1
Đại học Quốc gia Hà Nội
Đại học kinh tế
Nguyễn bá th-ơng Phát triển Th-ơng mại điện tử
trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Luận Văn Thạc sỹ Kinh tế chính trị
Luận Văn Thạc sỹ Kinh tế chính trị Chuyên ngành : Kinh tế Chính trị
Mã số : 60 31 01
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS: Nguyễn văn Minh
Tr-ờng Đại học Th-ơng Mại
Hà Nội - 2008 1
MỤC LỤC Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG VIỆC ỨNG
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM …………
35
2.1. Thực trạng các nhân tố ảnh hƣởng và tình hình phát triển Thƣơng
mại điện tử ở Việt Nam
35
2.1.1. Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng tới phát triên Thương mại điện tử
ở Việt Nam
35
2.1.2. Tình hình phát triển Thương mại điện tử ở Việt Nam
57
2.2. Thực trạng ứng dụng Thƣơng mại điện tử trong các doanh nghiệp nhỏ
và vừa ở Việt Nam
62
2.2.1. Tình hình chung về phát triển các yếu tố để ứng dụng Thương mại
điện tử trong các doanh nghiệp Việt Nam
62 2
2.2.2. Mức độ ứng dụng Thương mại điện tử trong các doanh nghiệp nhỏ
và vừa Việt Nam
69
2.2.3. Thực trạng phát triển các mô hình Thương mại điện tử trong các
3.2. Một số giải pháp phát triển Thƣơng mại điện tử trong các doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
102
3.2.1. Nâng cao nhận thức về Thương mại điện tử của các doanh nghiệp
102
3.2.2. Đào tạo nguồn lực về Thương mại điện tử trong các doanh nghiệp
nhỏ và vừa
104
3.2.3. Hoàn thiện khung pháp lý cho Thương mại điện tử
106
3.2.4. Hoàn thiện hệ thống thanh toán điện tử
111
3.2.5. Phát triển hạ tầng kỹ thuật công nghệ cho ứng dụng Thương mại
điện tử trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
114
2.2.6. Lựa chọn và triển khai các hỗ trợ thích ứng với từng giai đoạn ứng
dụng Thương mại điện tử khác nhau
115
3.2.7. Các giải pháp khác
117
KẾT LUẬN
123
TÀI LIÊU THAM KHẢO
125 3
75
Bảng 2.11: Đặc điểm và tính năng thương mại củ website doanh nghiệp
76
Bảng 2.12: Phân bố số thành viên và đối tác tìm được
80
Bảng 2.13: Một số sàn TMĐT C2C tương đối thành công ở Việt Nam
81
4
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình: 2.1: Phát triển người dùng Internet 2001 – 2007
37
Hình: 2.2: Tỷ lệ nhân viên sử dụng máy tính thường xuyên cho công việc
65
Hình: 2.3: Mức độ tiếp cần Internet của doanh nghiệp qua các năm 2004-
2007
66
Hình: 2.4: Chuyển biến hình thức sử dụng Internet qua các năm 2004-2007 67
khổng lồ về kinh tế trong thế kỷ này là “Thương mại điện tử”. Tuy mới chỉ
hình thành vào thập niên cuối thế kỷ 20 và phát triển mạnh mẽ hơn 8 năm trở
lại đây, nhưng nó đã xâm nhập sâu vào hầu như tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã
hội, ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động của con người, và hơn nữa đây không
phải là một hiện tượng kinh tế nhất thời, mà là xu thế tất yếu không thể đảo ngược.
Thương mại điện tử đang đặt ra một cơ hội bình đẳng cho tất cả các
nước phát triển. Ứng dụng thương mại điện tử tiết kiệm thời gian, chi phí giao
dịch, cho phép các doanh nghiệp có thể bán sản phẩm trên toàn thế giới mà
không cần xuất khẩu trực tiếp hay xây dựng hệ thống kênh phân phối truyền
thống ở nước ngoài. Sự khác biệt duy nhất đặt ra đối với các nước phát triển
và đang phát triển thương mại điện tử chính là vấn đề về cơ sở hạ tầng và tiềm
năng thị trường. Với cơ sở hạ tầng thông tin, thể chế phù hợp, sức mua lớn
các nước phát triển sẽ có nhiều thuận lợi hơn so với các nước thế giới thứ ba
trong việc khai thác và phát triển thương mại điện tử.
