MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 149
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AĐ: Anh Đức
BN: Bảo Ninh
BVAQNTT: Bạch Vân am quốc ngữ thi tập
CL: Chu Lai
CNNÂGN: Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa
ĐG: Đoàn Giỏi
HBC: Hồ Biểu Chánh
HCM: Hồ Chí Minh
HD: Hồ Dếnh
HĐ: Hồng Đức Quốc âm thi tập
HXH: Hồ Xuân Hương
KH: Khái Hưng
KL: Kim Lân
LL: Lê Lựu
MVK: Ma Văn Kháng
NB: Nguyễn Bính
NBH: Nguyễn Bá Học
NBK: Nguyễn Bỉnh Khiêm
NC: Nam Cao
NCH: Nguyễn Công Hoan
NH: Nguyên Hồng
NHT: Nguyễn Huy Thiệp
NK: Nguyễn Khuyến
NMC: Nguyễn Minh Châu
NT: Nguyễn Tuân
NTT: Ngô Tất Tố
PQ: Phùng Quán
PT: Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân
Bảng 3.9. So sánh tần suất hoạt động của cực với cực kì 132
Bảng 3.10. Thống kê tần suất hoạt động của cặp từ tuy, tuy nhiên 140
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Sơ đồ phân chia tiểu loại hư từ tiếng Việt 23
Hình 1.2. Biểu diễn các giai đoạn tiếp xúc Hán-Việt 26
Hình 1.3. Phân biệt từ Hán Việt với từ tiếng Hán có cách đọc Hán Việt 28
Hình 1.4. Phân biệt từ Hán Việt về nguồn gốc 29
Hình 1.5. Cấu trúc của từ Hán Việt 30
Hình 1.6. Các lớp từ Hán Việt trong tiếng Việt 31
Hình 3.1. Quá trình “hình vị hóa” của hư từ 99
Hình 3.2. Biểu đồ tần suất hoạt động của hư từ hòa 108
Hình 3.3. Biểu đồ tần suất hoạt động của hư từ hằng 109
Hình 3.4. Biểu đồ biến thiên số lượng hư từ Hán Việt (TK XV-nay) 112
Hình 3.5. Biểu đồ thống kê số lượng và tần suất hoạt động của hư từ Hán Việt
theo phong cách chức năng 113
Hình 3.6. Sự khác biệt về ý nghĩa ngữ pháp của sẽ với sắp, sắp sửa, chuẩn bị
125
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Hư từ là lớp từ ra đời sau trong bất kì ngôn ngữ nào. Hư từ có số lượng
nhỏ so với thực từ nhưng tần suất hoạt động lại lớn hơn nhiều. Hư từ có vị trí quan
trọng trong việc thể hiện các quan hệ ngữ pháp. Như vậy, nghiên cứu hư từ nằm ở
khu vực giao thoa giữa từ vựng học và ngữ pháp học.
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập (từ không biến đổi hình thái khi
thay đổi chức năng cú pháp), phương tiện ngữ pháp chủ yếu dựa vào phương thức
trật tự từ và hư từ. Chính vì vậy, "gánh nặng" thể hiện các quan hệ ngữ pháp trong
tiếng Việt lại càng đặt lên hệ thống hư từ. Nghiên cứu hư từ rất hữu ích đối với việc
làm sáng tỏ những vấn đề về từ vựng và ngữ pháp của tiếng Việt.
1.2. Thông thường, vay mượn từ ngữ giữa các ngôn ngữ chủ yếu diễn ra ở bộ
phận thực từ. Bởi vì, thực từ đáp ứng nhu cầu bổ sung những tên gọi, khái niệm còn
là một vấn đề đã khép kín” [67, tr. 13] Dưới đây chúng tôi tóm tắt tình hình nghiên
cứu về hư từ tiếng Việt dưới các góc độ khác nhau.
