knowledge and Innovation Communities, KIC)
2
. Theo các nguyên tắc cơ bản
khi thành lập EIT thì nhiệm vụ hàng đầu của Hội đồng Giám đốc là trong vòng
18 tháng, tức là đến cuối năm 2009 phải lựa chọn ra được các thành viên của ba
„Cộng đồng Tri thức và Đổi mới” (TIT – Knowledge and Innovation
nghệ, nhưng cho đến nay vẫn chưa hình thành được thành một m
ạng lưới hợp
tác giữa các cơ quan nghiên cứu, các tổ chức trung gian, các khu công nghiệp,
các vuờn ươm doanh nghiệp và các trung tâm phát triển công nghệ, cũng như
giữa các Trung tâm Nghiên cứu Hợp tác - Kooperatív Kutatási Központok
3
-
được hình thành từ sự tổng hợp của các tổ chức nêu trên.
2
Tudományos és Innovációs Társulás (TIT): az innovációs folyamatban részt vevő felsőoktatási intézmények,
kutatási szervezetek, vállalkozások és más érdekeltek közötti autonóm partnerségek, amelyek az EIT
feladatainak megvalósítása céljából közép- és hosszú távú közös innovációs tervezésen alapuló stratégiai
hálózatot képeznek, annak pontos jogi formájától függetlenül;
3
Amerikai és svéd modellek alapján kidolgozott olyan kutatási központok, amelyekben az oktatás
(doktorképzés), a kutatás-fejlesztés, valamint a technológia-transzfer stratégiai jellegű integrálása megtörténhet.
17
Vì thị trường công nghệ của Hungary về cơ bản mang tính cung là chủ
yếu, do đó các tổ chức chuyển giao công nghệ chủ yếu cũng hoạt động và làm
dịch vụ theo hướng này. Một thí dụ điển hình là Công viên Đổi mới
INNOTECH của trường đại học Kỹ thuật.
1.2.1. Công viên Đổi mới INNOTECH của trường đại học Kỹ thuật-Kinh
tế Budapet:
1.2.2.
Tong năm 1987, tại Hungary đã thành lập hai khu Công viên Đổi
Budapét tiến hành nghiên cứu và đưa vào ứng dụng tất cả các lo
ại công nghệ mà
trường có thể làm được dựa vào năng lực của mình. Những số liệu cụ thể của
từng khoa, từng bộ môn và theo chuyên ngành có thể tìm được trong trang chủ
của trường (www.bme.hu
).
Các loại dịch vụ do INNOTECH Kft. cung cấp:
A költségek 50%-át a részvevő vállalkozások fizetik, a másik 50% (max. 200 MFt) állami támogatás. Ma már 19
Kooperációs Kutatóközpont működik az országban
4
www.innotech.hu
18
• Nhiệm cụ chính của là đưa vào ứng dụng thực tế những kết quả của hoạt
động R&D của Đại học Kỹ thuật-Kinh tế Budapét, tức là một loại doanh
nghiệp chuyên hoạt động trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ,
• Bảo đảm dịch vụ về cung cấp mặt bằng để phương tiện, xe cho các doanh
nghiẹp đóng trụ sở trong khuôn viên của công ty, như vậy nó cũng có
chức năng như một loại vườn ươm theo nghĩa truyền thống,
• Thương mại hoá các kiến thức của các chuyên gia nghiên cứu trong các
trường đại học, những cán bộ nghiên cứu này thực hiện nghiên cứu các đề
tài theo đơn đặt hàng của các vdoanh nghiệp thông qua công ty
INNOTECH Kft, vì vậy doanh nghiệp INNOTECH Kft không cần phải
xây dựng các cơ sở nghiên cứu riêng của mình, và doanh nghiệpânỳ trong
thực tế cũng không xây dựng phòng thí nghiệm riêng,
• Trong quá trình hoạt động, thực hiện các dịch vụ, đã ứng dụng một cách
có hiệu quả những kiến thức và kinh nghiệm thu được để hỗ trợ cho công
)
Trung tâm Thương mại và Đổi mới Quốc gia INNOSTART được thành lập
trong năm 1994 với sự hỗ trợ của tổ chức PHARE. Trung tâm đã lựa chọn mục
đích là một khu vườm ươm doanh nghiệp, làm một cầu nối cho việc thực hiện
những dự án mang tính đổi mới. Tuy nhiên, do thiếu nguồn kinh phí từ những
nhà đầu tư mạo hiểm, hệ thống các tổ chức nghiên cứu còn hạ
n chế, mà chủ yếu
tập trung vào triển khai những sáng chế của các cá nhân từ nguồn vốn tư nhân
và nhà nước, do đó kết quả đạt được còn tương đối khiêm tốn. Trên cơ sở nhu
cầu của thị trường, đến nay, một số lĩnh vực đã đạt được hiệu quả là: xây dựng
dự án xin tuyển chọn, tư vấn quản lý dự án, và giáo dục, bổ túc.
