1
Đặt vấn đề
Ung thư hạ họng là một u ác tính xuất phát từ lớp biểu mô Malpighi của
niêm mạc bao phủ hạ họng. Ung thư vùng hạ họng và thanh quản chiếm
khoảng 5 - 6 % trong tổng số các loại ung thư nói chung và đứng thứ hai trong
các ung thư vùng đầu mặt cổ sau ung thư vòm họng [1]. Theo Xue - ying Deng
ung thư hạ họng chiếm khoảng 20% trong các ung thư đường hô hÊp và tiêu
hoá trên [62]. Ở Pháp ung thư hạ họng chiếm khoảng 12,15% tổng số các ung
thư của đường ăn, đường thở trên và chiếm 1% trong tổng số các loại ung thư
[14]. Ở Mỹ ung thư hạ họng chiếm khoảng 5 - 10% trong tổng số các ung thư
đường tiêu hoá trên, khoảng 0,5% trong tổng số các khối u ác tính, khoảng 24%
các trường hợp vùng hạ họng, thanh quản, hàng năm số ca mắc mới là
1,22/100.000 nam giới [22][46][43]. Ở Anh, sè ca mắc mới là 1/100.000 nam
giới [62].
Ở Việt Nam, cũng như một số nước ( Pháp, Mỹ, Trung Quốc ) ung thư
hạ họng gặp ở nam nhiều hơn ở nữ, tỷ lệ nam/ nữ là 5/1. Nhóm tuổi hay gặp
nhất là khoảng 40 - 60 tuổi [17], [43]. Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới việc
hình thành ung thư hạ họng bao gồm: nghiện rượu, hút thuốc lá, các viêm
nhiễm mạn tính vùng hạ họng. Và gần đây đã phát hiện ung thư vùng hạ họng
có liên quan chặt chẽ với hội chứng trào ngược dạ dày- thực quản [17],
[43][46][51].
Chẩn đoán ung thư hạ họng dựa vào: chẩn đoán lâm sàng, chẩn đoán
mô bệnh học, đặc biệt là nội soi phóng đại, chẩn đoán hình ảnh - CLVT, chẩn
đoán giai đoạn TNM (Khối u, di căn hạch, di căn xa). Điều trị bệnh chủ yếu là
phẫu thuật, xạ trị, hoá trị, nhưng tiên lượng xấu bởi hầu hết các bệnh nhân đều
đến ở giai đoạn muộn. Phát hiện sớm ung thư hạ họng vẫn còn rất khó khăn,
do các triệu chứng lâm sàng ở giai đoạn đầu thường kín đáo, cấu trúc giải
3
Chương 1
Tổng quan tài liệu
1.1. Lịch sử nghiên cứu
Vào những thập niên đầu của thế kỷ XX Isamber và Klishaber đã bắt
đầu phân loại khối u ở bên trong và bên ngoài của thanh quản [26][43][46].
Năm 1878, Cheever người đầu tiên thực hiện phẫu thuật mở họng
đường bên kết hợp với việc cắt xương hàm dưới lấy u vùng hạ họng [46].
Năm 1901, Most mô tả hệ thống bạch huyết vùng họng là cơ sở cho việc
nạo vét hạch cổ trong các ung thư vùng đầu cổ (vùng hạ họng và thanh quản) [19].
Năm1904, Sebileau phát triển kỹ thuật mở họng phía sau bên sụn giáp lấy u
để điều trị ung thư hạ họng [46].
Năm 1906, lần đầu tiên thực hiện việc lấy bỏ hạch bạch huyết vùng cổ
cả khối trong ung thư di căn hạch cổ được Crile mô tả. Việc thực hiện phẫu
thuật này được biết như là một phẫu thuật nạo vét hạch cổ tiệt căn [15].
Năm 1913, Trotter phát triển thêm một bước kỹ thuật mở họng đường
bên lấy u vùng hạ họng [26][46].
Năm 1960 Ogura và cộng sự đưa ra kết luận rằng các khối u ở vùng hạ
họng tuy nhỏ nhưng cũng phải cắt bỏ rộng rãi do tính chất xâm lấn của u
[42][46].