Như đã đề cập, Nguyễn Anh Quế (1988) đã tiến hành khảo sát và miêu tả các
đặc điểm về ngữ nghĩa và ngữ pháp của từng nhóm hư từ và từng hư từ cụ thể của
tiếng Việt. Trong đó biện luận, so sánh các cách dùng khác nhau của cùng một hư
từ, hoặc của những hư từ có ý nghĩa tương đồng. Công trình còn luận về khả năng
chuyển đổi ý nghĩa (hư hóa hoặc thực hóa) của hư từ.
Một số tác giả khi nghiên cứu về hư từ trên góc độ dụng học, tức không
nghiên cứu hư từ với tư cách bản thân chúng, mà nghiên cứu khả năng hành chức
của chúng. Chẳng hạn như: Lê Đông (1991) với “Ngữ nghĩa, ngữ dụng của hư từ
tiếng Việt: Ý nghĩa đánh giá của các hư từ” [21], “Ngữ nghĩa, ngữ dụng của hư từ
tiếng Việt: Siêu ngôn ngữ và hư từ tiếng Việt” [22]; Lê Đông, Hùng Việt (1995),
“Nhấn mạnh như một hiện tượng ngữ dụng và đặc trưng ngữ nghĩa-ngữ dụng của
một số trợ từ nhấn mạnh trong tiếng Việt” [23]; Nguyễn Thị Lương (1996) với
Tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi với việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ trong
tiếng Việt [53]; Nguyễn Văn Chính (2000) với luận án tiến sĩ Vai trò của hư từ
2
tiếng Việt trong việc hình thành thông báo phát ngôn [12]; Phùng Thị Thanh Lâm
(2003) với Khả năng hoạt động của các phó từ chỉ thời thể tiếng Việt trong các sự
tình hậu cảnh [48]; Vũ Thị Kim Anh (2005) với Vai trò của các tiểu từ tình thái
cuối câu trong việc hình thành hiệu lực tại lời của phát ngôn [1], v.v.
Ngoài ra, có những nghiên cứu hướng tới việc ứng dụng, trong đó rất hữu ích
là việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Đối với việc học ngoại ngữ, muốn hiểu
được ngữ pháp của một ngôn ngữ thì việc nắm bắt được hệ thống hư từ là rất quan
trọng. Có thể kể một vài công trình như: Tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt và việc
dạy tiểu từ tính thái cuối câu tiếng Việt cho người nước ngoài (Lê Thị Hoài Dương,
2003); Kết từ tiếng Việt trong một số sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và
vấn đề giảng dạy kết từ cho người nước ngoài (Nguyễn Thị Thanh Ngọc, 2004)
Một số công trình lại là những nghiên cứu chuyên sâu về một tiểu loại hư từ.
Phạm Hùng Việt (1996) với luận án tiến sĩ Một số đặc điểm chức năng của trợ từ
Việt và Hán Việt Việt hóa. Nguyễn Tài Cẩn (1979) với cuốn sách Nguồn gốc và
quá trình hình thành cách đọc Hán Việt [6] đã đi sâu nghiên cứu vấn đề ngữ âm của
từ gốc Hán và lí giải sâu sắc về âm Hán Việt. Từ đó về sau, nhiều nhà từ vựng học
khác cũng quan tâm đến vấn đề từ gốc Hán và nghiên cứu ở nhiều góc độ khác
nhau: Hồ Lê, Nguyễn Văn Tu (1978), Phan Ngọc (1983, 1985, 1991), Nguyễn Văn
Khang (1986, 1991, 1994), Đinh Trọng Lạc (1964, 1997), Cù Đình Tú (1983), Phan
Văn Các (1991), Nguyễn Ngọc San (1993), Stankievic N. (1991), Nguyễn Đức Tồn
(2001), Lê Đình Khẩn (2002), v.v.
Việc nghiên cứu riêng về hư từ Hán Việt hiện nay vẫn còn rất khiêm tốn. Có
thể kể tên một số tác giả có công trình nghiên cứu có liên quan đến hư từ gốc Hán
như: Lê Đình Khẩn (2001, 2002), Phạm Thị Hồng Trung (2003, luận văn thạc sĩ),
Vũ Đức Nghiệu (2006), Đào Thanh Lan (2007, chủ trì đề tài khoa học cấp Đại học
quốc gia Hà Nội).