Trung tâm Thươ
ng mại và Đổi mới Quốc gia INNOSTART có chức năng
là tìm kiếm, phát hiện những sáng kiến có tính đổi mới, có triển vọng thương
mại hoá được và sau đó hỗ trợ cho việc triển khai vào thực tế những sáng kiến
đó, cũng như với những dịch vụ đem lại giá trị gia tăng cao, sẽ tạo điều kiện dễ
dàng hơn cho việc chinh phục thị trườ
ng, nâng cao sức mạnh của các doanh
nghiệp trên thị trường. Tương lai của doanh nghiệp INNOSTART sẽ là dựa vào
hoạt động mang tính phương pháp luận đã được thử nghiệm, với vai trò là cầu
nối, sẽ củng cố địa vị của mình trên thị trường, sẽ cung cấp những dịch vụ, giải
pháp tổng hợp cho các doanh nghiệp mang tính đổi mới và các nhà hoạch định
chính sách. Doanh nghiệp INNOSTART đóng một vai trò xúc tác trong các hoạt
độ
ng đổi mới, cho sự phát triển của các doanh nghiệp và sự phát triển kinh tế
bền vững.
Trong 13 năm vừa qua, Trung tâm Thương mại và Đổi mới Quốc gia
INNOSTART đã thực hiện thành công 47 dự án trong nước và dự án do EU tài
trợ. Trung tâm đã hỗ trợ cho các cơ sở đặi hàng để nhận được nhiều tỷ Fo-rint
tiền cung cấp không hoàn lại cho các đề taì nghiên cứu, đã tổ chức 124 khoá đào
Hungary có ch
ỗ đứng cả trên trường quốc tế và cả trong nước, đem lại lợi ích
cho đất nước, cũng như cho cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Hungary.
Nhằm thực hiện được mục tiêu này, Công ty Đổi mới ValDeal đã nghiên cứu,
học tập mô hình, phương pháp hoạt động, vận hành của hệ thống vườm ươm
doanh nghiệp đã và đang hoạt động của nước ngoài và áp dụng vào tình hình c
ủa
nước Hungary.
Những thành viên sáng lập ra Công ty Đổi mới ValDeal là Trung tâm
Dịch vụ và Phát triển bất động sản Budaörs (Budaörsi Ingatlanfejlesztő és
Szolgáltató Centrum Kft.), Công ty Budaörsi ISC Kft. và Danubia IP Kft là
những doanh nghiệp đã có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực làm dịch vụ đổi
mới công nghệ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các tổ chức chuyển giao công
nghệ của các trường đại học, các cá nhân.
Công ty Đổi mới ValDeal, nhằm thực hiện mục tiêu đề ra, đã nh
ận được
hỗ trợ tài chính là 550 triệu Fo-rint từ Tổng cục Nghiên cứu và Công nghệ Quốc
gia (Nemzeti Kutatasi es Technologiai Hivatal) thông qua tuyển chọn đề tài và
cũng nhận được hàng trăm triệu Fo-rint khác từ các nhà đầu tư tư nhân, dự kiến
sẽ nhận được khoản kinh phí khoảng 1,0 tỷ Fo-rint trong vòng 2 năm để thực
hiện nhiệm vụ này.
Cuối năm 2006, Công ty Đổi mới ValDeal đã thông báo tuyển chọn cho
các nhà nghiên cứu, sáng chế
Hungary về việc đưa các sáng chế của họ ra thị
trường quốc tế. Trong số hơn 300 dự án đã được các doanh nghiệp đề nghị, đã
có 28 dự án được đưa ra chào hàng. Ngoài ra, Công ty cũng liên tục thực hiện
việc đánh giá các công nnghệ mang tính đổi mới đã chuyển đến công ty và khi
6
www.valdeal.com
i mới ValDeal đã nhận được tônghr số là khoảng 300 dự án, sau khi nghiên
cứu, thẩm tra một cách tỷ mỉ, Công ty đã nhận lập chào hàng cho 28 dự án và
tiếp tục triển khai các bước chuẩn bị để thương mại hoá dự án.
Trong giai đoạn 2 của tìm kiếm dự án, chỉ tính đến ngày 03/02/2009 đã có
trên 200 đề xuất dự án. Việc đánh giá và lựa chọn dự án đã được kết thúc vào
cuối tháng 4 năm 2008 v
ới sự tham gia của các chuyên gia đánh giá nước ngoài.
Cũng giống như năm 2007, trong năm 2008, Công ty Đổi mới ValDea cũng đã
lựa chọn được 28 dự án được đánh giá là có triển vọng nhất trong 4 lĩnh vực
chuyên môn là kỹ thuật công nghiệp, tin học, khoa học đời sống và khoa học vật
liệu.
