Đề án phát triển thương mại điện tử trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ ở việt nam - Pdf 25

Đề án môn học GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
MỤC LỤC
Theo số liệu của Cục Thống kê, Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ của Việt
Nam năm 2013 là 2.6 triệu nghìn tỷ đồng, tăng 12,6% so với năm 2012 (tính từ năm 2009 đến
nay, hàng năm đều có mức tăng trưởng trên 10% so với năm kế trước), với mức tăng trường
bình quân 10% một năm thì ước tính đến năm 2023 tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh
thu dịch vụ của nước ta sẽ đạt khoảng 6.7 triệu nghìn tỷ đồng. Con sổ này đã góp phần không
nhỏ cho sự phát triển hệ thống thương mại - dịch vụ bao gồm thương mại truyền thống và
thương mại trực tuyến. Ngoài ra, giao dịch thương mại điện tử chiếm 2,5% GDP của Việt Nam,
tính ra khoảng gần 2 tỉ đô la Mỹ và dự kiến sẽ đạt hơn 4 ty tỉ đô la Mỹ vào năm 2015. ( Theo Bộ
công thương năm 2012) . Từ đó chúng ta có thể thấy được triển vọng rất lớn mà hình thức kinh
doanh áp dụng thương mại điện tử mang lại 43
Bới vậy doanh nghiệp cần đầu tư hơn nữa vào phát triển thương mại điện tử, thông qua hệ
thống các giải pháp đúng đắn, phù hợp với điều kiện của mình. Áp dụng thương mại điện tử
vào hoạt động kinh doanh có thể là đòn bẩy cho sự phát triển của doanh nghiệp những cũng có
thể là nơi tiêu tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc nếu doanh nghiệp không có sự chuẩn bị kỹ
càng. Vì vậy, cần nắm vững được các yêu cầu của Thương mại điện tử, các định hướng, chiến
lược phát triển thương mại điện tử phải phù hợp với nhân lực và vật lực của doanh nghiệp 43
Các doanh nghiệp, nhà cung cấp dịch vụ bán hàng trực tuyến cần khắc phục được các gian lận
trong TMĐT để mở rộng và chinh phục thị trường 44
SV: Trần Tuệ Linh Lớp: QTKD Thương mại 53A
Đề án môn học GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
B2B : Business to Business (giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp).
B2C :Business to Customer(giao dịch giữa doanh nghiệp với người tiêu
dùng)
B2G: Business to Government ( giao dịch giữa doanh nghiệp với chính phủ)
AFACT : Hội đồng Châu Á - Thái Bình Dương về thuận lợi hóa thương mại
và kinh doanh điện tử (Asia Pacific Council for Trade Facilitation and Electronic
Business).
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast

để tồn tại và phát triển. Tuy nhiên việc ứng dụng thương mại điện tử ở mỗi doanh
nghiệp là khác nhau phụ thuộc vào mức độ nhận thức, trình độ nhân lực, cơ sở hạ
tầng công nghệ, loại hình và đặc điểm kinh doanh cuả doanh nghiệp…
Với mong muốn nước ta theo kịp sự phát triển của các nước tiên tiên trên thế
giới cùng với mối quan tâm đến sự phát triển thương mại điện tử trong các doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ, em đã chọn đề tài: "Phát triển thương mại điện tử
trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ ở Việt Nam” cho bài đề án môn học
của mình.
SV: Trần Tuệ Linh Lớp: QTKD Thương mại 53A
1
Đề án môn học GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN
TỬ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH VỤ
1 Tổng quan vê thương mại điện tử ở các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
1.1 Khái niệm
1.1.1. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
- Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hay còn gọi là doanh nghiệp thương
mại dịch vụ là các tổ chức kinh doanh thương mại – dịch vụ có đầy đủ tư cách pháp
nhân theo luật định, chuyên kinh doanh mua bán, trao đổi các loại hàng hóa dịch vụ
trên thị trường nhằm tìm kiếm lợi ích cho các chủ thể kinh doanh.
Trong đó:
- Thương mại: Là các hoạt động kinh tế nhằm phát sinh ra lợi nhuận ở tất cả
tất cả các lĩnh vực từ sản xuất, lưu thông, mua bán trao đổi, đầu tư.