Năm 1962, Andre, Pinel, Laccourreye mô tả kỹ thuật cắt thanh quản -
hạ họng bán phần phía trên sụn nhẫn để điều trị ung thư hạ họng [43][46].
Năm 1965 Mallen báo cáo kết quả sống 5 năm ở những bệnh nhân ung
thư hạ họng được điều trị bằng phẫu thuật bảo tồn [30]. Ogura phát triển thêm
kỹ thuật cắt thanh quản - hạ họng bán phần mở rộng [43][46].
Năm 1992 Kirchner và Owen đánh giá kết quả vị trí thường gặp và giai
đoạn T của bệnh nhân ung thư hạ họng [26]. 5
Năm 1999 Nguyễn Đình Phúc và cộng sự nghiên cứu “Đặc điểm lâm
sàng của ung thư thanh quản và hạ họng- thanh quản qua 132 bệnh nhân tại
khoa B1 viện TMH trung ương từ 1995 -1998” [8].
Năm 2003 Lê Anh Tuấn Nghiên cứu về “Hình thái lâm sàng và mô
bệnh học của hạch cổ trong ung thư thanh quản và hạ họng” [16]
Năm 2005 Nguyễn Đình Phúc và cộng sự nghiên cứu “Đặc điểm lâm
sàng và kết quả điều trị phẫu thuật của ung thư thanh quản- hạ họng tại khoa
ung bướu bệnh viện TMH trung ương từ 2000 - 2004” [9].
Năm 2009 Nguyễn Đình Phúc nghiên cứu “Ung thư thanh quản và hạ
họng tổng kết 1030 bệnh nhân của 54 năm từ 1955- 2008 tại bệnh viện TMH
trung ương” [10].
Cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào về ứng dụng của chụp cắt
lớp vi tính để đánh giá về lan tràn tổn thương thực thể của ung thư hạ họng.
1.2. Giải phẫu ứng dụng trong ung thư hạ họng [6] [7] [14] [17] [19] [26]
[28] [37] [43] [46] [51].
Hạ họng nằm ở tầng dưới cùng của họng, là ngã tư của đường hô hấp
và tiêu hoá. Hạ họng ở giữa thanh quản và cột sống, về chiều cao nó đi từ bờ
trên của xương móng, nếp thanh thiệt tương ứng với bờ dưới đốt sống cổ 3
đển bờ trên của sụn nhẫn tương ứng với đốt sống cổ 6.
Hạ họng được chia thành ba vùng giải phẫu: phía trước là vùng sau
nhẫn phễu, phía sau là thành sau họng (cũng là phần mềm phủ mặt trước các
đốt sống từ cổ 4 đến cổ 6), hai bên là máng họng - thanh quản và xoang lê.
7
+ Ở thành trước có các cấu trúc ở bờ (lề) của lối vào thanh quản và mặt
sau của thanh quản.
+ Ở thành bên có cơ khít họng dưói và xoang quả lê. Xoang này có
được giới hạn ở giữa bởi nếp phễu - thanh thiệt và ở phía bên bởi mặt trong
của sụn giáp và màng giáp - móng
+ Liên quan trực tiếp với hạ họng ở mức thanh quản gồm có động
mạnh cảnh chung, tĩnh mạch cảnh trong va dây thần kinh X, còn liên quan
của thành sau hạ họng ngoài cơ khít họng còn có gân trước cột sống và thân
của các đốt sống cổ từ C3 đến C6.
- Biểu mô lót là biểu mô vảy xếp lớp không sừng hoá [5].
1.2.2. Xoang lê
Ung thư hạ họng có tới 80- 85% [17][19][26][28][35][43][46] là xuất
phát từ xoang lê. Do vậy chúng tôi sẽ mô tả chi tiết hơn về giải phẫu vùng
xoang lê và các cấu trúc liên quan.
Định nghĩa:[19] Xoang lê liên tiếp với máng bên họng miệng, hạ họng
thanh quản, là một vùng hõm xuống do niêm mạc ở khoảng hạ họng chũng
xuống tạo thành, xoang lê ở kèm hai bên của hệ thống thanh quản.
