đặc điểm nhân vật trữ tình trong ca dao cổ truyền việt nam - Pdf 32


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

TRẦN THANH VÂN

ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT TRỮ TÌNH
TRONG CA DAO CỔ TRUYỀN
VIỆT NAM
LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH
VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ : 5. 04. 33

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TSKH BÙI MẠNH NHỊ

- TP. HỒ CHÍ MINH 12/2002 -


MỤC LỤC
MỤC LỤC ............................................................................................................ 3
T
1

T
1

DẪN LUẬN .......................................................................................................... 6
T
1



5. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN: ....................................................................................... 11
T
1

T
1

CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC VỀ BẢN CHẤT TRỮ TÌNH, NHÂN VẬT TRỮ
T
1

TÌNH VÀ NHÂN VẬT TRONG CA DAO TRỮ TÌNH ................................ 12
T
1

CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG BÀI CA VỀ TÌNH YÊU
T
1

LỨA ĐÔI ........................................................................................................... 28
T
1

2.1.MỘT SỐ NHẬN XÉT CHUNG ................................................................................... 28
T
1

T
1


2.5.1. Các mẫu đề và hình ảnh truyền thống .................................................................. 41
T
1

T
1

2.5.2. Những nỗi niềm trái ngang của ánh yêu đôi lứa................................................... 49
T
1

T
1

2.5.3. Tính chất lành mạnh và tiến bộ của tình yêu trong ca đao ................................... 53
T
1

T
1

CHƯƠNG 3: NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG BÀI CA VỀ TÌNH CẢM
T
1

GIA ĐÌNH .......................................................................................................... 59
T
1


3.2.2.1. Nỗi ngang trái vì hôn nhân bị ép gả .............................................................. 69
T
1

T
1

3.2.2.2. Nỗi ngang trái bất hạnh trong cảnh làm lẽ:................................................... 73
T
1

T
1

3.2.2.3. Nỗi bất hạnh của người vợ trong quan hệ mẹ chồng - nàng dâu: ................. 76
T
1

T
1

3.3. NHÂN VẬT TRỮ TÌNH - NGƯỜI CON ................................................................... 78
T
1

T
1

3.3.1.Một số nhận xét chung .......................................................................................... 78
T


T
1

4.2. THẾ GIỚI TÌNH CẢM CỦA NHÂN VẬT NGƯỜI NÔNG DÂN ............................ 92
T
1

T
1

4.2.1. Tình cảm của người nông dân trong lao động sản xuất ........................................ 92
T
1

T
1

4.2.2. Tình cảm của người nông dân trong quan hệ làng xóm, đất nước, con người ..... 95
T
1

T
1

4.2.3. Tình cảm của người nông dân trong quan hệ với những kẻ áp bức, thống trị ...... 98
T
1

T

I/ NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG TÌNH YÊU ĐỐI LỨA ........................................... 117

T
1

T
1

1. Chân dung nhân vật .................................................................................................. 117
T
1

T
1

1.1.Chân dung "em" ................................................................................................. 117
T
1

T
1

1.2. Chân dung "anh - em"....................................................................................... 119
T
1

T
1



T
1

T
1

1.1.Hạnh phúc gia đình ............................................................................................ 137
T
1

T
1

1.2. Những bất hạnh ngang trái................................................................................ 139
T
1

T
1

2. Quan hệ cha me, con cái ........................................................................................... 145
T
1

T
1

III. NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG LAO ĐỘNG ........................................................ 149

T

Những loại nhân vật này được thể hiện ra sao và có những tâm trạng tình cảm tiêu
biểu gì ? hệ thống hình ảnh tương ứng với từng loại nhân vật là thế nào ? ... Đó là
những vấn đề rất cơ bản của thể loại, thi pháp thể loại. Chúng ta đã quan tâm nhiều
đến thể thơ, kết cấu, đến các hình ảnh so sánh, ẩn dụ, biểu tượng, dù rằng sự quan tâm
ấy vẫn còn phải tiếp tục, nhưng có lẽ chúng ta chưa chú ý đúng mức đến các nhân vật
trữ tình của ca dao. Vì vậy chọn nghiên cứu về các nhân vật trữ tình trong ca dao là
điều rất cần thiết và có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn. Nó sẽ giúp ta thấy rõ hơn
đặc trưng thể loại và từ đó soi sáng vào vấn đề nghiên cứu, giảng dạy các tác phẩm ca
dao.