- Dịch vụ: Là các hoạt động nhằm hỗ trợ cho quá trình kinh doanh chính,
nó làm đa dạng và phong phú hơn các mặt hàng kinh doanh, tăng khả năng lụa chọn
cho người tiêu dùng. Nó gắn liền với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của xã hội.
Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ có hình thức kinh doanh rất đa dạng về
loại hàng hoá, về hình thức, về quy mô. Ví dụ như dịch vụ khách sạn và du lịch,
thương mại, dịch vụ bất động sản và cho thuê…

của doanh nghiệp
1.2 Đặc trưng
So với các hoạt động thương mại truyền thống, thương mại điện tử trong các
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ có một số điểm khác biệt cơ bản như sau:
- Các bên tiến hành giao dịch trong thương mại điện tử không tiếp xúc trực
tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước.
Trong Thương mại truyền thống, các bên thường gặp gỡ nhau trực tiếp để
tiến hành giao dịch. Các giao dịch được thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc vật lý
như chuyển tiền, hoá đơn, vận đơn, báo cáo… Tuy nhiên, việc sử dụng các phương
tiện điện tử trong thương mại truyền thống chỉ để chuyển tải thông tin một cách trực
tiếp giữa hai đối tác của cùng một giao dịch.
Thương mại điện tử cho phép mọi người cùng tham gia từ các vùng xa xôi
hẻo lánh đến các khu vực đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất cả mọi người đều có cơ
hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu và không đòi hỏi nhất
thiết phải có mối quen biết với nhau.
- Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của
khái niệm biên giới quốc gia, còn thương mại điện tử được thực hiện trong một môi
trường không có biên giới. Thương mại điện tử trực tiếp tác động tới môi trường
cạnh tranh toàn cầu.
Thói quen mua hàng trực tuyến của người Việt Nam là tìm kiếm thông tin
trên mạng, liên lạc với người bán sau đó là giao dịch và thanh toán trực tiếp
SV: Trần Tuệ Linh Lớp: QTKD Thương mại 53A
3
Đề án môn học GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
- Trong hoạt động giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham gia của ít
nhất ba chủ thể trong đó có một bên không thể thiếu được là người cung cấp dịch vụ
mạng, các cơ quan chứng thực
Trong thương mại điện tử, ngoài các chủ thể tham gia quan hệ giao dịch
giống như giao dịch thương mại truyền thống đã xuất hiện một bên thứ ba đó là nhà
cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực… là những người tạo môi trường

những giao dịch kinh tế, trong khi cách làm truyền thống khi giới thiệu sản phẩm là
phải chuyển hàng hóa sang tận nơi, những hàng mẫu này có thể mất hàng tháng mới
có thể đến được các thị trường này, dẫn đến chi phí cao và sản phẩm có thể giảm
chất lượng. Do đó, việc áp dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh là
một xu thế tất yếu của thời đại, và Việt Nam trong quá trình hội nhập cũng không
nằm ngoài xu hướng phát triển chung đó.
Thực tế ở nước ta cũng cho thấy, không ít doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
áp dụng thương mại điện tử cũng như tham gia vào sàn giao dịch thương mại điện
tử đã mang lại những kết quả rất khả quan.
Cụ thể là:
- Quảng bá thông tin và tiếp thị trong thị trường toàn cầu với chi phí thấp:
Thương mại điện tử giúp doanh nghiệp giảm chi phí tiếp thị bằng phương
tiện Internet, website. Doanh nghiệp có thể thiết lập website một cách dễ dàng bằng
một số tiền rất nhỏ (khoảng 150.000đ cho việc thuê tên miền/ 1 năm, và khoảng
500.000đ cho việc thuê không gian máy chủ/ 1 năm). Nếu doanh nghiệp không thể
tự thiết kế website thì có thể nhờ các dịch vụ thiết kế dùm với giá từ 2 triệu – 5 triệu
đồng tùy theo số trang và chức năng của website. Như vậy, với khoảng < 3 triệu
đồng cho 1 năm, doanh nghiệp có thể hiện diện trên siêu xa lộ thông tin, nơi mà mọi
người trên thế giới đều có thể truy cập và đọc được các thông tin trên website của
doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần phải đầu tư công sức cho việc quảng
bá, giới thiệu, đăng ký website với các công cụ tìm kiếm để khách hàng dễ dàng tìm
thấy website của doanh nghiệp trong hàng tỷ trang web hiện có.