Đây là một vùng khó phân giới hạn, xoang lê nằm ở khoảng giữa của
máng họng thanh quản, máng này đi từ đáy lưỡi đến miệng thực quản.
Xoang lê có giới hạn như sau:
Ở trên, giới hạn là bờ dưới của nếp họng - thanh thiệt, nếp này đi từ mặt
bên của họng đến bờ ngoài của thanh thiệt, vào khoảng gặp nhau của hai phần
ba trên và phần ba dưới của bờ ngoài thanh thiệt.
Ở dưới, giới hạn là bờ dưới của nếp nhẫn - họng Betz đi từ mặt bên của
họng (về phía dưới) cho đến bờ ngoài sụn nhẫn: nếp này nhìn rõ nhiều hay Ýt
tuỳ theo từng độ phát triển của các bờ dưới niêm mạc.
Nói chung, giới hạn của xoang lê có thể rõ rệt nhiều hay Ýt mà có khi
rất khó định một giới hạn thật chính xác. Ngoài ra, hai xoang lê phải và trái
không giống nhau hoàn toàn, thường một bên to, bên nhỏ (thường bên trái to
miệng thực quản.
Cấu trúc: các thành của xoang lê được phủ bởi niêm mạc, chúng dính
vào các các mô xơ, sụn với các mức độ khác nhau.
1.2.2.1. Thành ngoài: 9
Hình thang có bốn bờ: Trước, trên, dưới, sau.
Bờ trước: Hơi chếch xuống dưới và ra sau, bờ này hợp với bờ trước của
thành trong xoang lê tạo nên góc trước của xoang lê.
Bờ trên: Không thẳng, hơi lõm xuống dưới và ra sau, gồm có hai đoạn:
- Đoạn trước: chiếm một phần ba trước của bờ trên, tương ứng với bê
dưới của nẹp họng thanh thiệt.
- Đoạn sau: Hầu như thẳng, chiếm hai phần ba sau của bờ trên, hơi
chếch xuống dưới và ra trước, tương ứng với nửa sau của sừng lớn xương
móng, bờ trên đo trung bình được 15 - 20 mm.
Bờ dưới: Đo khoảng 5 - 7 mm, chếch ra trước và vào trong, tương ứng
với đáy của xoang lê.
Bê sau: Là bờ dài nhất, từ 2,5 - 3cm chiếm toàn bộ chiều cao của xoang
lê. Có thể phân biệt được hai phần:
- Đoạn trên: Ngắn, chiếm 1/5 chiều cao toàn bộ, tương ứng với bờ sau
của dây chằng giáp bên, dây chằng này giới hạn ở phía sau có màng giáp
móng. Ngoài ra đoạn ngắn của bờ sau mặt ngoài xoang lê còn tương ứng với
sừng lớn của sụn giáp.
- Đoạn dưới: Dài hơn, gồm 4/5 chiều cao toàn bộ của xoang lê, tương
ứng với bờ sau của cánh sụn giáp
Hướng của thành ngoài:Thành này hơi chếch ra trước, vào trong, toàn
bộ hơi lõm vào trong. Ngoài ra thành này có hướng chếch xuống dưới, vào
trong đi từ trên xuống dưới.
Liên quan trực tiếp: Tất cả thành ngoài của xoang lê được cấu tạo bởi
trước của thành ngoài, để tạo lên góc trước của xoang lê. Bờ sau, chếch xuống
dưới ra sau, tương ứng với nếp phễu thanh thiệt. Bờ sau-dưới, ảo, nối liền hai
đầu của hai bờ trước và sau, tương ứng với góc sau trong của xoang lê.
* Diện dưới:
Hơi chếch xuống dưới và ra ngoài, hẹp hơn tam giác trên, các bờ của
tam giác dưới không rõ bằng tam giác trên. Các bờ trước dưới thì rất giới hạn
và lẫn hoàn toàn với đáy của xoang lê. Bờ sau tương ứng với bờ trước của sụn
phễu, phần trên của bản nhẫn. Bề rộng trung bình ở phần trên từ 13 -17mm, ở
phần dưới bề rộng giảm dần chỉ còn 8 - 12mm. 11
Nếu ta so sánh diện của hai thành trong và ngoài của xoang lê thì thành
trong hẹp hơn cả về diện tích và bề ngang.