Dưới đây, chúng tôi tóm tắt những công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên
quan đến hư từ Hán Việt.
Lê Đình Khẩn (2001) có bài “Hư từ gốc Hán và cách thức Việt hóa” [43, tr.19-
24]. Trong bài viết này, đóng góp lớn nhất của tác giả là đã liệt kê 39 hư từ Hán
Việt, xếp vào ba nhóm: phó từ, giới từ và liên từ. Với quy mô một bài báo thì số
4
lượng từ ngữ khảo sát như vậy là không nhỏ. Nhưng nhìn rộng ra, những cứ liệu
này chưa đủ để khái quát diện mạo về hư từ gốc Hán (trên thực tế tác giả làm việc
với hư từ Hán Việt) trong tiếng Việt. Các từ loại như: tình thái từ, trợ từ không hề
được nhắc đến. Ngoài ra, bài viết còn có một nội dung khác là “một số cách thức
Việt hóa hư từ gốc Hán”, như hiện tượng chuyển loại, “đổi vị trí”, “thay đổi sắc
thái”, v.v. Nhìn chung, bài viết mới dừng lại ở việc đề xuất vấn đề.
Năm 2002, tác giả Lê Đình Khẩn tiếp tục công bố cuốn Từ vựng gốc Hán
trong tiếng Việt [81], trong đó chương 5: “Hư từ gốc Hán và cách thức Việt hóa”. Ở
đây, tác giả đã khảo cứu các quan niệm về hư từ của các nhà nghiên cứu đi trước và
đưa ra 4 tiêu chí nhận diện hư từ. Theo tác giả hư từ gồm 6 tiểu loại: “phó từ (phụ
từ), giới từ, liên từ (kết từ), trợ từ, thán từ, từ tượng thanh” [44, tr. 239]. Tuy nhiên,
âm thi tập và HĐ” [57, tr.1-16] đã lập một danh sách 135 hư từ các loại có mặt
trong tiếng Việt vào thế kỉ XV. Tác giả phân loại các hư từ này theo hai hướng.
Hướng thứ nhất, dựa vào phạm vi sử dụng, chia chúng thành 3 loại. Loại thứ
nhất là những hư từ cổ (gồm những hư từ đã mất hoặc gần như mất hẳn trong đời
sống tiếng Việt hiện đại); loại thứ hai là những hư từ vẫn đang tồn tại nhưng đã có
những biến đổi về ý nghĩa và cách dùng; loại thứ ba là những hư từ không biến đổi
từ thế kỉ XV cho đến nay.
Hướng phân loại thứ hai, dựa vào nguồn gốc. Tác giả tách riêng nhóm 38 hư
từ gốc Hán trên tổng số 135 hư từ đã khảo sát. Dựa vào Từ điển tần số (1980) tác
giả đưa ra nhận xét rằng hầu hết các hư từ gốc Hán được vay mượn từ thế kỉ XV
vẫn được sử dụng và “cung cấp thêm cho tiếng Việt một bộ phận công cụ ngữ
pháp”, “có đủ khả năng thể hiện đầy đủ được các quan hệ ngữ pháp và ý nghĩa ngữ
pháp” [57, tr.12].
Trong khi nghiên cứu về hư từ gốc Hán, một số tác giả đã phác thảo được một
diện mạo chung của hư từ Hán Việt trong tiếng Việt. Danh sách hư từ Hán Việt
(Phạm Thị Hồng Trung, 2003; Đào Thanh Lan, 2007) đã khá đầy đủ. Tuy nhiên,
các tác giả có lúc đã nhầm lẫn giữa từ Hán Việt với từ Hán có cách đọc Hán Việt
nên đã xếp nhiều hư từ của tiếng Hán vào danh sách hư từ Hán Việt. Chẳng hạn,
trong danh sách 97 phó từ Hán Việt của Phạm Thị Hồng Trung có tới 29 phó từ của
6
tiếng Hán. Ngoài ra, khi xếp đặt hư từ vào các tiểu loại có chỗ chưa phù hợp với
tiêu chí phân định lí thuyết. Ví dụ: trong danh sách 47 phó từ Hán Việt của Đào
Thanh Lan, có tới 14 trợ từ.
