Đặc điểm phân tử của vi rút dại lưu hành ở
miền Bắc Việt Nam từ năm 2006 – 2012 Nguyễn Vĩnh Đông Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn ThS. ngành: Vi sinh vật học; Mã số: 60 42 40
Người hướng dẫn: TS.BS. Nguyễn Thị Kiều Anh
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Tổng quan về vi rút dại ở Miền Bắc Việt Nam: Sơ lược lịch sử phát hiện
vi rút dại; Virut dại; Dịch tễ học bệnh dại; Nghiên cứu trong nước liên quan đến đề
tài; Chẩn đoán phòng thí nghiệm; Các kỹ thuật sinh học phân tử. Xác định và định
týp các chủng vi rút dại lưu hành ở miền Bắc Việt Nam, 2006 - 2012. Phân tích đặc
điểm phân tử Nucleoprotein của các chủng vi rút dại lưu hành ở miền Bắc Việt Nam,
2006 - 2012. Trình bày kết quả đạt được: Kết quả về xác định và định týp vi rút, Kết
quả phân tích đặc điểm nucleoprotein vi rút dại.
Keywords. Vi rút dại; Vi sinh vật học; Đặc điểm phân tử; Miền Bắc Việt Nam Content
MỞ ĐẦU
Bệnh dại là bệnh viêm não và màng não nguyên phát của động vật có vú, do vi rút dại
thuộc họ Rhabdoviridae gây nên. Đây là một căn bệnh cổ xưa nhất của động vật và có thể
truyền sang người khi tiếp xúc với vi rút dại qua niêm mạc và da bị tổn thương. Bệnh thường
vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm phân tử của vi rút dại lưu hành ở
miền Bắc Việt Nam, 2006-2012“ với 2 mục tiêu:
1/ Xác định và định týp các chủng vi rút dại lưu hành ở miền Bắc Việt Nam, 2006 -
2012.
2/ Phân tích đặc điểm phân tử Nucleoprotein của các chủng vi rút dại lưu hành ở miền
Bắc Việt Nam, 2006 - 2012. CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Sơ lƣợc lịch sử phát hiện vi rút dại
Bệnh dại là bệnh viêm não tuỷ cấp và viêm màng não nguyên phát của động vật có
vú. Bệnh có thể truyền sang người qua niêm mạc hoặc da bị tổn thương.
Từ hàng nghìn năm trước công nguyên, những người thầy thuốc cổ phương Đông đã
viết về căn bệnh tương tự bệnh dại – bệnh sợ nước, sợ gió mà chó và người mắc phải. Bệnh
dại cũng được người da đỏ, người Ả rập và người Do Thái cổ đề cập trong y văn với 5 dấu
hiệu bệnh dại ở chó: mõm há, chảy nước dãi, tai rủ, đuôi cụp, giọng khàn và khuyến cáo nếu
gặp các con vật có biểu hiện này phải tiêu diệt ngay bằng cung tên. Ở Ai Cập, Hy Lạp, La mã
người ta coi bệnh dại là sự trừng phạt của thượng đế vì sự bí mật của căn nguyên gây bệnh
cũng như sự khủng khiếp của các triệu chứng lâm sàng [10, 16, 47].
Một trăm năm sau công nguyên, Celse đã biết rằng độc tố đã được truyền từ chó sang
người và muốn loại bỏ độc tố này cần phải đốt vết thương bằng que sắt nung đỏ [46].
Hai trăm năm sau công nguyên, Galien đã đề ra phương pháp phẫu thuật cắt bỏ phần
cơ thể bị vết cắn để ngăn ngừa sự phát bệnh dại [47].
Đầu thế kỷ 19, Zinke đã chứng minh được tính lây nhiễm có trong nước dãi của chó
dại. Tại viện Lion, Galtier đã thành công trong việc gây bệnh thực nghiệm trên thỏ và thử
nghiệm gây miễn dịch cho cừu bằng cách tiêm nước bọt của con vật bị bệnh dại vào tĩnh
mạch con vật lành.
Năm 1884, Louis Pasteur đã thành công trong việc nghiền não tuỷ của chó mắc bệnh
dại cho người [2].