* Liên quan ở diện tam giác trên từ nông vào sâu:
- Niêm mạc xoang lê.
- Mô liên kết Ýt lỏng lẻo hơn ở thành ngoài, điều đó cần chú ý khi bóc
tách niêm mạc.
Các bó của cơ giáp phễu toả ra từ trước ra sau, từ ngoài vào trong, từ
trên xuống dưới
Các bó của nếp phễu thanh thiệt, có cùng một hướng với các bó trên,
nhưng cao hơn và ở phía trong hơn
Màng đàn hồi của thanh quản, khung thanh quản, có bờ trên tạo nên
nếp phễu thanh thiệt.
* Liên quan ở diện tam giác dưới từ nông vào sâu: Các liên quan hoàn toàn
là cơ và sụn.
- Niêm mạc đáy xoang lê (dính chắc vào thành ngoài thanh quản).
- Lớp dưới niêm mạc là mô liên kết khá chắc ở từng chỗ, nhìn chung thì
Ýt lỏng lẻo hơn ở nơi khác, bóc tách khó khăn hơn.
- Các sợi tận cùng của cơ giáp phÔu, nhẫn phễu bên có xu hướng chếch
).
Giới hạn trên liên quan theo thứ tự từ ngoài vào trong:
- Thành trong của nửa sau của sừng lớn xương móng.
- Bờ dưới của nếp họng thanh thiệt, chếch xuống dưới, ra trước, ra ngoài.
- Góc trước của chữ V liên quan đến chỗ tiếp nối của các dây chằng
họng - thanh thiệt và phễu - thanh thiệt.
- NÕp phễu thanh thiệt, chếch ra sau, vào trong, xuống dưới
1.2.2.4. Giới hạn dưới:
Khó phân biệt, hẹp hơn nhiều so với giới hạn trên, được nhận định bởi
nếp Betz. Nếp này có đường đi khá phức tạp. Bắt đầu chếch xuống dưới và ra
ngoài, bắt chéo liên tiếp phần dưới của khoang liên phễu, góc sau bên của bản
nhẫn. Tiếp tục theo hướng chếch lên trên, ra ngoài, tận cùng ở bờ trên của cánh
giáp. Trong trường hợp không có nếp Betz, giới hạn dưới của xoang lê liên tiếp
với rãnh liên nhẫn giáp, để tận cùng ở đường mở vào miệng thực quản.
1.2.2.5. Liên quan xa
Xoang lê liên quan với các cơ quan lân cận, đặc biệt phía trong là
thanh quản, phía ngoài vùng cổ trước bên, phía sau vùng trước cột sống.
* Liên quan với thanh quản: 13 Hình 1.4: Xoang lê: Các liên quan của xoang lê với thanh quản [6].
Xoang lê, liên quan qua trung gian của thành ngoài với các yếu tố khác
nhau của vùng trước bên cổ. Từ nông vào sâu
- Da, tổ chức dưới da, cơ bám da cổ.
- Thành ngoài của xoang lê chiếu ra bên ngoài thành một hình vuông giới
hạn như sau: phía trên là một đường ngang chạy 3.5 cm ở dưới góc hàm. Phía
dưới là một đường song song, cách 3,5 cm ở phía dưới. Phía trước là một đường
thẳng góc với hai đường trên, cách đường giữa 3,5 cm. Phía sau là một đường
thẳng góc tương tự, đi qua đầu sau của sừng lớn xương mãng.
- Cân cổ nông, bao quanh cơ ức đòn chũm.
- Lớp cơ dưới móng nằm trong cân cổ giữa
* Liên quan trực tiếp ở phía ngoài xoang lê
- Ở tầng màng của xoang lê: Đó là khoảng giáp móng bên Poivier,
giới hạn bởi:
+ Phía ngoài: Màng giáp móng
+ Phía trên: Sừng lớn xương móng
+ Phía dưới: Bờ trên sụn giáp
+ Phía trước: Cơ giáp móng
Trong khoảng Poivier có cuống thanh quản trên, từ trên xuống là: Động
mạch thanh quản trên, tĩnh mạch thanh quản trên, thần kinh thanh quản trên.