Kể trên, các công trình đều có phạm vi rộng là nghiên cứu hư từ gốc Hán nói
chung chứ không phải nghiên cứu riêng về hư từ Hán Việt.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu các đặc điểm ngữ pháp-ngữ nghĩa và đặc điểm sử dụng
của hư từ Hán Việt, luận án góp phần vào nghiên cứu vấn đề hư từ nói chung, hư từ
trong tiếng Việt nói riêng; góp phần nghiên cứu tiếp xúc song ngữ Hán - Việt và hiện
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Theo quan niệm về lí thuyết được sử dụng trong luận án, chúng tôi tiến hành
khảo sát hư từ Hán Việt trên các nhóm từ loại: phó từ, quan hệ từ, trợ từ.
Để có thể xác lập được danh sách 149 hư từ Hán Việt (xem mục 1.2.3.2.)
chúng tôi đã tiến hành theo ba cách:
- Dựa vào từ điển tiếng Việt và từ điển hư từ, từ điển từ công cụ tiếng Việt
thông qua việc kiểm tra âm Hán Việt của từ.
- Dựa vào các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước về hư từ và hư từ
gốc Hán trong tiếng Việt để rút ra các hư từ Hán Việt.
- Thông qua khảo sát trên các văn bản tiếng Việt từ thế kỷ XV trở lại đây.
5.2. Nguồn tư liệu khảo sát
Để có được cứ liệu về quá trình hoạt động của các hư từ Hán Việt trong từ
vựng tiếng Việt qua các giai đoạn lịch sử, chúng tôi dựa vào các văn bản tiếng Việt
các thời kì: cổ - trung đại, cận đại, hiện đại.
Vì lí do lịch sử, trước thế kỉ XIII, nước ta chưa có các văn bản thành văn ghi chép
lại tiếng nói dân tộc. Vì thế, trong giai đoạn I: tiếng Việt cổ - trung đại, chúng tôi dựa
vào các văn bản từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XVI. Cụ thể nguồn ngữ liệu như sau:
(1) Thời kì tiếng Việt cổ đại: Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, bốn
bài phú Nôm đời Trần: Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, Vịnh
Hoa Yên tự phú, Giáo tử phú; Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi); Hồng Đức Quốc âm
8
thi tập (Lê Thánh Tông và Hội Tao Đàn), Thập giới cô hồn quốc ngữ văn, Thiền
tông khóa hư lục (Trần Thái Tông)
(2) Thời kì tiếng Việt trung đại: Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm, Truyện Kiều
(Nguyễn Du), Truyền kì mạn lục giải âm, Việt sử diễn âm (thời Mạc), Những bức
thư Nôm (Nguyễn Ánh)
(3) Thời kì tiếng Việt cận - hiện đại: Thơ Nôm Nguyễn Đình Chiểu, Truyện
ngắn của các tác giả: Bảo Ninh, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Thiệp,
Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Kim
Lân, Khái Hưng, Thạch Lam, Phạm Duy Tốn, v.v.; Tiểu thuyết: Nỗi buồn chiến
Chương 2. Đặc điểm ngữ pháp-ngữ nghĩa của hư từ Hán Việt
Chương 3. Đặc điểm sử dụng của hư từ Hán Việt
10
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HƯ TỪ
1.1.1. Hư từ và phân loại hư từ trong ngôn ngữ học đại cương
Vấn đề phân loại thực từ - hư từ là một vấn đề hết sức phức tạp của ngôn ngữ học,
vốn có nguồn gốc từ trong ngữ pháp các ngôn ngữ Ấn Âu. Hư từ (grammatical words/
synsemantic words/ structure-class words/ function words/ 虚虚) được đặt trong thế đối
lập với thực từ (content words/ open class words/ lexical words/ autosemantic words/
notion words/ 虚虚虚). Thực từ có giá trị biểu đạt ý nghĩa từ vựng; hư từ có giá trị thể
hiện các quan hệ ngữ pháp. Ở nhiều trường hợp, thực từ có thể dùng từ đồng nghĩa
thay thế còn hư từ thì khả năng này rất hạn chế. Bởi lẽ, số lượng hư từ không nhiều. Hư
từ chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ so với thực từ trong bất kì ngôn ngữ nào, nhưng tần suất hoạt
động của hư từ so với thực từ lại cao hơn rất nhiều.
