ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ BÌNH
KHẢO SÁT NHỮNG TỪ NGỮ CHÊM XEN
BIỂU THỊ TÌNH THÁI TRONG CÂU TIẾNG VIỆT
(CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hµ néi - 2007
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
IV. Nguồn tƣ liệu. 5
V. Phƣơng pháp nghiên cứu. 6
VI. Ý nghĩa của luận văn 6
VII. Bố cục của luận văn. 7
NỘI DUNG 8
CHƢƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
I. Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học 8
1. Khái niệm chung. 8
2. Các kiểu ý nghĩa tình thái. 14
3. Các phương tiện biểu thị tình thái. 16
II. Biểu thức chêm xen tình thái. 20
1. Biểu thức chêm xen tình thái – Tiêu chí nhận diện. 20
2. Một vài điểm lưu ý trong tiêu chí nhận diện biểu thức chêm xen tình
thái đối với tiếng Việt. 23
III. Phân biệt biểu thức chêm xen tình thái và thành phần phụ chú. 26
IV. Khảo sát sơ qua những công trình nghiên cứu về các “biểu thức chêm
xen tình thái” đã đƣợc công bố. 29
V. Tiểu kết chƣơng I. 32
CHƢƠNG II - KHẢO SÁT NHỮNG HIỆN TƢỢNG CHÊM XEN BIỂU
THỊ TÌNH THÁI TRONG TIẾNG ANH. 33
A. Xét về mặt kết học 33
I. Cấu tạo của thành phần chêm xen biểu thị tình thái trong tiếng Anh. 33
1. Phân biệt giữa thán từ tình thái, biểu thức chêm xen tình thái và từ điệp
khúc biểu thị tình thái. 33
2. Cấu tạo của biểu thức chêm xen tình thái. 38
II. Vị trí của biểu thức chêm xen biểu thị tình thái trong câu tiếng Anh. 67
1. Biểu thức chêm xen tình thái có vị trí đầu câu. 67
2. Biểu thức chêm xen tình thái có vị trí giữa câu. 73
3. Biểu thức chêm xen tình thái có vị trí cuối câu. 83
B. Ngữ nghĩa và ngữ dụng của biểu thức chêm xen tình thái trong tiếng
góc độ văn hóa, tín ngƣỡng, tôn giáo 146
IV. Một vài nhận xét về vấn đề dịch các biểu thức chêm xen tình thái từ
tiếng Anh sang tiếng Việt và ngƣợc lại. 153
1. Một vài nhận xét về vấn đề dịch các biểu thức chêm xen tình thái Anh
– Việt và ý kiến đóng góp. 155
2. Một số nhận xét về các biểu thức chêm xen tình thái được dịch từ tiếng
Việt sang tiếng Anh. 162
V. Tiểu kết chƣơng IV. 167
KẾT LUẬN 1682
Quy ƣớc viết tắt
1. ĂMDV: Ăn mày dĩ vãng.