Việt Nam là một nước đang phát triển. Dù còn nhiều hạn chế về cơ sở
hạ tầng kỹ thuật, pháp lý, nhận thức của xã hội về bản chất và lợi ích của
thương mại điện tử còn chưa cao, nhưng điều đó không có nghĩa là Việt Nam
chưa có điều kiện phát triển thương mại điện tử, hay phát triển thương mại
điện tử ở Việt Nam trong hoàn cảnh hiện nay là chưa phù hợp. Ngược lại,
phát triển thương mại điện tử sẽ rút ngắn quá trình hội nhập của nền kinh tế
Việt Nam vào nền kinh tế khu vực thế giới. Phát triển thương mại điện tử giúp 6
các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận
và tận dụng những thành tựu trên thế giới để phát triển.
Chiếm hơn 90% tổng số doanh nghiệp, các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Việt Nam đóng vai trò to lớn trong phát triển nền kinh tế đất nước. GDP do
các doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo ra hàng năm chiếm tỷ trọng khá lớn, đảm
bảo thực hiện những chỉ tiêu tăng trưởng của nền kinh tế. Các doanh nghiệp
Mậu, PGS,TS. Đinh Văn Tiến và TS. Nguyễn Xuân Thái là đồng tác giả; Đề
tài: “Thực trạng ứng dụng thương mại điện tử ở một số tổ chức, đơn vị – kinh
nghiệm và kiến nghị” của Nguyễn Thị Ngân Bình- Viện Nghiên cứu Thương
mại.
Cho đến nay, chưa có một nghiên cứu nào đánh giá một cách tổng quát
tình hình phát phiển thương mại điện tử ở doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt
Nam, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm phát triển thương mại điện tử
trong các doanh nghiệp Việt Nam thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
*Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về ứng dụng thương mại điện tử
trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Đánh giá thực trạng phát triển thương mại điện tử trong các doanh
nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam từ năm 2002 trở lại đây và đưa ra các giải
pháp nhằm phát triển thương mại điện tử trong các doanh nghiệp nhỏ và
vừa ở Việt Nam.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về thương mại điện tử và
doanh nghiệp nhỏ và vừa để làm rõ cơ sở khoa học phát triển thương mại điện
tử trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng phát triển thương mại điện tử trong
các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển thương mại điện tử trong
các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 8
* Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển
thương mại điện tử tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam.
- Chương II: Thực trạng phát triển thương mại điện tử trong các doanh
nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam.
- Chương III: Các giải pháp phát triển thương mại điện tử trong các
doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.
10
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ỨNG DỤNG THƢƠNG MẠI
ĐIỆN TỬ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1. Một số vấn đề lý luận chung về thƣơng mại điện tử
1.1.1. Khái niệm, hình thức, mô hình, lợi ích và hạn chế của thương
mại điện tử
1.1.1.1. Khái niệm thương mại điện tử
Thương mại điện tử (TMĐT) là một lĩnh vực mới mẻ cả từ tên gọi và
cách tiếp cận. Xuất phát từ những quan điểm nhìn nhận khác nhau, hiện nay
một số tên gọi hay được nhắc đến nhiều như: TMĐT trực tuyến
(onlineTrade), thương mại điều khiển học (Cyber Trade), thương mại không
giấy tờ (Paperless Commerce hoặc là Paperless Trade) Đặc biệt nổi bật
nhất là: TMĐT (Electronic Commerce), kinh doanh điện tử (Electronic
Business). Gần đây, tên gọi TMĐT được sử dụng nhiều rồi trở thành quy ước
chung, đưa vào văn bản pháp luật quốc tế, dù với các tên gọi khác vẫn có thể
được dùng và được hiểu cùng một nội dung.