- Cung cấp dịch vụ tốt hơn cho khách hàng, nhờ đó mà khách hàng sẽ quay
lại với doanh nghiệp.
Thương mại điện tử tạo cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ như du
lịch, thương mại có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, ghi nhận các phản ánh,
thắc mắc của khách hàng, từ đó nắm bắt tốt hơn nhu cầu và nguyện vọng của họ,
giúp cải tiến chất lượng sản phẩm, dịch vụ… làm tăng sự hài lòng của khách hàng.
Đồng thời sẽ làm tăng doanh thu cho doanh nghiệp bởi khách hàng tin tưởng thì sẽ
SV: Trần Tuệ Linh Lớp: QTKD Thương mại 53A

phí quảng cáo, chi phí bán hàng và chi phí giao dịch. Bên cạnh đó các doanh nghiệp
có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, liên lạc với đối tác và khách hàng ở bất kì nơi
nào với chi phí thấp so với phương thức tiếp cận thị trường truyền thống. Những lợi
SV: Trần Tuệ Linh Lớp: QTKD Thương mại 53A
6
Đề án môn học GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
ích này chỉ có được với những doanh nghiệp thực sự nhận thức được giá trị của
thương mại điện tử.
1.3.2 Hạn chế
- Sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ :
Ngày nay, các công nghệ phần cứng & phần mềm thay đổi rất nhanh chóng,
nếu doanh nghiệp thương mại dịch vụ không nắm bắt và ứng dụng kịp các công
nghệ mới sẽ có thể bị tụt hậu và đánh mất lợi thế cạnh tranh. Vì vậy, các doanh
nghiệp phải có bộ phận chuyên trách về quản lý và theo dõi hoạt động website
Thương mại điện tử, nắm bắt tình hình công nghệ và cập nhật, nâng cấp website
thường xuyên cho phù hợp với tình hình phát triển chung.
- Vấn đề bảo mật thông tin và an toàn cơ sở dữ liệu :
Khi kinh doanh trên mạng, doanh nghiệp phải quan tâm nhiều đến vấn đề an
toàn mạng, chẳng hạn như: sự lây lan của virus tin học, sâu internet, hiện tượng hacker
tấn công vào website,… Các hiểm họa này, nhẹ nhất là : gây tê liệt và ngưng hoạt động
của hệ thống trong 1 thời gian, cho đến làm sai lạc dữ liệu, xóa cơ sở dữ liệu, làm hiỏng
máy chủ web không thể khắc phục được… đều gây thiệt hại cho các doanh nghiệp kinh
doanh Thương mại điện tử…Vấn đề này đòi hỏi các doanh nghiệp phải chọn nhà cung
cấp dịch vụ hosting an toàn, có giải pháp bảo mật tốt, thường xuyên sao lưu cơ sở dữ
liệu và phối hợp với nhà cung cấp để khắc phục sự cố kịp thời.
- Rủi ro trong thanh toán qua mạng :
Các website thương mại điện tử cũng có thể gặp phải rắc rối với vấn đề
thanh toán qua mạng. Chẳng hạn, khi doanh nghiệp thương mại bán hàng cho 1
khách hàng với 1 số tài khoản hợp lệ nào đó. Nếu như đây là 1 tài khoản bị đánh
cắp, thì doanh nghiệp có nguy cơ mất trắng số tiền này khi phát sinh kiện tụng.

B2C là loại hình giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng qua các
phương tiện điện tử. Doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng
hóa, dịch vụ tới người tiêu dùng. Người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện
tử để lựa chọn, mặc cả, đặt hàng, thanh toán, nhận hàng. Giao dịch B2C tuy chiếm
tỷ trọng ít (khoảng 10%) trong TMĐT nhưng có sự phạm vi ảnh hưởng rộng. Để
tham gia hình thức kinh doanh này, thông thường doanh nghiệp sẽ thiết lập website,
hình thành cơ sở dữ liệu về hàng hoá, dịch vụ; tiến hành các quy trình tiếp thị,
quảng cáo, phân phối trực tiếp tới người tiêu dùng. TMĐT B2C đem lại lợi ích cho
cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng. Doanh nghiệp tiết kiệm nhiều chi phí bán
hàng do không cần phòng trưng bày hay thuê người giới thiệu bán hàng, chi phí
SV: Trần Tuệ Linh Lớp: QTKD Thương mại 53A
8
Đề án môn học GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
quản lý cũng giảm hơn. Người tiêu dùng sẽ cảm thấy thuận tiện vì không phải tới
tận cửa hàng, có khả năng lựa chọn và so sánh nhiều mặt hàng cùng một lúc.