2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ :
Trước Cách mạng Tháng 8, việc tìm hiểu ca dao tập trung chủ yếu vào công việc
sưu tầm ca dao và miêu tả những hình thức sinh hoạt, ca hát của nhân dân. Trong mấy
chục năm đầu thể kỷ XX, các nhà Nho (trong đó có người làm quan) tiếp tục truyền


thống ghi chép, biên soạn văn học dân gian có từ các thế kỷ trước và chữ Nôm (là chủ
yếu) được dùng để biên soạn ca dao. Các nhà Nho đã trân trọng và đánh giá cao thơ ca
dân gian, nhưng những công trình của họ chi mới dừng ở mức độ là cung cấp những
cứ liệu cho việc nghiên cứu lịch sử tục ngữ và thơ ca dân gian, chẳng hạn Thanh Hóa
quan phong (Vương Duy Trinh soạn - 1903); Đại Nam quốc túy (Ngô Giáp Đậu soạn
- 1908); Việt Nam phong sử (Nguyễn Văn Mại biên soạn -1914); Nam âm sự loại (Vũ
Công Thành soạn - 1925).v.v...
Vào đầu thế kỷ XX, ở nước ta đã xuất hiện những trí thức Tây học. Nhiều người
trong số đó là những người yêu nước, đã góp phần quan trọng vào việc nghiên cứu
văn hoa, phong tục Việt Nam nói chung và ca dao nói riêng.
Học giả Nguyễn Văn Huyên đã có những công trình rất sáng giá về mặt tư liệu
cũng như phương pháp luận như Hát đối cửa nam nữ Thanh Niên ở Việt Nam (1934);
Những khúc ca đám cưới Tày ở Lạng Sơn và Cao Bằng (1941).
Cũng về lĩnh vực sưu tầm nghiên cứu ca dao thời kỳ này còn phải kể đến

cứu theo típ và môtíp của Nguyễn Tấn Đắc, vấn đề công thức truyền thống và đặc
trưng cấu trúc ca dao của Bùi Mạnh Nhị; phương pháp nghiên cứu theo hệ thống của
Đỗ Bình Trị (Xem thư mục của luận văn)... đã giúp chúng tôi đi tìm hiểu về đề tài này
. Những công trình này tuy không trực tiếp nghiến cứu nhân vật trữ tình nhưng đó là
những gợi ý về nội dung, hướng nghiên cứu để người viết bước đầu tìm hiểu đề tài.

3.NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
Luận văn của chúng tôi hướng tới những nhiệm vụ sau:
3.1.Xác định đặc điểm trữ tình trong ca dao và đặc điểm nhân vật trữ tình trong
ca dao. Đây là vấn đề có ý nghĩa cơ sở. Nhiệm vụ này được thể hiện ở chương 1. Ở
chương này chúng tôi sẽ xác định một số vấn đề thuộc về bản chất trữ tình của thể loại
và tập trung trình bày những vấn đề riêng trong bản chất trữ tình của ca dao cũng như
khái niệm nhân vật trữ tình trong ca dao.
Ở đây chúng tôi cũng sẽ cố gắng so sánh nhân vật trữ tình trong ca dao và nhân
vật trữ tình trong văn học viết.


3.2.Luận văn bước đầu mô tả một số loại nhân vật trữ tình trong các bài ca.
Chúng tôi sẽ phân loại và miêu tả các nhân vật theo các nhóm bài ca thuộc các chủ đề
khác nhau. A. M. Nôvicôva đã nhận xét khi phân loại dân ca Nga: "Theo chúng tôi
quan niệm thì nguyên tắc quyết định sự phân loại chi có thể là nguyên tắc chủ đề,
đồng thời có tính đến đặc điểm thể loại đặc biệt của từng nhóm" [ 2]. Do vậy chúng
tôi sẽ miêu tả những bài ca nhân vật trữ tình theo các nhóm chủ đề. Cụ thể là nhân vật
trữ tình trong ba nhóm bài ca:
- Nhóm bài ca về tình yêu lứa đôi
- Nhóm bài ca về tình cảm gia đình
- Nhóm bài ca về các quan hệ xã hội khác
Ở mỗi nhóm bài ca đó, chúng tôi chi tập trung miêu tả một số nhân vật chính với
những nét tiêu biểu nhất của nó. Cụ thể, ở bài ca tình yêu lứa đôi, chúng tôi miêu tả,
nhận xét về hai nhân vật trung tâm của nó; đó là nhân vật chàng trai và cô gái. Đối với