Ở các nước đang phát triển, biện pháp phòng chống chủ yếu tập trung vào việc tăng
cường sản xuất và nâng cao chất lượng vaccine, huyết thanh phòng bệnh dại, đẩy mạnh công
tác tuyên truyền và giáo dục nhân dân về việc hạn chế nuôi chó, tiêm chủng thường xuyên
cho chó, mèo, cách xử lý khi bị súc vật nghi dại cắn. Tăng cường công tác giám sát dịch tễ
học bệnh dại để biết chính xác dịch tễ học bệnh dại và thực hiện tiêm phòng cho các đối
tượng có nguy cơ phơi nhiễm.
Đối với bệnh dại ở súc vật: thiết lập hệ thống giám sát trung tâm có trang thiết bị phòng
thí nghiệm chẩn đoán, có đội ngũ chuyên gia theo dõi. Thành lập chương trình kiểm soát và
hạn chế đàn chó lang thang, thực hiện tiêm phòng thường kỳ cho đàn chó.
Thực hiện giám sát kiểm dịch Quốc tế khi xuất nhập các súc vật qua biên giới. Tăng
cường hợp tác khoa học giữa các nước và khu vực có bệnh dại lưu hành [2].
1.3.4. Các loại vắc xin tế bào phòng bệnh dại sản xuất trên thế giới
này có độ an toàn và hiệu lực cao, được sản xuất và sử dụng tại Nhật Bản từ 1965.
Vaccine trên tế bào thường trực Vero (Verorab): sử dụng chủng PM thích nghi trên tế
bào thường trực vero đời 137, vaccine được bất hoạt, cô đặc và tinh chế sau đó đông
khô, vaccine có độ an toàn và tính sinh miễn dịch cao. Được sản xuất tại Pháp từ
1984.
1.4. Nghiên cứu trong nƣớc liên quan đến đề tài
Trước đây đã có nghiên cứu về dịch tễ học phân tử của bệnh dại tại Việt Nam do tác
giả Yamagata và cộng sự (2007) [52], đã tiến hành phân lập vi rút dại từ chó tại Thành phố Hồ
Chí Minh và một số tỉnh miền Nam Việt Nam. Kết quả của đề tài là đã so sánh trình tự
nucleotide của gien N vi rút dại với một số chủng từ các nước Châu Á khác, và kiến nghị rằng
có sự liên hệ chặt chẽ về mặt tiến hóa giữa các chủng tại Miền Nam Việt Nam với các chủng
từ Thái Lan và có thể có cùng chung một nguồn gốc.
1.5. Chẩn đoán phòng thí nghiệm
Chẩn đoán xác định bệnh dại trong phòng thí nghiệm dựa vào các phương pháp sau:
- Xác định kháng nguyên của vi rút bằng kỹ thuật FA hoặc ELISA
- Phân lập và xác định vi rút: phân lập trên tế bào hoặc trên chuột.
- Xác định vật liệu di truyền của vi rút bằng các kỹ thuật sinh học phân tử.
Chuẩn độ kháng thể trung hoà có trong huyết thanh của người sau khi tiêm vắc xin
bằng thử nghiệm trung hoà huyết thanh trên chuột (MNT) hoặc thử nghiệm ức chế tạo đám
miễn dịch huỳnh quang (RFFIT) hoặc FAVN.
Kỹ thuật miễn dịch gắn men (ELISA), sử dụng glycoprotein dại tinh khiết để xác định
hiệu giá kháng thể trung hoà có trong huyết thanh người và động vật. Thử nghiệm cho kết
quả nhanh nhưng giá thành đắt [16].
Các kỹ thuật sinh học phân tử xác định ARN của vi rút dại
Mẫu bệnh phẩm là nước bọt, nước tiểu, dịch não tuỷ.
Phát hiện axit nucleic của vi rút bằng kỹ thuật RT – PCR, nested RT – PCR, real time PCR,
từ mẫu bệnh phẩm lâm sàng, có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, cho kết quả nhanh chóng.
1.5.1.2. Sau khi bệnh nhân tử vong
Não tử thi ở các vùng khác nhau như dưới đồi, nhân não, chất xám, tiểu não.