B2G là loại hình giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước, trong
đó cơ quan nhà nước đóng vai trò khách hàng. Quá trình trao đổi thông tin giữa
doanh nghiệp với cơ quan nhà nước được tiến hành qua các phương tiện điện tử. Cơ
quan nhà nước cũng có thể thiết lập những website tại đó đăng tải thông tin về nhu
cầu mua hàng của các cơ quan nhà nước, tiến hành việc đấu thầu hàng hoá, dịch vụ
và lựa chọn nhà cung cấp trên website. Điều này một mặt giúp tiết kiệm các chi phí
tìm nhà cung cấp, đồng thời giúp tăng cường tính minh bạch trong hoạt động mua
sắm công.
1.5 Cơ sở để phát triển thương mại điện tử
Để phát triển TMĐT trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cần phải
dựa trên một số cơ sở:
- Hạ tầng cơ sở công nghệ:
Thương mại điện tử là hệ quả tất yếu của sự phát triển kĩ thuật số hóa và
công nghệ thông tin mà trước hết là kĩ thuật máy tính điện tử. Vì thế, thương mại
điện tử thực sự có vai trò và hiệu quả đích thực khi đã có một hạ tầng cơ sở công

hỗ trợ thương mại điện tử phổ biến trên thế giới hiện nay vào sản xuất kinh doanh
và tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.
- Cơ sở nguồn nhân lực:
Việc ứng dụng thương mại điện tử vào hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp thương mại dịch vụ làm nảy sinh hai yêu cầu lớn về nhân lực. Thứ nhất là,
mọi người đều phải quen thuộc và có khả năng xử lý thành thạo hoạt động trên
mạng. Thứ hai là, phải có một đội ngũ chuyên gia tin học mạnh, thường xuyên bắt
kịp các công nghệ thông tin mới nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế số hóa nói
chung và thương mại điện tử nói riêng.
Vì vậy, phải có nhân lực am hiểu về lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp,
thành thạo về công nghệ thông tin để triển khai tiếp thị, quảng cáo, xúc tiến, bán
hàng, thanh toán qua mạng và xử lý được các hoạt động phát sinh trên mạng. Từ đó
giúp cho doanh nghiệp có thể chủ động và không bi lệ thuộc trong công việc kinh
doanh khi áp dụng thương mại điện tử.
Nắm bắt được lợi thế cạnh tranh cũng như tính hiệu quả của thương mại điện
tử, nhiều doanh nghiệp thương mại dịch vụ đã chủ động nâng cao nhận thức và đào
tạo cho nhân viên dưới các hình thức khác nhau. Nguồn nhân lực cho thương mại
điện tử vì thế đã có nhiều chuyển biến rõ rệt, đáp ứng phần nào chiến lược chuyển
sang kinh doanh qua mạng của nhiều doanh nghiệp. Tại nhiều doanh nghiệp trên ở
SV: Trần Tuệ Linh Lớp: QTKD Thương mại 53A
10
Đề án môn học GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
Việt Nam, các phòng ban về công nghệ thông tin và kinh doanh đã có đủ kiến thức
để ứng dụng thương mại điện tử ở mức trung bình.
Tuy nhiên, thực tế trong năm qua cho thấy nhiều doanh nghiệp mới quan tâm
tới đào tạo thương mại điện tử ở bề nổi mà chưa có bề sâu. Do đó, khi xây dựng
website của doanh nghiệp hoặc tham gia vào các sàn giao dịch điện tử, những
doanh nghiệp này chưa khai thác hay tận dụng được tối đa các cơ hội kinh doanh
mà Internet đem lại. Nhiều lớp học miễn phí đã được mở để hỗ trợ doanh nghiệp
tiếp cận nhanh chóng với phương thức kinh doanh mới mẻ này, nhưng nhận thức về

phạm, các vấn đề về thuế nội địa và thuế hải quan.