Về bản chất, TMĐT là việc sử dụng các phương pháp điện tử để thực
hiện các hoạt động thương mại, nói chính xác hơn TMĐT là việc trao đổi
thông tin thương mại và mua bán hàng hoá, dịch vụ thông qua các phương
tiện điện tử, mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn
1.1.1.2. Các hình thức thương mại điện tử
a. Thư điện tử (Electronic mail: E-mail)
Thông tin được sử dụng là dạng thông tin phi cấu trúc (Unstructured
form), nghĩa là thông tin không phải tuân thủ một cấu trúc đã thoả thuận hoặc
được định sẵn. E-mail thường được sử dụng là một phương tiện trao đổi thông
tin giữa các cá nhân, các công ty, các tổ chức với một thời gian ngắn nhất,
chi phí rẻ nhất có thể sử dụng được mọi lúc, đến được mọi nơi trên thế giới.
Một địa chỉ, một hộp thư E-mail chính là sự xác định sự tồn tại, sự hiện hữu 12
của một cá thể, một công ty một tổ chức trên môi trường ảo - môi trường
Internet.
b. Thanh toán điện tử (Electronic Payment)
Thanh toán điện tử là quá trình thanh toán dựa trên hệ thống thanh toán
tài chính tự động, mà ở đó diễn ra sự trao đổi các thông điệp điện tử với chức
năng là tiền tệ, thể hiện giá trị của một cuộc giao dịch. Một số hình thức chính sau:
- Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Finanical Electronic Data
Interchange, gọi tắt là FEDI) chuyên phục vụ cho thanh toán điện tử giữa các
công ty giao dịch với nhau bằng điện tử.
- Tiền mặt Internet (Internet Cash): tiền mặt được mua từ một nơi phát
hành (Ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng), sau đó được chuyển đổi tự do
sang các đồng tiền khác thông qua Internet, sử dụng trên phạm vi thế giới và
tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hoá. Sử dụng tiền mặt số này
(Digital Cash) có thể dùng để thanh toán những món hàng giá trị nhỏ, do chi
phí giao dịch mua hàng và chi phí chuyển tiền rất thấp. Hơn nữa, nó không
đòi hỏi một quy chế được thoả thuận từ trước, có thể tiến hành giữa hai con
người, hai công ty bất kỳ, hoặc là các thanh toán vô danh.
- Thẻ thông minh (Smart Card) là một loại thẻ giống như thẻ tín dụng,
tuy nhiên ở sau mặt thẻ, là một chip máy tính điện tử có bộ nhớ nhỏ để lưu trữ
bản thân vật mang nội dung đó). Ví dụ: tin tức sách báo, nhạc, phim, ảnh, các
chương trình truyền hình, phát thanh, phần mềm, các dịch vụ tư vấn, vé máy
bay, xem phim hợp đồng bảo hiểm Xuất bản điện tử (Electronic Publishing
hay Web Publishing) là việc đưa các tờ báo, các tư liệu công ty, các catalogue
hoặc những thông tin về sản phẩm hay những hình thức khác tương tự lên trên
mạng Internet.
Khác trước kia, dung liệu được giao dưới dạng hiện vật (Physical
Form) bằng cách ghi vào đĩa từ, băng, in thành sách báo, văn bản thì ngày
nay, dung liệu được số hoá và truyền gửi qua mạng gọi là giao gửi số hoá. Ở
Mỹ khoảng 90% dân chúng nhận tin tức và thông tin qua Internet/Web và
khoảng 80,5% sử dụng Internet/Web là công cụ phục vụ cho nghiên cứu, học 14
tập. Ứng dụng của giao gửi số hoá phát triển mạnh ở những lĩnh vực như:
phát hành các ấn phẩm điện tử (sách báo điện tử, báo điện tử … ) hoặc thông
qua thiết bị đa phương tiện (Multimedia) các sản phẩm phim ảnh, truyền hình,
hội nghị qua mạng, nghe nhạc, các thông tin về bảo hiểm, hoặc đầu tư chứng
khoán … đã tạo cho Internet một môi trường thông tin khổng lồ, phong phú.