- Ở tầng sụn của xoang lê: Có liên quan với các thành phần sau: Cơ
giáp móng, ức móng, sợi tận cùng lan toả của cơ siết họng dưới, dây thần kinh
thanh quản ngoài, động mạch thanh quản ngoài.
* Liên quan ở phía trong và phía sau của xoang lê: Có các liên quan chính sau: 15
- Bình diện tĩnh mạch :Tĩnh mạch cảnh trong, tiếp nhận ở phía sau thân
giáp- lưỡi - mặt nó tương ứng với tầng màng của xoang lê
- Dãy hạch cảnh trong, với các hạch cảnh ngoài và trước.
lát tầng Manpighi. Ở phía sau, niêm mạc phủ các cơ trước sống, niêm mạc
mang tính chất giống ở họng mũi. Ở phía trước tương ứng với thanh quản,
niêm mạc phủ xoang lê, niêm mạc có hình thái khác, niêm mạc ở vùng này có
hình máng hẹp và gần thẳng đứng, toả ra từ mỗi bên của ống thanh quản, tự
gấp lại theo nhiều hướng giống như một cái màng rộng hơn là bình diện trên
đó nó dính vào, và chỉ dính vào bình diện đó bởi một mô tế bào rất lỏng lẻo
(Sappey)
- Niêm mạc dính vào hai thành của xoang lê khác nhau.
+ Thành ngoài, thành giáp trạng của xoang lê. Bình diện ở dưới thì khá
chắc, ở trên cao là màng giáp trạng, dưới thấp là cánh sụn giáp dễ bóc tách.
+ Thành trong của xoang lê niêm mạc dính chắc hơn vào các bao rất
mỏng của các cơ thanh quản.
- Niêm mạc của xoang lê (thành thanh quản) có sự bám dính chắc hơn
vào các bao rất mỏng của các cơ thanh quản, khó bóc tách. 17
- Có sù bao phủ khác nhau rõ rệt ở thành trong với thành ngoài, mặc dù
cấu trúc có sự thống nhất.
Niêm mạc xoang lê có cấu trúc gồm có hai lớp: lớp biểu mô và lớp đệm.
* Cấu tróc
- Lớp biểu mô: Niêm mạc phủ xoang lê vẫn mang tính chất của niêm
mạc miệng là biểu mô lát, loại Manpighi.
- Lớp đệm: Cấu tạo tương tự nh- niêm mạc miệng. Bề mặt nhẵn có
nhiều gai đơn hoặc kép.
+ Gồm các sợi của mô liên kết, các sợi đàn hồi, các nang kín.
- Tuyến ở họng
+ Niêm mạc xoang lê chứa các tuyến hình chùm kích thước nhỏ có
hình cầu hay hình tấm.
+ Các tuyến ở các mức độ sâu khác nhau của niêm mạc.
hệ thống của thực quản.
- Các thân lớn nhỏ bắt nguồn từ hai hệ thống kể trên tách khỏi họng ở
ba điểm:
+ Phía sau, trên: Các bạch mạch sau.
+ Hai bên: Bạch mạch bên.
+ Phía trứơc dưới: Bạch mạch trước và dưới.
- Bạch mạch của xoang lê đổ vào các bạch mạch bên rồi đi lên cách
hạch cổ sâu, đặc biệt là tới các hạch dọc theo bờ dưới cơ nhị thân.
- Phần dưới của xoang lê cho các bạch mạch đi tới các bạch mạch
trước, dưới cổ họng. Các bạch mạch này đi qua màng giáp gần chỗ động
mạch thanh quản trên rồi đổ vào các bạch mạch tương ứng của thanh quản rồi
đổ vào các hạch cảnh trên và giữa của chuỗi cảnh trong.
Bạch mạch của xoang lê thuộc hệ thống bạch mạch của họng, các bạch
mạch này sẽ đổ chủ yếu vào các hạch dưới cơ nhị thân (Hạch Kuttner) và các
hạch trên, giữa của chuỗi cảnh trong.