Các kỹ thuật chẩn đoán trên não tử thi cũng tương tự như các kỹ thuật chẩn đoán trên
lâm sàng, nhưng có thêm kỹ thuật xác định tiểu thể Nergi ở tế bào thần kinh trong mô não tử
thi.
Kỹ thuật xác định tiểu thể Negri
Não được phết lên lam kính, nhuộm theo phương pháp Seller hay Mann, soi lên kính
hiển vi tìm tiểu thể Negri thường khu trú trong tế bào thần kinh sừng Amon có kích thước
khoảng 0,25 – 25 m, bắt màu hồng Eosin. Phương pháp này cho kết quả nhanh, sau khoảng
1 giờ.
1.5.2. Chẩn đoán trên động vật Bệnh phẩm là não động vật nghi dại. Lấy não vùng sừng Amon hai bên, vùng dưới
đồi, cuống não, nhân não, chất xám. Các kỹ thuật chẩn đoán áp dụng như trên bệnh phẩm não
tử thi.
1.6. Các kỹ thuật sinh học phân tử ứng dụng trong chẩn đoán và nghiên cứu vi rút dại
1.6.1. Các phương pháp định týp và nghiên cứu sự tiến hóa của vi rút Dại
Phương pháp miễn dịch: Sử dụng kháng thể đơn dòng đặc hiệu với các chủng đại diện của
các kiểu gien để định týp các vi rút dại hoang dại phân lập được. Phương pháp đòi hỏi phải
genotype mới chính xác.
1.6.2. Kỹ thuật RT – PCR (Reverse Transcriptase Polymerase Chain Reaction)
1.6.3. RT - Realtime PCR
1.6.4. RT - LAMP
1.6.5. Kỹ thuật sequencing
các vạch này giải được trình tự của đoạn ADN [14].
1.6.5.1. Giải trình tự bằng máy tự động
Các phòng thí nghiệm hiện nay hầu hết giải trình tự gien bằng phương pháp enzyme, sử
dụng máy tự động chứ không dùng kỹ thuật xạ ký tự ghi như trước đây. Để thực hiện được giải
trình tự bằng máy tự động thì các mạch ADN đơn sản sinh trong ống phản ứng giải trình tự
phải được đánh dấu huỳnh quang để các vạch điện di của các mạch đơn này phát sáng khi đi
qua một chùm tia sáng laser. Cấu tạo của một máy tự động giải trình tự gồm hai phần chính
yếu, đó là: phần điện di với gel polyacrylamide và phần phát hiện các vạch điện di. Phần điện di polyacrylamide có thể là một bản gel hay là một ống mao quản chứa gel. Phần phát hiện
vạch điện di là những con mắt cảm quang và một chùm tia laser đi qua trước nó. Nguyên tắc
hoạt động của máy là trong suốt quá trình điện di, mỗi khi có một vạch điện di đi qua chùm
tia laser thì vạch điện di sẽ phát sáng lên và sự phát sáng này sẽ được con mắt cảm quang
ghi nhận và lưu lại thành một đỉnh cường độ sáng trong biểu đồ. Từ biểu đồ của các đỉnh
cường độ sáng này, máy sẽ so dòng của các đỉnh tương ứng với các màu để cuối cùng phân
tích thành trình tự của đoạn ADN. CHƢƠNG 2
VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- 102 mẫu bệnh phẩm dịch não tuỷ, nước bọt được lấy từ 63 bệnh nhân nghi dại điều trị
tại viện Các Bệnh Truyền Nhiễm và Nhiệt Đới Quốc Gia; khoa truyền nhiễm, bệnh viện Bạch
U22641, GUI9024; U22633, AFS8721; U22656, RUS9141; U22474, FRA9147;
U22840, POL8618; U22479, BRAZIL.
- Một số chủng vi rút dại lưu hành ở khu vực lân cận như Trung Quốc, Malaysia,
Philippines, Nepal: U22918, 94260NEP; U22653, 8738THA; U22916, 8677MAL;
AB070817PHI; EF555106, SDJNCN01; EF555102, CQQJDN06; EF555112, GDZQDN45; EF555098, CQQJDN02; EF555099, CQQJDN03; EF555100,
CQQJDN04; EF555101, CQQJDN05; AB299032, AB299033, AB299034,
AB299035, AB299036, AB299037, AB299038, AB299039 VN.