4.2.Phương pháp:
- Dùng phương pháp nghiên cứu liên ngành. Cụ thể chúng tôi sẽ vận dụng những
tri thức, thành tựu của các ngành khoa học như : Văn học; ngôn ngữ học, xã hội học,
văn hóa học, văn hóa dân gian, lịch sử học ... để tìm hiểu những vấn đề liên quan tới
đề tài.
- Phương pháp hệ thống. Cụ thể là tìm hiểu các nhân vật trong quan hệ với đặc
trưng thể loại, với các yếu tố tạo thành đặc trưng hệ thống nhân vật. ở đây chúng tôi
đặc biệt chú ý những truyền thống lịch sử - xã hội, văn hóa và truyền thống của ca
dao. Truyền thống chi phối và thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau: đề tài, nhân
vật, hình ảnh, ngôn ngữ. Chứng tôi sẽ bước đầu cố gắng đặt nhân vật trong những hệ
thống như vậy để xem xét.
- Phương pháp phân tích tổng hợp. Phương pháp này giúp cho việc phân tích cụ
thể và khái quát nhữhg đặc điểm của nhân vật.
- Phương pháp so sánh. So sánh cái riêng của ca dao với thơ, so sánh các nhóm
nhân vật với nhau và giữa các thể loại văn học dân gian với nhau.


5. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN:
Ngoài phần Dẫn luận và Kết luận, luận văn gồm bốn chương:
Chương 1: Sơ lược về bản chất trữ tình, nhân vật trữ tình và nhân vật trong ca
dao trữ tình.
Chương 2: Nhân vật trữ tình trong bài ca về tình yêu lứa đôi.
Chương 3: Nhân vật trữ tình trong bài ca về tình cảm gia đình.
Chương 4: Nhân vật trữ tình trong bài ca về các mối quan hệ xã hội.


CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC VỀ BẢN CHẤT TRỮ TÌNH, NHÂN
VẬT TRỮ TÌNH VÀ NHÂN VẬT TRONG CA DAO TRỮ TÌNH
1. Ca dao thuộc loại trữ tình, một trong ba loại (bên cạnh tự sự và kịch) của tác
phẩm nghệ thuật ngôn từ. Đây là thể loại của thơ ca trữ tình dân gian.

sống tâm tình của nhân dân qua nhiều thế hệ "Không chờ đợi thơ chính qui, thơ
chuyên nghiệp diễn tả hộ cho mình, nhũhg người lao động đã, thế kỷ này qua thế kỷ
khác, diễn tả trực tiếp lòng mình yêu đương, sướng vui, đau khổ" [ 22 - Tr.189].
Tục ngữ Nga nhận xét: "Truyện cổ tích là hư cấu, còn dân ca là thực tại" [73 Tr.201]. Nếu truyện cổ tích "mở ra cánh cửa sổ" để "trông vào thế giới khác" [73 Tr.201], thế giới hư cấu, hoang đường, thế giới ước mơ, nơi nhân vật "ngồi trên tấm
thảm biết bay, đi hia vạn dặm, phục sinh những người đã chết bằng cách rắc nước thần
lên họ, chi trong một đêm thôi cũng xây dựng xong một toa lâu đài" [63 ], thì ca dao
tìm thi hứng ở ngay trong cuộc đời hằng ngày - cuộc đời đẫm mồ hôi, nước mắt đắng
cay tủi nhục song cũng luôn bồn chồn ấm áp những nhịp đập bồi hồi của tình cảm yêu
thương, dạt dào những khoái cảm của niềm vui, của sự cười cợt. Ca dao diễn tả sâu
sắc những nỗi thống khổ cũng như những khát vọng về quyền sống, quyền tự do tinh
thần của con người bị áp bức, nỗi bất bình của nhân dân đối với chế độ phong kiến hà
khắc. Nó cũng diễn tả rất sâu sắc, tinh tế những tình cảm yêu thương, chung thủy,
nhân nghĩa của con người. Ca dao giản dị và ám ảnh. Nó cứ mộc thế mà đau khổ, căm
giận và yêu thương nhức buốt.
-

Gánh cực mà đổ lên non

Còng lưng mà chạy, cực còn theo sau.