1.2.3. Vùng sau nhẫn phễu và miệng thực quản
1.2.3.1. Vùng sau nhẫn phễu
Tương ứng với mặt sau thanh quản, niêm mạc phủ từ cao xuống thấp
gồm: mặt sau sụn phễu, cơ liên phễu và mặt sau của mặt nhẫn. Niêm mạc 19
vùng này tương đối dầy và có nhiều nếp nhăn. Niêm mạc ở giữa sụn phễu Ýt
khi là nơi xuất phát của u [19][26].
1.2.3.2. Miệng thực quản
Tương ứng với bờ dưới sụn nhẫn, ngang tầm đốt sống cổ 6. Miệng thực
quản nối tiếp với phần dưới của hạ họng và là gianh giới hạ họng với thực
quản, có cơ vòng tương ứng với cơ nhẫn họng, cơ này chỉ mở ra khi nuốt.
Theo trường phái Anh thì ung thư miệng thực quản thuộc phạm vi hạ
họng. Về giải phẫu học vùng sau sụn nhẫn (postericoid area) còn gọi là gianh
trước bởi thanh thiệt, hai bên bởi hai nẹp phễu thanh thiệt, phía sau bởi hai sụn
phễu và mép sau. Nẹp phễu thanh thiệt là gianh giới giữa thanh quản và hạ họng
+ Phần dưới là mặt sau của sụn phễu và sụn nhẫn.
Hai thành bên: Là phần niêm mạc được nâng đỡ bởi xương móng,
màng giáp móng và mặt trong sụn giáp, là hai cái máng để đứng, đi từ nẹp
họng thanh thiệt xuống đến bờ trên sụn nhẫn. Máng gồm có hai bờ, bờ ngoài
là cánh của sụn giáp, bờ trong là thành bên của thanh quản. Hai máng này
mang tên là máng họng thanh quản hay xoang lê. Tiền đình thanh quản được
ngăn cách với xoang lê bởi nẹp phễu thanh thiệt, xoang lê là vị trí hay gặp ung
thư nhất. Thành sau liên tiếp với thành sau họng miệng nằm phía trước ba đốt
sống cổ 4, 5, 6 .
Hạ họng là một cái ống mềm, bình thường xẹp và chỉ phình ra khi nào
có thức ăn đi qua. Hạ họng được nối liền với thực quản bằng một cái eo hẹp
gọi là miệng thực quản ngang mức đốt sống cổ 6. Dưới niêm mạc của xoang
lê có nhánh trong của thần kinh thanh quản trên đội niêm mạc lên, tạo nên nếp
thần kinh thanh quản [13].
- Ở trên liên tiếp với phần họng miệng.
- Ở duới tiếp nối với thực quản và là chỗ hẹp nhất của hầu.
Ung thư hạ họng 80 - 85 % là xuất phát từ xoang lê. Các khối u đi theo
máng họng – thanh quản lan lên đáy lưỡi, hố lưỡi thanh thiệt, khẩu cái mềm,
Amydal. Thành trong của xoang lê là nẹp phễu thanh thiệt, qua nẹp này khối 21
u dễ xâm lấn vào thanh quản (khoảng cạnh thanh môn, dây thanh, băng thanh
thất, hạ thanh môn, thanh môn, tiền đình thanh quản). Thành ngoài xoang lê là
màng giáp móng và khung sụn. U có thể xâm lấn vào sụn giáp, màng giáp
móng, cuống mạch thần kinh thanh quản, dây thần kinh thanh quản, dây quặt
ngược, da, tổ chức dưới da. Đáy xoang lê liên tiếp với miệng thực quản vì vậy
khối u ở vùng này có thể lan xuống miệng thực quản. Khi khối u đã xâm lấn
Hình 1.11. Tam giác bạch huyết Rouviere [ 8 ]
Vùng cổ có khoảng 200 - 600 hạch bạch huyết, chiếm khoảng 30%
tổng số hạch trong cơ thể. Hệ thống hạch bạch huyết ở vùng cổ chia thành hai
chuỗi: chuỗi hạch sâu và chuỗi hạch nông.