2.2.3. Sinh phẩm, hóa chất
Các sinh phẩm, hóa chất và vật liệu cần thiết khác để thực hiện kỹ thuật RT – PCR và
sequencing.
2.2.4. Trang thiết bị, dụng cụ
2.2.5. Xác định và định týp vi rút
2.2.5.1. Xác định vi rút bằng kỹ thuật RT-PCR
2.2.5.2. Xác định týp vi rút
là 50cm. Thì mỗi lần chạy đọc được 4 giếng theo chiều dọc của đĩa từ A đến H và mất 2
giờ 30 phút cho mỗi lần chạy.
Trình tự nucleotide được phân tích theo các thông số của phần mềm đi kèm theo máy
giải trình tự (chất lượng đọc các nucleotide, phát hiện SNP là trạng thái đa dạng kiểu
nucleotide tại một vị trí trên gien )
b/ Xác định týp vi rút dại
Sử dụng các phần mềm tin-sinh học trong nghiên cứu, bao gồm các chương trình
Chromas, BioEdit, Lasergene, và MEGA4.0, để thu nhận, xử lý, phân tích các chuỗi
nucleotide, axit amin và các đặc điểm sinh học phân tử gien N của vi rút dại và xây dựng
mối quan hệ phả hệ định týp các chủng vi rút dại phân lập tại Việt Nam.
Các chủng vi rút dại thuộc đại diện cho các genotype khác nhau như chủng PV
(Pasteur Virus) và CVS (chủng vi rút thử thách) thuộc genotype 1, chủng vi rút dơi Lagos
thuộc genotype 2, chủng vi rút Mokola thuộc genotype 3, chủng vi rút Duvenhage thuộc
Kết quả chẩn đoán phòng thí nghiệm vi rút dại trên người và động vật cho thấy vi rút lưu
hành tại 9 tỉnh miền Bắc: Hà Nội, Tuyên Quang, Hòa Bình, Phú Thọ, Sơn La, Thái Bình, Lạng
Sơn, Yên Bái, Lào Cai phù hợp với số liệu báo cáo thống kê của chương trình phòng chống
bệnh dại Quốc Gia, Bộ Y tế, 2006 – 2011. Đây chính là 10-11 tỉnh trọng điểm có bệnh nhân tử
vong vì bệnh dại cao nhất trên toàn quốc (Nguyễn Thị Thanh Hương, 2012). Việc khẳng định
phòng thí nghiệm là có sự lưu hành vi rút dại ở chó cho thấy nguồn truyền bệnh dại chủ yếu
cho người chính là đàn chó bị nhiễm dại tại địa phương. Do tập quán thích nuôi chó, nuôi chó
thả rông và tỷ lệ tiêm phòng cho chó ở khu vực nông thôn phía Bắc chỉ đạt 15 – 30%, thậm chí
ở những vùng sâu, vùng xa không tổ chức tiêm phòng cho đàn chó mèo [1,3]. Đây chính là
nguyên nhân chính gây ra bùng phát dịch tại địa phương và lan rộng ra vùng xung quanh. Do
vậy, cần phải có chiến lược kiểm soát bệnh dại ở động vật như tiêu hủy đàn chó nhiễm bệnh, tổ
chức chiến dịch tiêm phòng cho chó để đạt được tỷ lệ tiêm phòng vắc xin > 80% và giám sát
phòng thí nghiệm vi rút dại ở động vật nhằm phát hiện sớm các ổ dịch để có biện pháp can
thiệp kịp thời cũng như đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng chống dại ở động vật.