1.4.3.Trung tâm Đổi mới Di động - Mobil Innovációs Központ (MIK)
9
Trong số những doanh nghiệp xây dựng và môi giới trong thị trường bán
công nghệ tại Hungary ngày nay thì Trung tâm Đổi mới Di động - Mobil
Innovációs Központ (MIK) là một tổ chức hoạt động có nhiều triển vọng nhất.
Trung tâm Đổi mới Di động - Mobil Innovációs Központ (MIK) đã được
thành lập với sự hỗ trợ kinh phí của Tổng cục Nghiên cứư và Công nghệ Quốc
7
www.ic2.org
8
www.inno-group.com
9
http://www.mik.bme.hu/home
22
Trung tâm Đổi mới Di động - Mobil Innovációs Központ (MIK) có các
mục tiêu như:
Với một cơ cấu chuyên môn sâu, và hệ thống các phòng thí nghiệm và thử
nghiệm, đánh giá chất lượng hiện đại nhằm phát triển và kiểm tra nh
ững ứng
dụng của thông tin liên lạc di động và không dây, Trung tâm Đổi mới Di động -
Mobil Innovációs Központ (MIK) khởi động với những nhiệm vụ cơ bản như
nêu dưới đây, cũng như sẽ bổ sung, mở rộng các lĩnh vực theo những xu hướng
phát triển và kết quả nghiên cứu của minh:
• Hỗ trợ nghiên cứu các công nghệ di động tốc độ cao và viễn thông không
dây, trong đó là hỗ trợ cho những công trình nghiên cứu và phát triển các
công nghệ B3G mới, thế hệ sau hệ di động thư ba (3G.
• Hỗ trợ đưa các dịch vụ mạng và ứng dụng các công nghệ di động 3G/4G
và không dây vào hoạt động, hỗ trợ cho việc xây dựng các hệ thống như
23
vậy và những ứng dụng trên hệ thống đó và kiểm tra chất lượng, hoạt
động ở những môi trường khác nhau.
• Xây dựng những công nghệ/dịch vụ di động, viễn thông không dây,
khuyến khích phát triển những ứng dụng của chúng vào thực tế.
• Hỗ trợ cho sự hợp tác chặt chẽ trong nghiên cứu và triển khai giữa các
trường đại học với các ngành công nghiệp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
cũng như hỗ trợ cho việc phát triển các dịch vụ và công nghệ di động và
không dây.
Trung tâm Đổi mới Di động - Mobil Innovációs Központ (MIK) tham gia
tích cực vào các chương trình nghiên cứu-phát triển do Công đồng EU chủ trì,
nâng cao nguồn thu nhập và tự tồn tại từ xin tuyển chọn từ những ngu
Nhằm tận dụng hạ tầng cơ sở của Trung tâm Đổi mới Di động - Mobil
Innovációs Központ (MIK), Trung tâm Công nghệ Internet và các ứng dụng đã
được thành lập với sự kết hợp tham gia của Viện nghiên cứu Tính toán và Tự
động hoá, thuộc Viện hàn lâm Khoa học Hungary với Công ty TNHH Sun
10
http://itak.sztaki.hu/hu/mik-projektek/autorizacios-broker-szolgaltatas-a-mik-rendszeren.html
24
Microsystems Kft. Kết quả chính của Trung tâm này là phát triển một hệ thống
bróker tự động hoá.
Trong khuôn khổ dự án, các thành viên tham gia đã phát triển một hệ thống
mẫu dựa trên các tiêu chuẩn quản lý thống nhất, mà hệ thống này sử dụng hạ
tầng cơ sở của Trung tâm Đổi mới Di động - Mobil Innovációs Központ (MIK)
được đặt trụ sở tại trường Đại học Kỹ thuật và Kinh tế Budapét. Với sự h
ỗ trợ
của hệ thống này, có thể thực hiện được các dịch vụ điện tử „một cửa” cho
người sử dụng-túc ngươì mua hàng, đồng thời bảo đảm các dữ liệu đã được điều
khiển và kiểm tra cho những người môi giới uỷ quyền, thông qua cổng goi là
„Cổng hàng hoá” và qua đó thực hiện được những dịch vụ theo hợp đồng giữ
a
các nhà cung cấp sản phẩm với những người bán hàng.
Người môi giới uỷ quyền sẽ giải quyết các vấn đề liên quan đến số liệu,
nó giúp người mua hàng không phải đăng ký má số của họ mỗi khi mua hàng,
mà chỉ cần đăng ký tại kột nơi của người môi giới uỷ quyền.
1.4.4. Các Trung tâm nghiên cứu trong hệ thống hợp tác
Tổng cục Nghiên cứu và Công nghệ Quốc gia (NKTH) là cơ quan ban hành
các quy tác hoạt động cho các trung tâm này