- Rà soát, bổ sung, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan nhằm
bảo đảm toàn bộ hệ thống pháp luật được định hướng chung là hỗ trợ, tạo điều kiện
cho thương mại điện tử phát triển.
- Mặc dù chậm hơn yêu cầu, nhưng tới cuối năm 2008 khung pháp lý cho
thương mại điện tử tại Việt Nam có thể nói đã tương đối hoàn thiện, với nền tảng
chính là những văn bản quy phạm pháp luật thuộc hệ thống Luật Giao dịch điện tử.
Bên cạnh đó, Luật Công nghệ thông tin và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng tạo
nên một hành lang pháp lý khá thuận lợi cho việc triển khai các khía cạnh liên quan
đến hạ tầng công nghệ thông tin của hoạt động ứng dụng thương mại điện tử. Ngoài
Luật và những Nghị định khung, xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn phát triển, các
cơ quan quản lý nhà nước cũng đang tiếp tục nghiên cứu để ban hành các văn bản
dưới Luật nhằm điều chỉnh từng lĩnh vực ứng dụng thương mại điện tử đặc thù của
đời sống kinh tế - xã hội.
Theo một số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, pháp luật Việt Nam đã dần
gỡ bỏ các rào cản cho thương mại điện tử phát triển, hoạt động của doanh nghiệp dễ
dàng hơn, thông suốt hơn và doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng không còn lo
ngại xảy ra vướng mắc. Đa phần cũng nhận định rằng, việc đẩy mạnh và hoàn thiện
cơ sở pháp lý cho hoạt động thương mại điện tử kết hợp với việc các chủ thể tham
gia thương mại điện tử làm quen và tuân theo những quy tắc quốc tế sẽ thúc đẩy
thương mại điện tử tại Việt Nam tiếp tục phát triển nhanh và sôi động hơn trong
thời gian tiếp theo, hội nhập dần với thương mại điện tử quốc tế.
Nhờ có có luật về TMĐT công nhận tính pháp lý của các chứng từ điện tử,
các hợp đồng điện tử ký qua mạng, luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ sự riêng
tư, bảo vệ người tiêu dùng…mà các giao dịch thương mại điện tử của doanh nghiệp
được đảm bảo. Hạ tầng pháp lý của thương mại điện tử cũng bảo gồm các vấn đề về
SV: Trần Tuệ Linh Lớp: QTKD Thương mại 53A
12
Đề án môn học GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
xử lý các hành vi phá hoại, hành vi cản trở hoặc gây thiệt hại cho hoạt động thương

SV: Trần Tuệ Linh Lớp: QTKD Thương mại 53A
13
Đề án môn học GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
nhiên, những vi phạm liên quan đến thông tin cá nhân cũng ngày một nhiều hơn,
gây tâm lý e ngại cho các cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch thương mại điện
tử. Vì vậy, cho đến thời gian gần đây, khái niệm bảo vệ thông tin cá nhân và quyền
riêng tư về thông tin cá nhân trên môi trường điện tử là một vấn đề rất đáng lưu tâm
tại Việt Nam. Hệ thống pháp luật hiện nay vẫn còn thiếu những quy định, chế tài cụ
thể về bảo vệ thông tin cá nhân trên môi trường mạng. Bên cạnh đó, người dân,
doanh nghiệp và cả các cơ quan quản lý nhà nước vẫn còn nhiều bỡ ngỡ với khái
niệm này. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và
thương mại điện tử, đặc biệt là sự xâm nhập sâu rộng của Internet vào mọi mặt đời
sống xã hội, những tác động tiêu cực của việc sử dụng thông tin cá nhân bất hợp
pháp đã ngày càng trở nên rõ ràng hơn. Thực tế này đã khiến cho vấn đề bảo vệ
thông tin cá nhân trở thành một chủ đề lớn, thu hút sự quan tâm rộng rãi của các cơ
quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và cả xã hội.
2 Nội dung phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp kinh doanh dịch
vụ
2.1 Xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng thương mại điện tử
Thiết lập cơ sở hạ tầng mạng truyền thông thường xuyên, dễ tiếp cận, và chi
phí thấp trên cơ sở các tiêu chuẩn mở nhằm đảm bảo tính liên thông và tính liên tác.