2. BLT dịch NTBN: Bùi Liên Thảo dịch Người tù bé nhỏ
3. ĐTH dịch MMĐVC: Đỗ Thu Hà dịch Mật mã Da Vinci
4. LL CLC: Lê Lựu. Chuyện làng cuội
5. LL TTHN: Lê Lựu. Tiểu thuyết hai nhà
6. MVK MLRTV Trg: Ma Văn Kháng. Mảnh đất lắm người nhiều ma
7. NC TPT: Nam Cao tác phẩm tập
8. NCH BĐC: Nguyễn Công Hoan Bước Đường Cùng
9. NCH TNCL: Nguyễn Công Hoan. Truyện ngắn chọn lọc
10. NCH TTT2: Nguyễn Công Hoan. Tuyển tập tập 2
11. NHT NNNG : Nguyễn Huy Thiệp. Như những ngọn gió
12. NHT TPCL : Nguyễn Huy Tưởng. Tác phẩm chọn lọc
13. NLFE: Nothing lasts forever.
14. NMC MC Nguyễn Minh Châu. Miền cháy
15. NTT TPT: Nguyễn Huy Tưởng. Tác phẩm tập
16. NTTBVT: Nguyễn Tuân Tuỳ bút viết trước
Những từ ngữ chêm xen tình thái xuất hiện rất phổ biến trong khẩu ngữ
hàng ngày trong nhiều ngôn ngữ, trong đó có cả tiếng Anh và tiếng Việt. Trên
thế giới, đã có một số nhà nghiên cứu về các hiện tượng chêm xen tình thái
này nhưng các nghiên cứu về vấn đề này mới chỉ dừng lại ở một vài khía cạnh
đơn lẻ nào đó. Chẳng hạn như C.T. James Huang (Harvard Uninversity, 2006)
và Masao Ochi (Osaka University, 2006) có bài nghiên cứu so sánh “Syntax
of the Hell” (Cú pháp của “the Hell”) trong tiếng Anh, tiếng Nhật nhưng họ
mới chỉ dừng lại ở phần cấu trúc của một số từ ngữ chêm xen tình thái này
trong cấu trúc câu hỏi nghi vấn có chứa đại từ nghi vấn như what (gì), when
(khi nào), why (tại sao)… Thực ra, trong tiếng Nhật cũng xuất hiện một số
nghiên cứu khác về từ ngữ chêm xen tình thái trong cấu trúc câu hỏi như vậy
như Pesetsky (1987), Lasnik và Saito (1992). Trong tiếng Trung Quốc thì có
nghiên cứu của Kuo Chin-man (1996) cũng về mối liên hệ giữa từ ngữ chêm
xen tình thái với câu hỏi có đại từ nghi vấn… Nhưng theo chúng tôi, tất cả
đều được viết theo xu hướng ngữ pháp hình thức, chỉ dừng lại ở mặt kết học
chứ chưa đề cập đến về mặt dụng học và nghĩa học.
4
Còn ở Việt Nam cho đến nay chưa có mấy nghiên cứu về vấn đề này.
Hiện tượng từ ngữ chêm xen tình thái trong khẩu ngữ thường bị bỏ quên trong
các nghiên cứu của các nhà nghiên cứu nổi tiếng ở Việt Nam. Chẳng hạn như
Diệp Quang Ban khi nghiên cứu về các “biệt tố” (hay còn gọi là thành phần
biệt lập) không đề cập đến thành phần chêm xen biểu thị tình thái này.
Nguyễn Tài Cẩn trong nghiên cứu về đoản ngữ trong tiếng Việt cũng bỏ qua
hiện tượng này. Một số công trình nghiên cứu khác như Nguyễn Văn Hiệp và
Nguyễn Minh Thuyết trong chuyên luận “Thành phần câu tiếng Việt” hoặc
trong các nghiên cứu về tác tử tình thái, quan hệ ngữ pháp, phong cách chức
năng, ngôn ngữ học xã hội của một số nhà nghiên cứu khác cũng không nói
đến những hiện tượng chêm xen tình thái thú vị này. Đặc biệt là trong các
sách dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cho người nước ngoài thì vấn đề này
xét trên khía cạnh văn hóa và đặc điểm ngôn ngữ. Đặc biệt là chúng tôi sẽ tìm
hiểu các qui tắc theo đó từ ngữ chêm xen tình thái được dịch như thế nào từ
tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại.