e. Bán lẻ hàng hoá hữu hình (E-Retail)
Bán lẻ hàng hoá trên mạng Internet là việc tiến hành bán tất cả các sản
phẩm mà một công ty có thể thông qua mạng Internet. Để làm được điều này
cần phải xây dựng trên mạng các cửa hàng ảo (Virtual Shop), nhằm mục đích
tạo một kênh bán hàng trực tiến đê có thể đáp ứng được nhu cầu khách hàng
một cách tối ưu nhất. Bên cạnh đó công ty cổ phần phải xây dựng cho bản
thân mình một hạ tầng cơ sở đủ mạnh như: hệ thống thanh toán điện tử, hệ
thống đặt hàng trực tuyến, hệ thống hỗ trợ khách hàng trực tuyến, hệ thống
bảo mật… . Hàng hoá trên Internet phải được số hoá, nghĩa là những hàng
hoá giúp cho người mua xác định kiểm tra được tính hiện hữu hàng hoá về
chất lượng …Cửa hàng điện tử (Store - front, Store - building) là những phần
có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng và ngày càng phổ biến. Hình thái dễ nhận
ra nhất của mô hình này là các Website bán đấu giá trực tuyến, rao vặt trên
mạng. Một trong những thành công vang dội của mô hình này là trang Web
đấu giá eBay. Được thành lập tháng 9.1995, hiện nay eBay là chợ đấu giá điện
tử lớn nhất thế giới dành cho việc mua bán các sản phẩm cho các khách hàng
riêng lẻ và các doanh nghiệp nhỏ. Trên eBay có tới 55 triệu sản phẩm nằm
trong 50.000 danh mục ngành hàng với 157 triệu thành viên trên toàn thế giới.
d. B2G (Business to Government): Thương mại điện tử giữa doanh
nghiệp và chính phủ được hiểu chung là thương mại giữa các doanh nghiệp và
khối hành chính công. Nó bao hàm việc sử dụng Internet cho mua bán công,
thủ tục cấp phép và các hoạt động có liên quan tới chính phủ. Hình thái này 16
của thương mại có hai đặc tính: Thứ nhất, khu vực hành chính cũng có vai trò
dẫn đầu trong việc thiết lập thương mại điện tử; Thứ hai, người ta cho rằng
khu vực này có nhu cầu lớn nhất trong việc biến các hệ thống mua bán trở nên
hiệu quả hơn. Các chính sách mua bán trên mạng giúp tăng cường tính minh
bạch của quá trình mua hàng. Tuy nhiên, hiện nay kích cỡ của thị trường
thương mại điện tử B2G như là một thành tố của tổng thương mại điện tử thì
không đáng kể, khi mà hệ thống mua bán của chính phủ còn chưa phát triển.
Dù là các mô hình đơn lẻ nhưng trên thực tế, một doanh nghiệp hoàn
toàn có thể áp dụng cả hai mô hình B2B và B2C trong hoạt động kinh doanh.
Xét trên góc độ thương mại truyền thống một doanh nghiệp có thể vừa tiến
hành bán buôn và bán lẻ thông qua các hệ thống phân phối hoặc các công ty
con của mình. Mặt khác cũng có doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh
doanh với các doanh nghiệp khác (như đặt hàng từ các đối tác để mua nguyên
vật liệu ) để sản xuất hàng hoá và bán lẻ cho khách hàng. [7, 8, 10]
1.1.1.4. Lợi ích và hạn chế của thương mại điện tử
3) Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị
TMĐT giúp giảm thấp chi phí bán hàng và chi phí tiếp thị. Bằng
phương tiện Internet/Web một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với
rất nhiều khách hàng, catalogue điện tử trên Web phong phú hơn nhiều và
thường xuyên cập nhật so với catalogue in ấn chỉ có khuôn khổ giới hạn và
luôn luôn lỗi thời. Theo số liệu của hãng máy bay Boeing của Mỹ nay đã có
tới 50% khách hàng đặt mua 9% phụ tùng qua Internet (và còn nhiều hơn nữa
các đơn hàng về lao động vụ kỹ thuật), và mỗi ngày giảm được 600 cuộc điện
thoại. Các công ty thường mời các tư vấn tính toán và cho xây dựng Website
phù hợp với công ty thường mời các tư vấn tính toán và cho xây dựng
Website phù hợp với công việc kinh doanh của mình. Các DNNVV thường 18
dựng các trang Web với chi phí nhỏ, đơn giản nhưng hiệu quả đủ sức cho
hàng triệu người trên khắp thế giới "vào" xem nội dung và tiến hành mua bán.