Hư từ là một khái niệm vừa thuộc phạm trù từ vựng vừa thuộc phạm trù ngữ
pháp có tính phổ quát ở mọi ngôn ngữ trên thế giới. Đối với các ngôn ngữ biến
hình, các phạm trù ngữ pháp chủ yếu được biểu hiện thông qua hình thái của từ.
Còn đối với các ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập phân tích tính như tiếng Việt,
tiếng Hán, thì gánh nặng thể hiện các quan hệ ngữ pháp đặt lên hư từ. Các quan hệ
ngữ pháp giữa từ với từ, giữa câu với câu; giữa kiến trúc sâu với kiến trúc mặt, đều
được thể hiện thông qua ý nghĩa và chức năng của hư từ. Do vậy, nghiên cứu những
đặc trưng ngữ pháp của một ngôn ngữ, thì việc nghiên cứu hư từ là rất quan trọng.
Việc phân chia từ vựng của một ngôn ngữ thành hai mảng đối lập thực từ - hư
từ không phải lúc nào cũng có thể tiến hành dễ dàng. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ
trên thế giới hầu như đều thống nhất dựa vào tiêu chí ngữ nghĩa để phân biệt. Tuy
nhiên, tiêu chí này khó có thể áp dụng triệt để ở bất cứ ngôn ngữ nào. Ở các ngôn
ngữ đơn lập như tiếng Việt, tiếng Hán, cùng một từ đảm nhiệm nhiều chức năng
khác nhau: khi thì là thực từ, khi lại là hư từ thì việc phân loại chỉ đơn thuần dựa
vào ý nghĩa khái quát của từ gặp rất nhiều khó khăn. Chính vì vậy, từ lâu, người ta
nghiên cứu hư từ cùng với tên tuổi các tác giả nổi tiếng như: Viên Nhân Lâm 虚虚虚
với Hư tự thuyết 虚虚虚, Lưu Kì 虚虚 với Trợ tự biện lược 虚虚虚虚, Vương Dẫn Chi 虚
虚虚 với Kinh truyện thích từ 虚虚虚虚, v.v.
12
Từ đời Hán cho đến đời Thanh, hơn 2000 năm, sự phân biệt thực từ - hư từ
mới chỉ dựa trên ý nghĩa từ vựng, vì thế, không thuộc phạm trù từ loại của ngữ pháp
học mà là đối tượng nghiên cứu của tu từ học và huấn hỗ học.
1.1.2.2. Từ “Mã thị văn thông” (1898) đến những năm 1950
Công trình “Mã thị văn thông” 虚虚虚虚 (1898) của Mã Kiến Trung 虚虚虚mở ra
một giai đoạn mới trong nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hán. Đây là công trình đầu tiên
vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học hiện đại vào nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hán (cổ
đại và hiện đại). Trong cuốn sách, các khái niệm “thực tự” 虚虚, “hư tự” 虚虚 lần đầu
tiên đã trở thành khái niệm ngữ pháp học. Sách chia từ “hư tự” thành 4 loại: giới tự,
liên tự, trợ tự, thán tự [115].
Tiếp theo Mã thị văn thông, một trào lưu nghiên cứu về hư từ tiếng Hán đã
được dấy lên. Những tác giả có ảnh hưởng to lớn đến giới nghiên cứu phải kể đến:
Lê Cẩm Hy 虚虚虚, Vương Lực 虚虚, Lã Thúc Tương 虚虚虚, Trương Thế Lộc 虚虚虚,
Chu Đức Hy 虚虚虚.