IV. Nguồn tƣ liệu.
Các đơn vị từ ngữ này được thu thập trong giao tiếp hàng ngày trong
những môi trường giao tiếp khác nhau như ở những nơi công cộng như chợ, bến
xe, nhà ga, trường học, cả những nơi công sở, ở gia đình…bao quát nhiều mối
quan hệ khác nhau giữa những người tham gia giao tiếp, những người ở những
trình độ học vấn, vị trí khác nhau trong xã hội. Ngoài ra, chúng tôi còn thu thập
tư liệu từ những đàm thoại trong các tác phẩm văn học nước ngoài và các tác
phẩm văn học Việt Nam, trong các tác phẩm được dịch từ tiếng Anh sang tiếng
Việt và ngược lại, trong phim truyện, từ các phương tiện thông tin đại chúng,
trên internet, trong một số luận văn và công trình nghiên cứu khác…
Tổng số câu chúng tôi thu thập được từ các nguồn tư liệu là: 1309 câu
tiếng Anh và 1498 câu tiếng Việt.
6
Theo chúng tôi, khối tư liệu rộng lớn như vậy có thể cho thấy được
toàn cảnh hoạt động (cấu trúc, nghĩa và công dụng) của những từ ngữ chêm
xen tình thái.
V. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Luận văn này sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Trước hết, luận văn sẽ sử dụng phương pháp thực nghiệm để thu thập
tư liệu từ những nguồn trong thực tế, trong những môi trường, hoàn cảnh giao
tiếp và đối tượng giao tiếp khác nhau. Sau khi có được tư liệu, chúng tôi sẽ sử
dụng thủ pháp nghiên cứu phân tích dựa vào ngữ cảnh, vận dụng các thao tác
ngôn ngữ học nhằm khúc giải, miêu tả…để thấy được sự hoạt động của các từ
ngữ chêm xen tình thái ở cả ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học.
Đây là phương pháp nghiên cứu đặc trưng của ngữ pháp chức năng hiện đại.
Chúng tôi sẽ sử dụng tổng hợp những phương pháp như thống kê, diễn dịch,
ngữ chêm xen tình thái trong tiếng Anh và tiếng Việt đề làm rõ sự khác nhau
về đặc điểm văn hóa của những dân tộc nói tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất và
dân tộc Việt Nam. Chương này cũng nêu ra một số nhận xét về việc dịch các
biểu thức chêm xen tình thái từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại.
8
NỘI DUNG
CHƢƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học.
1. Khái niệm chung.
Khái niệm tình thái không còn là một khái niệm mới mẻ hay xa lạ của
ngôn ngữ học. Cho đến nay, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về tình thái.
Ở mỗi khuynh hướng, mỗi trường phái ngôn ngữ khác nhau lại có những cách
hiểu khác nhau về tình thái. Và “không có phạm trù nào mà bản chất ngôn
ngữ học và thành phần các ý nghĩa bộ phận lại gây ra nhiều ý kiến khác biệt
và đối lập nhau như phạm trù tình thái.” (V.Z Palfilov, 1997, tr. 37-38). Vì thế
mà ngôn ngữ học vẫn chưa có một hệ thống quan điểm thống nhất về tình
thái. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với sự quan tâm ngày càng
sâu sắc hơn đến nhân tố con người, đến quan hệ liên nhân trong hoạt động
ngôn ngữ, vấn đề tình thái của ngôn ngữ tự nhiên được đặc biệt quan tâm
trong ngành ngôn ngữ học. Điều này là một tất yếu, bởi lẽ bất kì một nội dung
nhận thức và giao tiếp hiện thực nào cũng phải gắn liền với những yếu tố như
mục đích, nhu cầu, tình cảm, thái độ đánh giá… của người nói đối với điều
được nói ra xét trong quan hệ với hiện thưc, với đối tượng giao tiếp. Vì thế
mà tình thái vốn được coi là “linh hồn của phát ngôn” (Ch. Bally).
Nhưng câu hỏi thế nào là tình thái nói chung và tình thái trong ngôn ngữ
học nói riêng lại không phải là câu hỏi dễ trả lời. Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu
nổi tiếng trên thế giới đề cập đến khái niệm tính tình thái trong ngôn ngữ học.