3.1.2. Kết quả định týp các chủng vi rút dại lƣu hành tại miền Bắc, Việt Nam 2006 –
2012
3.1.2.1. Kết quả định týp các chủng vi rút dại lưu hành ở miền Bắc Việt Nam, 2006 – 2012.
Trình tự nucleotide gien N của 47 chủng vi rút dại được đưa vào phân tích, trong đó có:
31 chủng vi rút dại lưu hành ở miền Bắc, 2006 – 2012 (kết quả từ đề tài nghiên cứu);
8 chủng vi rút dại lưu hành ở miền Nam, Tây Nguyên, 2006 – 2009 (tham khảo tại
ngân hàng gien);
8 chủng vi rút dại đại diện cho 7 genotype của Lyssavirus và chủng vi rút sản xuất vắc
xin.
Hiện nay, để xác định được genotype của vi rút dại có hai phương pháp phổ biến là phương
pháp huyết thanh học và phương pháp sinh học phân tử. Phương pháp huyết thanh học cần sử
dụng kháng thể đơn dòng đặc hiệu với các kiểu gien để định týp các vi rút dại hoang dại phân
lập được. Phương pháp này đòi hỏi phải phân lập được vi rút, mà việc phân lập vi rút trên các
mẫu bệnh phẩm lâm sàng của người trong giai đoạn bệnh nhân vẫn còn sống (dịch não tủy,
nước bọt) là vô cùng khó khăn và phải có hệ thống huyết thanh chuẩn của từng týp huyết
thanh. Do đó mất nhiều thời gian và kém hiệu quả so với kỹ thuật sinh học phân tử. Trong
cộng sự., 1993, 1999; Kissi và cộng sự., 1995; Kuzmin và cộng sự., 2005). Một nguyên nhân
quan trọng về mức độ bảo tồn cao của trình tự axit amin, đặc biệt ở những vùng đặc hiệu của
gien N, có thể là do chúng giữ các chức năng quan trọng. Mặt khác, những khác biệt về axit
amin có thể là do các epitope chuyên biệt genotype trên gien N có khả năng phân loại các vi
rút thành các genotype khác nhau dựa trên cơ sở các kiểu hoạt tính của chúng (đặc tính kháng
nguyên) nhờ một bộ mẫu chuẩn các kháng thể đơn dòng kháng N (Mabs) (Flamand và cộng
sự., 1980a; Dietzschold và cộng sự., 1987a; Smith, 1989). Sự đa dạng về chất lượng trong gien
N cũng được khai thác ở mức độ nucleotide bằng kỹ thuật PCR (Sacramento và cộng sự,
1991; Bourhy và cộng sự, 1993; Kuzmin và cộng sự, 2003). Vị trí gắn trên gien N để giúp
chúng có khả năng tương tác với ARN của vi rút được đặt trên một vùng gien N từ axit amin
298 đến 352 (Kouznetzoff và cộng sự, I998). Sau khi gắn vào ARN của vi rút, gien N thực
hiện việc thay đổi cấu tạo thì cần một số epitop, mà một trong số chúng cho phép axit amin
serine (S) tồn dư ở vị trí 389 trên gien N được phosphoryl hóa (Dietzschold và cộng sự, 1987a;
Anzai và cộng sự., 1997; Kawai và cộng sự., 1999; Toriumi và Kawai, 2004). Trong quá trình
sao chép ARN ở tế bào nhiễm bệnh, có ý kiến cho rằng việc tạo vỏ capsid của ARN vi rút mới
là do gien N tạo ra một hình dáng giống vỏ capsid làm thay đổi gien N từ đó tạo ra tồn dư S389
cần thiết cho quá trình phosphoryl hóa (Kawai và cộng sự., 1999). Sau đó quá trình phosphoryl
hóa gien N củng cố mối tương tác giữa gien N và P trong phức hợp RNP của vi rút dại
(Toriumi và Kawai, 2004). Từ đó suy luận rằng quá trình phosphoryl hóa của gien N sau khi
tạo vỏ capsid ARN là rất quan trọng trong việc điều chỉnh việc sao chép và dịch mã ARN của
vi rút (Yang và cộng sự., 1999; Wu và cộng sự., 2002; Liu và cộng sự., 2004).