1.2.7.1. Chuỗi hạch sâu
Chuỗi hạch sâu còn gọi là chuỗi cảnh sâu, trải dài từ nền sọ cho đến bờ
trên xương đòn và được chia thành 3 nhóm: trên , giữa, dưới.
- Nhóm cảnh trên: Nhận những dẫn lưu bạch huyết từ khẩu cái mềm,
amidal, cung lưỡi khẩu cái và cung họng khẩu cái, mặt sau lưỡi, đáy xoang lê,
thanh quản (phần trên thanh môn), những nhóm hạch nông hơn ở phần cao
của vùng đầu mặt cổ (thành sau họng, nhóm hạch cạnh dây XI, tuyến mang
tai, hạch dưới hàm).
- Nhóm cảnh giữa nhận dẫn lưu từ thanh quản, phần thấp của xoang lê.
Nhóm này nhận dẫn lưu thứ phát của nhóm cảnh sâu phía trên và những hạch
thấp của vùng thành họng sau.
- Nhóm cảnh dưới nhận dẫn lưu từ tuyến giáp, khí quản, thực quản cổ.
Nhận dẫn lưu thứ phát từ nhóm cảnh trên, hạch quanh khí quản.
1.2.7.2. Chuỗi hạch nông [2][8]. 23
Chuỗi hạch nông là chạm dẫn lưu thứ phát như đã nói ở nhóm hạch
cảnh sâu. Nhóm hạch nông là nhóm dưới cằm, cổ nông, dưới hàm, nhóm dây
XI, nhóm trước cơ nâng vai.
Có nhiều cách phân loại hạch nhưng để đơn giản hoá, tiện Ých trong áp
dụng phẫu thuật cũng như hiệu quả cao trong điều trị. Nhóm tác giả Memorial
Sloan- Ketery đã đưa ra cách phân loại theo vùng hiện được áp dụng rộng rãi
trên toàn thế giới. Hạch cổ được chia làm 6 nhóm:
+ Phía sau: Bê sau cơ ức đòn chũm.
+ Phía trên: Ngang mức xương móng (mốc lâm sàng) hoặc phân đôi
của động mạch cảnh chung (mốc phẫu thuật).
+ Phía dưới: Ngang mức khớp giáp nhẫn (mốc lâm sàng), cơ vai mãng
(mốc phẫu thuật).
- Nhóm IV: Nhóm hạch cảnh thấp. Giới hạn:
+ Phía trên: Ngang mức khớp nhẫn giáp (mốc lâm sàng) hoặc cơ vai
mãng (mốc phẫu thuật).
+ Phía dưới: Xương đòn.
+ Phía trước: Bờ ngoài cơ ức móng.
+ Phía sau: Bê sau cơ ức đòn chòm.
- Nhóm IV chia làm hai nhóm IVa và IVb.
+ Nhóm IVa: Dọc tĩnh mạch cảnh trong và nằm sâu dưới đầu ức của cơ
đòn chũm.
+ Nhóm IVb: Nằm sâu dưới đầu đòn của cơ ức đòn chũm.
- Nhóm V: Tam giác cổ sau ( có 6 đến 10 hạch) giới hạn:
+ Phía trước: Bờ sau cơ ức đòn chũm.
+ Phía sau: Bờ trước cơ thang.
+ Phía dưới: Xương đòn.
Nhóm V được chia làm hai nhóm: Nhóm Va và Vb.
+ Nhóm Va: Gồm các hạch ở phần trên tam giác cổ sau, gồm các hạch
chạy dọc thần kinh phô.
+ Nhóm Vb: Gồm các hạch chạy dọc theo động mạch cổ ngang, về mặt
giải phẫu hai nhóm được phân ra bởi bong dưới cơ vai mãng.
- Nhóm VI: Nhóm hạch Delphian, nhóm hạch trước khí quản, trước sụn
nhẫn, quanh khí quản, hay còn gọi là khoang cổ trứơc. Giới hạn:
+ Phía ngoài: Bao cảnh. 25
1.3.2. Vi thể [1]
95% là ung thư biểu mô vẩy, 5% là ung thư biểu mô tuyến.