Cuốn Tân trước quốc ngữ văn pháp 虚 虚 虚 虚 虚 虚 của Lê Cẩm Hy (1924) là
công trình nghiên cứu đầu tiên về ngữ pháp bạch thoại. Cuốn sách đã có những
đóng góp to lớn với kết quả nghiên cứu về từ loại tiếng Hán. Tác giả đã chia từ
vựng thành 5 nhóm lớn, bao gồm:
- Thực thể từ 虚虚虚, gồm: danh từ, đại từ, phụ lượng từ 虚虚虚;
- Thuật thuyết từ 虚虚虚, gồm: động từ 虚虚;
- Khu biệt từ 虚虚虚, gồm: hình dung từ 虚虚虚 và phó từ 虚虚;
- Quan hệ từ 虚虚虚, gồm: giới từ 虚虚 và liên từ 虚虚
- Tình thái từ 虚虚虚, gồm: trợ từ 虚虚 và thán từ 虚虚
Lê Cẩm Hy 虚虚虚 cho rằng, hư từ bao gồm quan hệ từ và tình thái từ, cụ thể là
các từ loại: giới từ, liên từ, trợ từ, thán từ. [99].
Lã Thúc Tương 虚虚虚 (1940) có cuốn Trung Quốc văn pháp yếu lược 虚虚虚虚虚虚
tiếp từ 虚虚虚, ngữ khí từ 虚虚虚, tượng thanh từ 虚虚虚.
Ngoài ra, hai tác giả còn đặt thêm hai tên gọi từ loại: phó danh từ và phó động
từ. Hơn nữa các ông đã bổ sung tượng thanh từ vào hư từ vì cho rằng kiểu từ này
không biểu thị một sự vật, sự việc nào.
Trương Thế Lộc 虚虚 虚 (1978) trong bài “Quan vu Hán ngữ ngữ pháp thể hệ
vấn đề” 虚虚虚虚虚虚虚虚虚虚 (Về vấn đề hệ thống ngữ pháp tiếng Hán) cho rằng: hư
từ là những từ biểu thị quan hệ giữa các khái niệm và quan hệ bên trong các khái
14
niệm (cũng có nghĩa là quan hệ giữa các thành phần ngữ pháp và quan hệ bên trong
các kết cấu ngữ pháp) và biểu thị tính chất ngữ khí của toàn bộ câu. Hư từ vì thế
bao gồm: quan hệ từ và ngữ khí từ [100].
Từ thập niên 80 về sau, việc nghiên cứu hư từ tiếng Hán bước vào thời kì thịnh
đạt. Trước tiên phải kể đến hai bộ từ điển: Hiện đại Hán ngữ bát bách từ 虚虚虚虚虚
虚虚 (Tám trăm từ tiếng Hán hiện đại) của Lã Thúc Tương (1980) và Hiện đại Hán
ngữ hư từ biện thích (Giải thích hư từ tiếng Hán hiện đại) của Khoa Trung văn Đại
học Bắc Kinh 虚 虚 虚 虚 虚 (1991). Tiếp theo là công trình nghiên cứu Hiện đại Hán
ngữ hư từ tán luận (Bàn về hư từ tiếng Hán hiện đại) của nhóm tác giả Lục Kiệm
Minh 虚虚虚 và Mã Chân 虚虚. Các nghiên cứu trên đây, không chỉ dừng lại ở chỗ
giải thích ý nghĩa từ vựng của từng hư từ mà còn bắt đầu chú ý đến việc phân tích ý
nghĩa ngữ pháp của chúng; không chỉ phân tích từng hư từ mà còn nhận định tổng
quát kết cấu cú pháp của các nhóm hư từ tương đồng hay tương phản.