Một trong các cân nhắc cơ bản của TMĐT là tính thường xuyên, hiện hữu
toàn cầu và tính dễ tiếp cận với cơ sở hạ tầng truyền thông. Tiếp cận và sử dụng cơ
sở hạ tầng này là chức năng của năng lực mạng ở cấp quốc gia, khu vực, và toàn
cầu; của tính thường hữu và chi phí của các khí cụ truy nhập (điện thoại, máy tính
điện tử cá nhân, modem v.v.); và tính thường hữu của kỹ năng kỹ thuật truy cập.
Các dịch vụ viễn thông cơ bản phải thường hữu đối với đa số dân chúng và
chi phí phải thấp là điều kiện tiên quyết căn bản của TMĐT. Do đó, trước hết phải
có hạ tầng cơ sở viễn thông cơ bản. Vì chi phí cao có thể cản trở việc truy nhập vào
mạng thông tin, nên giá dịch vụ viễn thông, cùng với giá của phần cứng và phần

kinh doanh của các doanh nghiệp, trong những năm qua các Sở Công thương đã đẩy
mạnh tuyên truyền phổ biến pháp luật và kỹ năng ứng dụng TMĐT, đồng thời triển
khai nhiều hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng trang web, xây dựng thương
hiệu trực tuyến, tham gia sàn TMĐT nhằm giúp các doanh nghiệp kinh doanh dịch
vụ thu hút được khách hàng truy cập tim kiếm thông tin. Qua đó đã giúp các doanh
nghiệp quảng bá thương hiệu của mình và nhiều doanh nghiệp đã ký hợp đồng với
các bạn hàng trong và ngoài nước, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp và hoạt động xuất khẩu hàng hóa của tỉnh tăng khá.
SV: Trần Tuệ Linh Lớp: QTKD Thương mại 53A
15
Đề án môn học GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
Ngoài ra doanh nghiệp cũng nên tôt chức các khóa tập huấn, trang bị kiến
thức, cập nhật những thông tin mới có liên quan trên sàn giao dịch; phối hợp với
Trung tâm phát triển Thương mại điện tử điều tra, khảo sát, thu thập tình hình tại
các doanh nghiệp như thông tin ban đầu của doanh nghiệp (bao gồm thông tin sản
phẩm, hình ảnh sản phẩm, tính năng sản phẩm ) để xây dựng cơ sở dữ liệu của sàn
giao dịch TMĐT.
Để củng cố và nâng cao nhận thức về pháp luật trong hoạt động TMĐT,
đồng thời năng cao hiệu quả ứng dụng TMĐT cho cộng đồng doanh nghiệp trên địa
bàn tỉnh, nhiều lớp tập huấn các giảng viên đến từ Cục thương mại điện tử & công
nghệ thông tin, Trung tâm Phát triển thương mại điện tử đã cung cấp đến các học
viên nhiều kiến thức bổ ích từ cơ bản đến nâng cao, giúp học viên nắm bắt, hiểu rõ
và từng bước tiếp cận, ứng dụng thương mại điện tử trong phát triển hệ thống
Booking Engine hỗ trợ cho công tác ứng dụng và triển khai E-marketing cho các
khách sạn & Resort tại Việt Nam; hệ thống phân phối hàng trực tuyến; kế hoạch,
chiến lược xây dựng website; quản trị nội dung website doanh nghiệp du lịch; nâng
cao hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua phần mềm quản lý khách sạn trên nền
Web; Facebook Marketing- chiến lược thu hút khách hàng du lịch…
2.3 Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực thương mại điện tử
Để có thể phát triển được thương mại điện tử trong các doanh nghiệp kinh

cho các hàng hóa, dịch vụ chủ lực của Việt Nam; xây dựng đồng bộ giải pháp đáp
ứng đơn hàng trực tuyến để các doanh nghiệp triển khai ứng dụng; xây dựng các
ứng dụng dịch vụ công trực tuyến hỗ trợ cho các cơ quan quản lý nhà nước và
doanh nghiệp.
Cụ thể, cần có những công ty chuyên nghiệp về tư vấn và cung cấp các giải
pháp Thương mại điện tử cho doanh nghiệp, gồm các dịch vụ như:
- Đào tạo, huấn luyện về kiến thức Thương mại điện tử.