Mức độ đồng nhất nucleotide khi phân tích trình tự nucleotide của gien N gồm 500
nucleotide – Nu của các chủng vi rút dại lưu hành tại miền Bắc, Việt Nam, 2006 – 2012 với
các chủng vi rút dại lưu hành tại miền Nam 2006 – 2009 và một số nước lân cận cho thấy có
độ đồng nhất cao và cao nhất với nhóm chủng phân lập ở miền Nam, Việt Nam (87,7% -
99,2%) , tiếp đó tới nhóm chủng phân lập ở Philippines (87,5% - 100%), Trung Quốc –
Guangxi (82,2% - 92,8%) và thấp nhất là các chủng phân lập tại Tây Á (81,8% – 88,6%). Độ
đồng nhất nucleotide ở đoạn gien N phân tích của các chủng vi rút phân lập ở Việt Nam so với
các chủng vi rút sản xuất vắc xin dại dại Fuenzalida (chủng PV); Verorab (chủng PM) và
chủng Vnukovo – 32 là 84,5% - 96,9%.
KẾT LUẬN
1. Xác định và định týp vi rút dại lƣu hành tại miền Bắc Việt Nam, 2006 – 2012.
Các chủng vi rút dại lưu hành tại miền Bắc Việt Nam, 2006 - 2012 đều thuộc
genotype 1 của Lysavirus và được chia làm 2 nhóm.
Cả hai nhóm vi rút dại đều có các nhánh được tạo thành từ các chủng vi rút phân lập ở
miền Bắc Việt Nam và một số chủng vi rút dại lưu hành tại Trung Quốc.
2. Đặc điểm nucleoprotein của vi rút dại lƣu hành tại miền Bắc Việt Nam, 2006 –
2012.
Mức độ tương đồng axit amin và nucleotide của các chủng vi rút dại lưu hành ở miền
Bắc Việt Nam năm 2006 - 2012 so với các chủng sản xuất vắc xin (PM, PV và
Vnukovo) là 92,2 – 97,1% và 84,5 – 96,9%.
Xuất hiện các chủng vi rút mang đa hình đơn nucleotide đặc trưng ở vị trí T124 và
C330 trên trình tự nucleotide của gien N của vi rút dại lưu hành tại miền Bắc Việt
Nam và một số chủng lưu hành ở Trung Quốc.
Các đa hình đơn nucleotide xuất hiện tạo nên các axít amin đặc trưng tại vị trí S42
(Serin 42) và D110 (Aspartic 110) trên gien N của vi rút dại lưu hành tại miền Bắc
Việt Nam và một số chủng lưu hành ở Trung Quốc .
KIẾN NGHỊ
1. Cần phải tăng cường giám sát phòng thí nghiệm vi rút dại và nghiên cứu đặc điểm
dịch tễ học phân tử của vi rút để hiểu rõ về nguồn gốc các vụ dịch bùng phát, góp
phần xây dựng chiến lược phòng chống bệnh dại hiệu quả trong tương lai.
2. Cần thực hiện các biện pháp truyền thông cho những đối tượng có nguy cơ như người
làm nghề giết mổ chó, mèo, nhân viên thú y cần phải tiêm phòng vắc xin dại trước
phơi nhiễm.
3. Thúc đẩy việc thực thi nghị định 05 của Chính Phủ về kiểm soát bệnh dại ở động vật
như nuôi chó phải đăng ký và tiêm phòng cho chó; không giết mổ động vật nghi dại;
thực hiện đúng nguyên tắc xuất, nhập khẩu động vật; tiêu hủy động vật bị dại và xử lý
ổ dịch đúng quy định.
12. Lê Duy Thành và CS (2008), “Cơ sở sinh học phân tử”. NXB Giáo Dục, tr: 134 – 153.
13. Phạm Hùng Vân (2009), "PCR và realtime PCR, các vấn đề cơ bản và các áp dụng
thường gặp": tr. tr 9-36.
14. Phạm Hùng Vân (2009), "PCR và giải trình tự": tr. tr 81-87.
15. Tạ Thành Văn (2009), "Nguyên lý ứng dụng của PCR và một số kỹ thuật y sinh học
phân tử": tr. tr:10-12.
16. Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương (2010), "Virus y học": tr. tr.139-156.
17. Đinh Kim Xuyến, Trần Văn Tiến (1996), “Một số nhận xét về tình hình bệnh dại ở
Việt Nam trong 5 năm 1991 – 1995”. Tạp chí Vệ Sinh Phòng Dịch, IV, tr 19 – 20.