Trong số các nhà nghiên cứu đó phải kể đến Ch. Bally, người được xem như là
một trong những người đầu tiên có công lớn nhất mở đường cho việc nghiên cứu
chúng như là hai thành phần có vị trí trung tâm của ngôn ngữ học. Nhờ thế,
10
vấn đề tình thái của ngôn ngữ mới được nhìn nhận đúng với vị thế của nó.
Ngoài Ch. Bally, trên thế giới cũng có rất nhiều các nhà nghiên cứu
khác quan tâm đến vấn đề tình thái của ngôn ngữ. Điển hình có thể kể đến Ch.
Fillmore, N. Chomsky, F. P. Palmer, J. Lyons…
Đối với Fillmore, khi nghiên cứu cấu trúc ngữ nghĩa của câu theo quan
điểm của ngữ nghĩa học tạo sinh, ông cũng chia nội dung câu thành hai bộ
phận gồm: mệnh đề (P- Proposition) và tình thái (M - Modus). Thành phần
“mệnh đề” được hiểu như là tập hợp những quan hệ có tính phi thời
(tenseless) giữa các động từ và các danh từ, phân biệt với thành phần “tình
thái” – gồm các loại ý nghĩa có liên quan đến toàn bộ câu (the sentence-as-a-
whole) như phủ định, thì, thức và thể. (Fillmore, 1968, tr. 23). Quan niệm của
Fillmore được thể hiện dưới công thức:
S = M + P (trong đó: S – sentence; M – Modus; P – Proposition)
Chomsky, một nhà ngôn ngữ học người Mỹ, cũng rất chú ý đến vấn đề
tình thái trong khuôn khổ của ngôn ngữ học tạo sinh. Theo Chomsky, tất cả
các câu trong ngôn ngữ đều được quy về ba loại: tường thuật, nghi vấn và
mệnh lệnh; và yếu tố làm nên sự khác nhau của ba kiểu câu này chính là tình
thái. Chomsky dùng hai thuật ngữ “Tình thái” và “Hạt nhân” để chỉ tính tình
thái và nội dung mệnh đề, hai yếu tố bắt buộc phải có để tạo câu cơ sở - thuộc
cấu trúc bề sâu. Để có được những phát ngôn cụ thể, cấu trúc bề sâu phải
chuyển thành những cấu trúc bề mặt thông qua những phép cải biến nhất định.
Và Chomsky đã phân biệt hai loại tình thái là: tình thái bắt buộc (tường thuật,
nghi vấn, mệnh lệnh) và tình thái tùy nghi (tình thái xuất hiện trong mỗi cuộc
giao tiếp hiện thực) như sự thừa nhận, phủ nhận, chủ động, bị động, nhấn
mạnh. (Chomsky, 1972).
11
Còn đối với Culioli thì ông lại gọi hai mặt đối lập của phát ngôn là
“tình thái” và “ngôn liệu”. Ông dùng thuật ngữ “ngôn liệu” (lexis) thay cho
“mệnh đề” (Proposition) vì ông cho rằng thuật ngữ mệnh đề là một thuật ngữ
mơ hồ về nghĩa. Người ta không rõ nó được hiểu theo nghĩa của logic hay
theo nghĩa nào khác (chẳng hạn, khái niệm “mệnh đề” được dùng trong ngôn
ngữ học khác với mệnh đề trong lô gích học.). Thuật ngữ ngôn liệu (lexis) về
thực chất là tương đương với “Dictum” của Ch. Bally nhưng nhấn mạnh tính
chất nguyên liệu, tiềm tàng, phi tình thái, chưa có tư cách là một sự tình với
những mối liên hệ hiện thực nào đó giữa vị từ trung tâm và các tham tố của nó
(dẫn theo Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp 2001).