- Tư vấn cho các doanh nghiệp và các tổ chức về các giải pháp khai thác
thương mại điện tử:
• Tư vấn cho doanh nghiệp các giải pháp thương mại điện tử trong các hoạt
động kinh doanh như: marketing, bán hàng, hỗ trợ khách hàng, mua nguyên vật
liệu, quản lý quan hệ với khách hàng, quản lý nội bộ
• Tư vấn cho các tổ chức và cá nhân xây dựng chiến lược và triển khai các
mô hình B2B, B2C, B2G
SV: Trần Tuệ Linh Lớp: QTKD Thương mại 53A
17
Đề án môn học GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
• Tư vấn về các vấn đề gặp phải trong quá trình thực hiện thương mại điện
tử như: hoạt động của website, thanh toán qua mạng, an ninh mạng, marketing qua
mạng, quản lý khách hàng, khảo sát nhu cầu, tạo cộng đồng
- Cung cấp giải pháp ứng dụng TMĐT trong hoạt động của doanh nghiệp
và các giải pháp kinh doanh trực tuyến.
2.5 Tư vấn xây dựng kế hoạch ứng dụng thương mại điện tử
Đối với những doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cần sự hợp tác chặt chẽ của
các đối tác trong tiến trình tạo giá trị, Internet giúp họ tối ưu hoá tiến trình phối hợp
nghiên cứu, thiết kế, quản lý nguyên vật liệu, tiến trình mua hàng, tiến trình xử lý
công việc trong công ty nhờ thông tin khi thay đổi sẽ tự động cập nhật tức thời
xuyên suốt hệ thống.
Như vậy, việc ứng dụng TMĐT vào chiến lược phát triển sẽ nâng cao lợi thế
cạnh tranh của công ty thông qua việc nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường giá

phương cần ưu tiên hợp tác với các nước tiên tiến về Thương mại điện tử và có
quan hệ thương mại mật thiết với ta như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Singapore.
2.7 Nâng cao năng lực quản lý và tổ chức hoạt động phát triển thương
mại điện tử
TMĐT đang phát triển với tính chất ngày càng phức tạp. Để cơ quan quản lý
nhà nước có thể can thiệp ngăn chặn kịp thời những loại hình kinh doanh phi pháp
đưới danh nghĩa TMĐT, đòi hỏi phải có một văn bản pháp lý đủ mạnh và có tầm
bao quát lớn, đặt nền tảng cho việc xây dựng cơ chế cũng như tổ chức triển khai các
hoạt động thực thi pháp luật và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển TMĐT.
Để nâng cao hiệu lực thực thi của quy định pháp luật, các biện pháp chế tài,
xử phạt là một trong những biện pháp thường được nhắc đến. Hiện Bộ Công
Thương cũng đang soạn thảo Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt
động thương mại, trong đó có một mục riêng về “Hành vi vi phạm trong lĩnh vực
TMĐT”. Việc ban hành các biện pháp chế tài này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước đối với lĩnh vực còn mới mẻ và tương đối phức tạp này.
3 Những nhân tố tác động đến sự phát triển thương mại điện tử ở các doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ
Phát triển thương mại nói chung là hoạt động hết sức quan trọng để giúp các
quốc gia có điều kiện phát triển và tăng cường khả năng hợp tác với nước ngoài. Từ
nhiều năm nay, Đảng ta đã chủ trương phát triển thương mại trong nước cũng như
thương mại với nước ngoài để tạo tiền đề cho hoạt động hội nhập quốc tế.
SV: Trần Tuệ Linh Lớp: QTKD Thương mại 53A
19
Đề án môn học GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
Để thực hiện chủ trương trên, Chính phủ đã tạo mọi điều kiện để các doanh
nghiệp nói chung và các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nói riêng có thể ứng
dụng hiệu quả các phương thức kinh doanh TMĐT.
Tuy nhiên các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ ở Việt Nam khi áp dụng
TMĐT trong điều kiện quốc tế và trong nước ngoài những thuận lợi thì cũng gặp

20
Đề án môn học GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
mại khu vực đang trở thành tiền đề quan trọng cho việc hình thành một thị trường tự
do toàn cầu.