4) Giảm chi phí giao dịch
TMĐT qua Internet/Web giúp người tiêu thụ và các doanh nghiệp giảm
đáng kể thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch được hiểu là quá trình từ
quảng cáo, tiếp xúc ban đầu, giao dịch đặt hàng, giao dịch giao hàng, giao
dịch thanh toán). Thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao
dịch qua Fax, và bằng khoảng 0,05% thời gian giao dịch qua bưu điện. Chi
phí giao dịch qua Internet chỉ bằng 5% chi phí giao dịch qua bưu điện chuyển
phát nhanh. Chi phí thanh tán điện tử qua Internet chỉ bằng 10% tới 20% chi
phí thanh toán theo lối thông thường. (xem Bảng 1.1)
Bảng 1.1: Tốc độ và chi phí truyền gửi
Đƣờng truyền
Thời gian
Chi phí (USD)
Trong hai yếu tố cắt giảm này, yếu tố thời gian đáng kể hơn, vì việc
nhanh chóng làm cho thông tin hàng hoá tiếp cận người tiêu thụ (mà không 19
cần phải qua trung gian) có ý nghĩa sống còn với buôn bán và cạnh tranh buôn
bán. Ngoài ra việc giao dịch nhanh chóng, sớm nắm bắt được nhu cầu còn
giúp cắt giảm số lượng và thời gian hàng nằm lưu kho, cũng kịp thời thay đổi
phương án sản phẩm bám sát được với nhu cầu của thị trường. Điều này đặc
biệt có ý nghĩa đối với việc kinh doanh hàng rau quả, hàng tươi sống, là thứ
hàng có tính thời vụ và đòi hỏi phải có thời gian tính trong giao dịch.
Do chuyển thông tin thương mại lên trang Web các doanh nhân điện tử
nói chung đã đẩy chi phí giao dịch sang phía khác hàng. Sau khi khách hàng
tiềm năng xem thông tin họ có thể đặt hàng mua hàng, hoặc tới tận nơi xem
hàng, xác suất mua hàng thường cao hơn so với các tiến hành mua bán thông
thường. Một số công ty bán hàng qua Web cho biết tốc độ bán hàng tăng gấp
khoảng 10 lần: người bán hàng thông thường phải giao tiếp với khách hàng
tiềm năng trung bình 20 phút còn người bán hàng qua Web chỉ cần có 2 phút
sau khi khách xem nội dung và chọn trước món hàng mà họ dự kiến hỏi để có
thể mua.
5) Giúp thiết lập và củng cố quan hệ đối tác
TMĐT tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các
thành tố tham gia vào quá trình thương mại: Thông qua mạng (nhất là dùng
Internet /Web) các thành tố tham gia (người tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ
quan chính phủ) có thể giao tiếp trực tiếp và liên tục với nhau (liên lạc trực
tuyến) gần như không còn khoảng cách địa lý và thời gian nữa; nhờ đó cả sự
hợp tác đều được tiến hành nhanh chóng và liên tục các bạn hàng mới, các cơ
hội kinh doanh mới được phát hiện nhanh chóng trên bình diện toàn quốc,
toàn khu vực toàn thế giới và có nhiều cơ hội hơn nữa để lựa chọn.
- Ở các doanh nghiệp Việt Nam, nhân lực đảm nhận TMĐT là một vấn
đề nan giải. Đó là những người không chỉ giỏi về ngoại ngữ, sử dụng thành
thạo máy vi tính mà còn phải hiểu biết sâu sắc về kinh doanh trong cơ chế thị
trường, có kinh nghiệm ứng phó cho phù hợp với diễn biến của thị trường. 21
Tóm lại, có thể liệt kê khá nhiều những thuận lợi của TMĐT về mặt lý
thuyết nhưng vào thời điểm hiện tại thời cơ trong kinh doanh nhu cầu của
người tiêu dùng, khả năng thanh toán và các điều kiện cần thiết khác chưa
xuất hiện là những cản trở hạn chế đối với các DNNVV ở Việt Nam.