Đặc biệt với việc đặt tình thái vào khung lí thuyết hành vi ngôn ngữ thì
nghiên cứu tình thái đã có những bước phát triển mới. “Sự phân biệt giữa nội
dung mệnh đề và tính tình thái rất gần gũi với sự phân biệt giữa hành vi tạo
lời và hành vi tại lời theo tinh thần của Austin. Trong hành vi tạo lời, chúng ta
nói về một điều gì đó, còn trong hành vi tại lời chúng ta làm một cái gì đó như
trả lời một câu hỏi, thông báo một phán quyết, khuyến cáo hoặc hứa hẹn”
(Palmer 1986, tr. 14). Hiện nay, phần lớn tác giả cho rằng lý thuyết hành vi
ngôn ngữ là khung lý thuyết thích hợp để nghiên cứu vấn đề tình thái của câu.
Trên đây là một số quan niệm của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới.
Còn ở Việt Nam thì sao? Ở Việt Nam, vấn đề tính thái trong ngôn ngữ cũng
được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Hoàng Trọng Phiến (1980) thì cho
rằng: “tình thái là phạm trù ngữ pháp của câu ở dạng tiềm tàng, nó có mặt
trong tất cả các kiểu câu. Điều này thể hiện ở chỗ câu có giá trị thời sự, nó có
tác dụng thông báo một điều mới mẻ…”. Còn Đỗ Hữu Châu nhận xét: “tình
thái sẽ bao gồm toàn bộ những ý nghĩa thuộc phạm vi dụng học và sẽ tập hợp
13
lại thành thông điệp bộc lộ kèm với lõi P của câu” (Tạp chí ngôn ngữ số 3/
1983). Hoàng Tuệ trong bài viết “Về khái niệm tình thái” thì cho rằng: “tình
thái là một khá niệm trong sự phân tích theo cách nhìn tìm đến thái độ của
mối quan hệ khác nhau của nội dung thông tin miêu tả trong phát ngôn với
thực tế, cũng như những quan điểm, thái độ đánh giá và những thông tin định
tính khác nhau của người nói đối với nội dung hiện thực được đề cập trong
câu, với đối tượng giao tiếp và với hoàn cảnh giao tiếp. Do vậy, việc nghiên
cứu tính tình thái của phát ngôn phải tính đến sự tương tác phức tạp, khúc xạ
qua nhiều tầng bậc, trong mối liên hệ của các yếu tố liên quan trong quá trình
giao tiếp. Đây sẽ là quan điểm về tình thái mà chúng tôi chọn làm cơ sở triển
khai những nghiên cứu về các vấn đề của luận văn.
2. Các kiểu ý nghĩa tình thái.
Các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra nhiều kiểu phân loại ý nghĩa tình thái
khác nhau. Chẳng hạn như theo A. V. Bondarko thì chỉ có hai nhóm ý nghĩa
dưới đây mới đúng là các ý nghĩa tình thái:
- Tính khả năng, tính thực tế và tính cần yếu. Nhóm ý nghĩa này là cơ
sở cho tình thái khách quan.
- Sự nghi ngờ, tính không chắc chắn (giả định khả năng) và tính dứt
khoát. Nhóm ý nghĩa này là cơ sở cho tình thái chủ quan.
Trong khi đó E. M. Volf lại cho rằng có nhiều kiểu ý nghĩa tình thái. Sự
đánh giá có thể coi như một trong những kiểu tình thái trùm lên nội dung
được miêu tả của sự kiện biểu thị ngôn ngữ. Ngoài ra còn có các kiểu ý nghĩa
tình thái khác như: tình thái cần yếu, tình thái mong muốn, tình thái yêu cầu,
tình thái khuyên nhủ, tình thái ngăn cấm và cảnh báo trước, tình thái răn đe…
15
J. Liapon (1990), ở một mức độ khái quát hơn, cho rằng “hướng đi
được nhiều người công nhận nhất là phân chia phạm trù tình thái thành phạm
trù tình thái khách quan và tình thái chủ quan”. Ông giải thích: “tình thái
khách quan thể hiện mối quan hệ giữa cái được thông báo với thực tế ở bình
diện hiện thực tính. Tình thái khách quan là dấu hiệu tất yếu của một phát
ngôn bất kỳ (phạm trù thức của động từ là phương tiện chính thể hiện tình thái
ở chức năng này); tình thái chủ quan là quan hệ của người nói với điều được
tiện ngữ pháp và các phương tiện từ vựng.
a. Các phương tiện ngữ âm.