Thông qua việc thực hiện khu vực mậu dịch tự do sẽ giúp cho các doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ trong nước có thêm sức mạnh, có thêm điều kiện thuận
lợi để vươn ra thị trường thế giới. Mặt khác, liên kết khu vực sẽ giúp cho các doanh
nghiệp ở các nước thành viên có thể liên kết với nhau để cạnh tranh với các đối tác
là các công ty, các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới.
Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ ở Việt Nam cần
quan tâm và ứng dụng phát triển TMĐT nhằm chiếm lĩnh thị trường trong khu vực,
từ đó vươn ra thị trường các nước khác.
3.1.3 Thế giới đang cần tiến tới một nền kinh tế trí thức, nền kinh tế số
Đây là nền kinh tế mà theo đó hàm lượng tri thức trong mỗi sản phẩm hàng
hoá và dịch vụ đạt mức cao. Điều này là tiền đề quan trọng cho việc ứng dụng và
phát triển phương thức kinh doanh TMĐT ở mỗi doanh nghiệp. Như vậy, bối cảnh
quốc tế đang có nhiều nhân tố thuận lợi cho việc ứng dụng và phát triển TMĐT ở
các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ.
Như vậy bối cảnh quốc tế đang có nhiều nhân tố thuận lợi cho việc ứng dụng
và phát triển TMĐT nhưng cũng đặt ra cho các doanh nghiệp kinh doanh ở nước ta
những thách thức không nhỏ. Việt Nam là nước đang phát triển, khoa học kĩ thuật
và công nghệ đang ở trình độ thấp. Để đáp ứng được những đòi hỏi về việc ứng
dụng và phát triển TMĐT, Chính phủ và các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ ở
Việt Nam cần một sự nỗ lực lớn thì mới có thể ứng dụng và phát triển thành công
phương thức kinh doanh này.
3.2 Các nhân tố trong nước
3.2.1 Thị trường trong nước rất sôi động, lưu thông hàng hoá thông suốt và
tăng trưởng.
Những năm gần đây các doanh nghiệp đã sử dụng nhiều phương thức kinh
doanh để thực hiện hoạt động lưu thông trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp đã

ra cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế, nâng cao hiệu quả, tăng lợi nhuận, giảm chi
phí, duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh dựa trên các ứng dụng công nghệ thông
tin. Vì vậy những lợi ích mà TMĐT mạng lại cho các doanh nghiệp thúc đẩy các
doanh nghiệp ứng dụng TMĐT vào hoạt động kinh doanh dịch vụ của mình.
3.2.5 Nhân lực Việt Nam tiếp thu công nghệ mới nhanh, đặc biệt là CNTT
Yếu tố con người luôn là yếu tố quyết định cho sự thành công của bất cứ
hoạt động nào. Nhân lực cho sự phát triển TMĐT bao gồm 2 bộ phận: nhân lực về
nghiệp vụ, nhân lực về kĩ thuật.
SV: Trần Tuệ Linh Lớp: QTKD Thương mại 53A
22
Đề án môn học GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
- Nhân lực về nghiệp vụ: đó là bộ phận sẽ ứng dụng TMĐT vào hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bộ phận này phải am hiểu kiến thức về
nghiệp vụ thương mại, ngoại thương, sử dụng tốt ngoại ngữ trong giao dịch với đối
tác nước ngoài và am hiểu các kiến thức về TMĐT…
- Nhân lực kỹ thuật: là bộ phận kỹ thuật đảm bảo cho hệ thống công nghệ
thông tin hoạt động ổn định, có khả năng khắc phục các sự cố và phát triển các tiện
ích, công cụ kỹ thuật mới đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của hoạt động giao dịch
thông qua các phương tiện điện tử.
Thương mại điện tử là một công cụ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực
cạnh tranh trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đã hội nhập toàn diện vào nền kinh
tế thế giới. Tuy nhiên, muốn ứng dụng có hiệu quả thương mại điện tử thì nguồn
nhân lực đóng vai trò then chốt. Do đó, nguồn nhân lực có chất lượng cao, có khả
năng quản lý các hoạt động liên quan đến thương mại điện tử là yếu tố rất cần thiết
trong phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nói riêng.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH VỤ Ở VIỆT NAM
1 Sự phát triển của thương mại điện tử trong các doanh nghiệp kinh doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status