1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thương mại điện tử
1.1.2.1. Cơ sở hạ tầng công nghệ
TMĐT là hệ quả tất yếu của sự phát triển kỹ thuật hoá, của công nghệ
thông tin, mà trước hết là kỳ thuật máy tính điện từ. Vì thế, chỉ có thể thực sự
tiến hành thương mại điện có nội dung và hiệu quả đích thực khi đã có một cơ
sở hạ tầng công nghệ thông tin vững chắc, bao gồm tính toán điện tử và
truyền thông điện tử. Cơ sở hạ tầng công nghệ không chỉ có nghĩa là tính hiện
hữu mà còn hàm nghĩa tính kinh tế sử dụng, nghĩa là chi phí trang thiết bị các
phương tiện công nghệ thông tin vững chắc, bao gồm tính toán điện tử và
truyền thông điện tử. Và chi phí dịch vụ truyền thông (phí điện thoại, phí nối
mạng, và truy cập mạng) phải đủ rẻ để đông đảo người sử dụng có thể tiếp
cận được. Điều này có ý nghĩa đặc biệt to lớn đối với các nước đang phát
triển, mức sống nói chung còn thấp.
Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin chỉ có thể hoạt động đáng tin cậy
trên nền tảng một nền công nghiệp điện năng vững chắc, đảm bảo cung cấp
điện năng đầy đủ ổn định và mới mức giá hợp lý hơn. Điều này đòi hỏi rất
nhiều thời gian phải đầu tư lớn và là đặc biệt khó khăn đối với các nước đang
phát triển trong đó có Việt Nam.
Giao dịch TMĐT đòi hỏi rất cao về bảo mật an toàn, nhất là khi hoạt
kinh doanh trực tuyến là tất cả những người tham gia đều phải giỏi Anh ngữ
vì đây cũng là ngôn ngữ chủ yếu sử dụng trong thương mại nói chung, và
TMĐT qua mạng Internet nói riêng.
1.1.2.3. Hệ thống thanh toán điện tử 23
TMĐT chỉ có thể thực hiện khi đã tồn tại một hệ thống thanh toán điện
tử phát triển cho phép thực hiện thanh toán tự động (trong đó, thẻ thông minh
có tầm quan trọng đặc biệt đối với kinh doanh bán lẻ), khi chưa có hệ thống
này thì TMĐT chỉ ứng dụng được phần trao đổi thông tin, buôn bán vẫn phải
kết thúc bằng trả tiền trực tiếp hoặc bằng các phương tiện thanh toán truyền
thống, khi ấy hiệu quả của TMĐT bị giảm thấp và có thể không đủ để bù lại
các chi phí trang bị công nghệ đã bỏ ra.
Hệ thống thanh toán điện tử đi liền với việc mã hoá toàn bộ hàng hoá,
hay đánh số sản phẩm là một vấn đề không chỉ có tính quốc gia, mà còn có
tính quốc tế trên cơ sở của các chuẩn và định chế EAN Internationnal
(European Article Numbering International) và Uniform Code Council , thể
hiện dưới dạng các mã vạch. Theo đó tất cả các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ
đều được mã hoá bằng một dãy số gồm 13 con số và tất cả các công ty đều có
địa chỉ của mình bằng một mã từ 100 đến 100.000 con số, mã vạch là hệ
thống dùng các vạch đen, trắng, màu, có độ rộng khác nhau để biểu diễn con
số, một máy quét dùng tế bào quang điện sẽ nhận dạng các vạch này, biến đổi
thành con số, rồi tự động đưa vào máy tính để thanh toán tự động.
Việc hội nhập và thiết lập toàn bộ hệ thống mã sản phẩm và mã Công
ty (gọi chung là mã hoá thương mại) cho một nền kinh tế (đặc biệt là nền kinh
tế của nước đang phát triển) nói chung cũng không đơn giản đây cũng là một
thách thức lớn.
1.1.2.4. Cơ sở pháp lý
Trước hết Chính phủ từng nước nói chung phải quyết định xem xã hội