18. Đinh Kim Xuyến (2001), “Bệnh dại ở Việt Nam”. Tập san của Hội nghị Quốc tế
“Giám sát bệnh dại ở châu á” lần IV, HN 3/ 2001, tr:19 – 20.
19. Đinh Kim Xuyến (2007), "Tình hình bệnh dại ở Việt Nam từ 1994 – 2007".
Tiếng Anh
20. Anh K.T. Nguyen, Dong V. Nguyen, Giang C. Ngo, Thu T. Nguyen, Satoshi Inoue,
Akio Yamada, Xuyen D. Kim, Dung V. Nguyen, Thao X. Phan, Bao Q. Pham, Hien
T. Nguyen, and Hanh T. H. Nguyen (2011), "Molecular of rabies virus in Vietnam,
2006 – 2009", Jpn, J. Infect. Dis., 64, pp 391 – 396.
21. Baer GM., Bellini WJ., (1990), “Rhabdoviruses”, Virology, Second Edition Field BN
ed., pp 883- 930.
22. Bourhy, H., Kissi, B., Tordo, N. (1993), "Molecular diversity of lyssavirus genus",
Virology, 194, pp 70 – 81 23. Bourhy, H. (2008), "Rabies diagnosis", Conference of sharing information on rabies
control and prevention among ASEAN plus three countries, setion 5, 21 – 24 April,
2008.
24. B. Boldbaatar, S. Inoue, N. Sugiura, A. Noguchi, (2009), "Rapid detection of rabies
virus by reverse transcription loop-mediated isothermal amplification", Jpn J Infect
Dis, 62(3): tr. 187-91.
Academic press, pp 125 – 126.
39. Kissi, B., Tordo, N and Bourhy, H. (1995), "Genetic polymorphism in the rabies virus
nucleoprotein gen", Virology, 209, pp 526 – 537.
40. Kureishi A, Xu LZ, Wu H, Stiver HG (1992), "Rabies in China: Recommendations
for control", Bull World Health Organ 70: 443-4750.
41. Ky Dang Van (2007), “Animals rabies control and prevention in Vietnam”, ASEAN +
3 conference on sharing information on rabies and prevention, Halong, Vietnam Apr.
2007.
42. Mcevoy Gerald K. (2005), "Rabies Vaccine", AHFS Drug Information: tr. 3303 -
3310.
43. National Institute of Hygiene Epidemiology (2012), "Rabies conference for 10 main
point rabies provinces", held in ThaiNguyen, June, 2012.
44. N. Mori, Y. Motegi, Y. Shimamura, T. Ezaki, (2006), "Development of a new method
for diagnosis of rubella virus infection by reverse transcription-loop-mediated
isothermal amplification", J Clin Microbiol, 44(9): tr. 3268-73. 45. Perry Ll. (1990), "Rabies vaccines from Pasteur’s time up to experimental subunit
vaccines today", Viral vaccines: tr. 325-345.
46. Qi Liu, Yi Xiong, Ting Rong Luo, You-Chuan Wei, Song-Jian Nan, Fang Liu,Yan
Pan, Li Feng, Hua-Ming Li (2007), "Molecular epidemiology of rabies in Guangxi
Province, south of China", Journal of Clinical Virology, 39, pp 295–303.
47. Tordo N. (1996), "Characteristic and molecular biology of the rabies virus",
Laboratory Techniques in rabies, 4th edition: pp 28 – 50.
48. Selimov M. A. (1982), "Rabies", Moscow Medistina: tr. 182 - 185.
49. Wagner RR., (1990), “Rhabdoviridae and their replication”, Field BN, Knipe
DM,eds.Virology. NewYork, Raven Press, pp 867-881.
50. Wallerstein C (1999), "Rabies cases increase in the Philippines". BMJ 318: 1306.
51. Xiao-Yan Tao, Qing Tang, Hao Li, Zhao-Jun Mo, Hong Zhang, Ding-Ming Wang,
Qiang Zhang, Miao Song, Andres Velasco-Villa, Xianfu Wu, Charles E. Rupprecht,