Các phương tiện ngữ âm của tình thái là phương thức dùng ngữ điệu và
trọng âm của từ, câu để thể hiện thái độ, tình cảm, cách đánh giá vào những
thông tin mà người nói cho là cần nhấn mạnh hoặc biểu thị những mục đích
phát ngôn nào đó.
b. Các phương tiện ngữ pháp.
Đối với các ngôn ngữ biến hình thì thức (mood) và thời (tense) của
động từ có vai trò quan trọng trong việc biểu đạt các ý nghĩa tình thái. Còn
đối với các ngôn ngữ không biến hình, hay ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt
thì các phương tiện ngữ pháp thường gặp là: đảo trật tự từ, thay đổi cấu trúc
của câu để thực hiện mục đích của người nói muốn nhấn mạnh vào điểm nào
trong phát ngôn.
c. Các phương tiện từ vựng.
Việc sử dụng các phương tiện từ vựng để thể hiện tình thái là một trong
những phương thức phổ biến và có vai trò tích cực trong việc biểu đạt các ý
nghĩa tình thái.
Trước hết, và rất quan trọng, là các động từ tình thái (modal verbs)
17
trong tiếng Anh và tiếng Việt. Trong tiếng Anh, các động từ tính thái như can,
may, must, need, shall, will có thể biểu thị rất nhiều nội dung tình thái khác
nhau. Tình hình cũng tương tự như vậy đối với tiếng Việt (xin tham khảo luận
án tiến sĩ của Bùi Trọng Ngoãn “Động từ tình thái trong tiếng Việt”, 2004).
Thứ đến là các tính từ và trạng từ tình thái. Chẳng hạn như trong tiếng
Anh, có một số nhóm trạng từ và tính từ có chức năng chuyên biểu thị tình
thái, đặc biệt các trạng từ tình thái tiếng Anh có một vị trí khá đặc biệt trong
mô hình câu tổng quát . Những trạng từ tình thái thường gặp là: certainly (tất
nhiên), of course (tất nhiên), necessarily (tất nhiên) maybe (có thể, có lẽ),
possibly (có thể), probably (rất có thể), obviously (rõ ràng, hiển nhiên)
nơi mà « too » và « so » có thể được dùng như các tiểu từ tình thái để biểu thị
điều mà người nói cho là trái ngược với điều mà người nghe trước đó đã nói,
hoặc đã nghĩ. Ví dụ :
-Affective is too a word !
(Tạm dịch: “Nói mũi lòng mà được à!”)
-There is so a Santa Claus!
(Tạm dịch: “Đến mồng thất mới có ông già Nô- en!”)
(Dẫn theo các bài giảng chuyên đề về nghĩa và tình thái của Nguyễn
Văn Hiệp, 2006)
Trong tiếng Việt, nhóm tiểu từ tình thái ( à, ư, nhỉ, nhé, cơ à, đấy mà,
chăng…) bao giờ cũng xuất hiện ở cuối câu. Ví dụ :
- Thế mà cũng 10 giờ rồi nhỉ?
- Đã 10 giờ rồi cơ à?
- Ít nhất cũng phải 10 giờ rồi chứ?
19
- Nhớ đến trước 10 giờ nhé?
Trong các ngôn ngữ còn có các thán từ giữ chức năng tình thái trong
câu. Ví dụ như trong tiếng Việt thì thường có các thán từ: ôi, chà, chao, chết,
trời ơi, ối trời ơi…
- Chà, con bé nhanh nhẹn thật.
- Ối trời ơi, tôi lạy hồn.