15
Bảng 1.1. Các quan điểm phân chia hư từ tiếng Hán
Tác giả tiêu biểu Hư từ
Nhóm từ loại
trung gian
Lê Cẩm Hy giới từ, liên từ, trợ từ, thán từ
Lã Thúc Tương,
Chu Đức Hy
đại từ, phó từ, liên tiếp từ, ngữ khí
nòng cốt câu” để chia từ tiếng Việt thành bốn nhóm, trong đó hư từ chỉ bao gồm hai
tiểu loại: phụ từ và kết từ. [86, tr. 68-71]
(3) Đinh Văn Đức (1986) trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại) căn cứ vào
tập hợp các tiêu chuẩn: ý nghĩa, khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp của từ, chia
16
từ tiếng Việt thành “ba tập hợp cơ bản”: thực từ, hư từ, tình thái từ. Trong đó, hư từ
bao gồm hư từ từ pháp (làm thành tố phụ trong đoản ngữ, theo cách gọi của tác giả
là từ phụ, tương đương với phó từ) và hư từ cú pháp (quan hệ từ).
(4) Nguyễn Anh Quế (1988) khẳng định rằng hư từ cũng có ý nghĩa từ vựng.
Tác giả phân tích: đối với tiếng Việt, “tuyệt đại bộ phận hư từ lại vốn bắt nguồn từ
thực từ, vì vậy nếu chỉ nói rằng hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân
thực thì sẽ không phản ánh được gì diện mạo chung của hư từ tiếng Việt.” “Nói
chung các hư từ đều có một nghĩa từ vựng nhất định như các thực từ.” [67, tr. 41]
Tác giả đề nghị một cách phân định hư từ gồm hai bước: “bước 1, dựa vào tổ chức
đoản ngữ và bước 2, dựa vào chức năng cú pháp.” [67, tr. 51] Những từ loại không
có khả năng làm trung tâm đoản ngữ được coi là hư từ, nhưng nếu chúng có khả
năng làm thành phần câu (chức năng cú pháp) thì lại có thể coi chúng là thực từ,
như trường hợp số từ, đại từ. Hư từ được tác giả chia thành ba nhóm:
Bảng 1.2. Quan điểm của Nguyễn Anh Quế về phân chia từ loại hư từ
Hư từ từ pháp Hư từ cú pháp
Nhóm hư từ làm thành tố
phụ trong đoản ngữ: phó
từ
Nhóm hư từ nằm trong
đoản ngữ, nhưng không
làm thành tố phụ: giới từ,
liên từ và “các hư từ đặc
biệt” (như: là, thì, kẻo
huống, phương chi, vả).
Nhóm hư từ nằm ngoài
vựng” và phân t hành hai loại: “loại chuyên biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp thường gọi
là hư từ và loại chuyên biểu hiện ý nghĩa tình thái được gọi chung là tình thái từ”.
Hư từ chia thành hai lớp:
- Phụ từ: bổ sung ý nghĩa phụ cho thực từ, gồm: định từ (phụ cho danh từ) và
phó từ (phụ cho vị từ)
- Kết từ/ quan hệ từ: vừa kết nối các thực từ vừa biển hiện quan hệ giữa các
thực từ, gồm: liên từ (biểu hiện quan hệ liên hợp) và giới từ (biểu hiện quan hệ
chính phụ) [47, tr.10]
(10) Hoàng Trọng Phiến (2008) cũng có cùng quan niệm với đa số các nhà ngữ
pháp học về hư từ: “Hư từ lấy việc biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp làm chính, không
độc lập làm thành phần câu, không làm trung tâm cụm từ, ngữ đoạn” [64, tr.5]. Tác
giả chia hư từ thành 10 tiểu loại, bao gồm: đại từ, động từ tình thái, giới từ, liên từ,
ngữ khí từ, phó từ, quán ngữ, thán từ, trợ từ, tiểu từ.
18
Để tiện đối chiếu, so sánh, bảng dưới đây tổng kết các quan điểm phân chia hư
từ tiếng Việt.
Bảng 1.3. Các quan điểm phân chia tiểu loại hư từ tiếng Việt
Tác giả Tiêu chí phân loại
Số
nhóm
Hư từ
Từ loại
trung gian
Nguyễn Tài
Cẩn
- đoản ngữ 3 phó từ, quan hệ từ, trợ từ thán từ
Ủy ban KHXH
- ý nghĩa khái quát
- chức vụ cú pháp
2
thán từ
Lê Biên
- ý nghĩa khái quát
- khả năng kết hợp
- chức vụ cú pháp
2
phụ từ
quan hệ từ
tình thái từ
(trợ từ, tiểu
từ, thán từ)
Nguyễn Hồng
Cổn
- khả năng kết hợp
- chức vụ cú pháp
10
lượng từ, số từ, định từ, chỉ từ,
phó từ, liên từ, giới từ, từ tình
thái (trợ từ, tiểu từ, thán từ)
Diệp Quang
Ban
- ý nghĩa khái quát
- khả năng kết hợp
- chức vụ cú pháp
6
mạo từ, phó từ, quan hệ từ, tiểu
từ tình thái (ngữ thái từ, trợ từ),
thán từ
đại từ (trong
đó có chỉ
phái ngữ pháp lô-gic truyền thống như: G. Aubaret, Trương Vĩnh Ký, Trần Trọng
Kim, Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Lân, v.v. Ý nghĩa của từ bao gồm ý nghĩa từ vựng và ý
nghĩa ngữ pháp. Những từ biểu thị nghĩa từ vựng gọi là thực từ, những từ biểu thị
nghĩa ngữ pháp gọi là hư từ. Như Bùi Đức Tịnh đã nhận xét: "mỗi loại trong các từ
ngữ ấy đều có ý nghĩa riêng biệt, không thể lẫn lộn " và "muốn sắp một từ ngữ
thuộc về loại nào cần phải biết rõ ý nghĩa của nó". [76, tr. 274]
Theo đó, tiêu chí duy nhất để quyết định một từ nào đó có phải là hư từ hay
không chính là rỗng nghĩa từ vựng. Đối với những từ nhiều nghĩa, từ mờ nghĩa từ
vựng, hiện tượng từ chuyển loại thì công việc xác định này trở nên khó khăn. Quan
điểm này đến nay đã tỏ ra lạc hậu và từng bị nhiều nhà nghiên cứu phê phán. Ý
nghĩa từ vựng là tiêu chí khu biệt dễ nhận biết nhất và có thể vạch ra sự đối lập rõ
ràng giữa thực từ và hư từ. Nhưng việc đánh giá ý nghĩa của một từ chỉ căn cứ vào
bản thân từ (như tra từ điển) rất dễ mang tính chủ quan, ngộ nhận.
- Dựa vào tiêu chí ngữ pháp (chức vụ cú pháp và khả năng kết hợp). Phan
Khôi sau khi tiếp thu những thành quả của trào lưu nghiên cứu hư từ những năm
1950 ở Trung Quốc đã chủ trương dựa vào chức vụ cú pháp của từ trong câu làm
tiêu chí phân định từ loại. Ông cho rằng phải "tuỳ vào vị trí và chức vụ của từng từ
mà quy nhập nó vào loại nào" [45, tr. 188]. Như vậy, ông coi việc phân định từ loại
như việc “gán nhãn” cho các thành phần của câu nói. Trên thực tế, đó không phải
mục đích của việc xác định từ loại trong ngôn ngữ học. Hơn nữa, một chức vụ cú
pháp có thể do nhiều từ loại đảm nhiệm và ngược lại một từ loại có thể đảm nhiệm
nhiều chức vụ cú pháp khác nhau. Chẳng hạn, chủ từ có thể do đại từ hoặc danh từ
đảm nhiệm, vị từ có thể là động từ hay tính từ thậm chí danh từ. Nếu chỉ dựa vào
chức vụ cú pháp thì không thể xác định được các tiểu loại từ loại và việc xác định
này cũng không có giá trị thực tiễn nào.
20
Không cực đoan chỉ dựa vào chức vụ cú pháp của từ trong câu, Lê Văn Lý
(1968) và sau này là Lưu Vân Lăng (1970), Nguyễn Tài Cẩn (1975) bổ sung tiêu
chuẩn khả năng kết hợp của từ trong đoản ngữ để xác định tính chất từ loại. Các tác
giả Nguyễn Anh Quế (1988) và Nguyễn Hồng Cổn (2003) đã kết hợp cả hai hướng