Các thán từ cũng xuất hiện nhiều trong các ngôn ngữ khác như “Gee”,
“Wow”, “oh”…trong tiếng Anh.
- Gee! It‟s clever. (Trời! Nó thật thông minh)
- Wow! It‟s fantastic. (Chà! Nó tuyệt vời thật.)
Đối với các ngôn ngữ biến hình thì các phương tiện ngữ pháp dùng để
biểu thị các ý nghĩa tình thái như thức, thể của động từ… được các nhà nghiên
cứu quan tâm hơn so với các phương tiện từ vựng. Ngược lại, ở các ngôn ngữ
không biến hình như tiếng Việt thì các phương tiện từ vựng được chú trọng
liên nhân giữa các vai giao tiếp và quan hệ của người nói đối với thực tại hoặc
đối với đối tượng của lời nói.
- Chúng không thuộc vào thành phần của nhóm thực từ và có thể lược
bỏ một cách dễ dàng mà không làm thay đổi nội dung mệnh đề cơ bản của
câu. Việc lược bỏ các biểu thức chêm xen tình thái trong câu có thể dẫn đến
việc thay đổi ý nghĩa tình thái của câu, có ảnh hưởng đến mức độ đánh giá (ví
dụ như mức độ quá tốt hoặc quá xấu), hình thức cấu trúc của câu nhưng nội
21
dung mệnh đề cốt lõi của câu hay thành phần ngôn liệu của câu vẫn được giữ
nguyên.
- Không đứng độc lập mà tồn tại theo kiểu “kí sinh” trong cấu trúc
của câu, biểu thị mối quan hệ liên nhân giữa các vai tham gia giao tiếp.
Đối với tiêu chí nhận diện cuối cùng, chúng tôi chỉ giới hạn những biểu
thức chêm xen tình thái nằm ngay trong cấu trúc của câu mà chúng tồn tại, thể
hiện các mối quan hệ liên nhân giữa các vai tham gia giao tiếp. Nói như vậy,
chúng tôi không phải không thừa nhận thực tế là các biểu thức tình thái cũng
có thể tồn tại độc lập dưới dạng một phát ngôn đặc biệt, cụ thể là tồn tại dưới
dạng câu cảm thán không hoàn chỉnh về cấu trúc cú pháp. Tuy nhiên, trong
luận văn này, chúng tôi chỉ quan tâm đến các biểu thức tình thái được “chêm
xen” trong phát ngôn chứ không phải là các biểu thức tồn tại độc lập ngoài
phát ngôn như: “Shit! He’s gone.” (Mẹ kiếp! Hắn đi mất rồi.” Biểu thức
chêm xen tình thái “Shit!” (Mẹ kiếp) ở đây tồn tại dưới dạng lời độc thoại của
chủ thể phát ngôn trước một hiện thực là “He’s gone” (Hắn đã đi rồi).
Hơn nữa, các biểu thức chêm xen tình thái và các biểu thức tình thái tồn
tại dưới dạng câu độc lập đôi khi có chút khác biệt về mặt ngữ nghĩa học và
dụng học. Chẳng hạn như việc sử dụng biểu thức chêm xen tình thái “the
hell” như trong các cấu trúc “What the hell?/ How the hell?/ Where the hell?/
When the hell?…” (Cái quái gì?/ Thế quái nào?Nơi quái nào? Khi quái
nào?…) là hoàn toàn khác với “Hell!” hoặc “Oh, hell!”. Khi “Hell!” hoặc
(Nguyễn Công Hoan, TNCL, Xin chữ cụ nghè, tr.121)
Như vậy, “quái” trong ví dụ (1a), (1b) và (1c) là những thán từ xuất
hiện trong các câu độc thoại thể hiện sự băn khoăn, ngạc nhiên của người nói
trước một điều mà người nói cho là lạ, là khó hiểu. Chỉ có “quái” trong (1d)