- Nước sông còn cố khi cạn khi đầy
Sao mà nhớ mãi thế này chàng ơi.

-

Ví dầu ruột cắt chẳng đau


Cắt ra từng đoạn cho nhau mà về.
Có thể khẳng định rằng: toàn bộ ca dao trữ tình trước hết và chủ yếu là tiếng hát

Dựa theo xác định trêu, có thể thấy, trong thơ trữ tình, chủ thể trữ tình và nhân
vật trữ tình không phải lúc nào cũng đồng nhất. Và trong thơ, ngay cả thơ cổ điển -nơi
chi có cái tôi "vô ngã", "cái tôi vũ trụ", chủ thể trữ tình và nhân vật trữ tình là sở hữu
của người sáng tác, mang dấu ấn của cá nhân người sáng tác. Cho nên ta có thể dễ
dàng nhận ra thơ và các nhân vật trữ tình của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Gia
Thiều, Hồ Xuân Hương, ở ca dao vấn đề hoàn toàn khác. Trong ca dao, chủ thể trữ
tình và nhân vật trữ tình thống nhất với nhau làm một và luồn biểu hiện cho tiếng nói
chung của tập thể. Đỗ Bình Trị viết: "Trong dân ca - ca dao (của mọi dân tộc) không
có cái dấu ấn của cá nhân ("con người này"), ở đây, chủ thể trữ tình (tức là tác giả)
luôn luôn đồng nhất với nhân vật trữ tình (tức là nhân vật mà cảm nghĩ của nó được
diễn tả trong "bài ca" và đó không phải là một cá nhân riêng rẽ mà là một quần thể).
Có thể nói, đó là hiện thân trữ tình của quần chúng nhân dân" [104 -tr.122].
Để làm sáng tỏ thêm điều này, chúng tôi xin dẫn thêm ý kiến kinh điển của
Hêghen. Theo Hêghen, so với thơ trữ tình, "ở thơ ca dân gian, mặc dù hình thức của
nó hiển nhiên là trữ tình, nghĩa là có tính chất chủ quan, dẫu sao vẫn còn thiếu cái chủ
thể, thiếu cái cá nhân người sáng tạo, mà ta có thể nói rằng cái hình thức ấy và nội
dung ấy là của riêng người ấy, là một sản phẩm của tài năng nghệ thuật, là một biểu
hiện của tâm hồn và trí tuệ người ấy" [ 40 - tr.682]. Chủ thể và nhân vật trữ tình ở ca
dao chưa phải là một cá nhân riêng rẽ, mà là "một cá nhân biết biểu hiện cách cảm
nghĩ của nhân dân", cá nhân đó "chi là một khí quan qua đó yếu tố trữ tình của đời
sống dân tộc biểu hiện". [ 40 - tr.682]
Như vậy chủ thể trữ tình và nhân vật trữ trong ca dao là đồng nhất và thường là
phi cá thể hóa. Sự cá thể hoa không phát triển trong văn học dân gian nói chung và
trong ca dao nói riêng. Diện mạo của các nhân vật trữ tình trong ca dao là cái chung.
Do đặc điểm này, đồng thời do những đặc điểm Folklore về nguyên tắc điển hình hóa,
tất cả các nhân vật được thể hiện trong văn học dân gian nói chung, ca dao nói riêng
đều có tính tổng quát, khái quát rộng rãi. Nhân vật của ca đao trữ tình là "chàng trai"
"cô gái", "người mẹ", "người vợ ", "người vợ lính", "người lính thú", "người nông



địa phương khác. Vì vậy đôi bên chi có thể giãi bày tâm sự riêng tư đến một mức độ


mà họ nói hộ được tiếng nói chung của cánh hát mình, giới mình, địa phương mình và
do đó của cả dân tộc. Nếu chưa đạt đến hoặc trái lại đã vượt quá cái giới hạn của sự
thống nhất "tôi - ta", "riêng - chung" ấy thì câu ca dao mất hay, mất tính phổ biến, cả
người hát người nghe đều mất hứìig và lẽ tự nhiên lối hát đối đáp và lời đối đáp càng
trở thành vô nghĩa và khó có lý do tồn tại.
Sự hài hòa giữa tâm hồn cá nhân và tình cảm của tập thể đó đã làm nên chất thơ
trữ tình dân tộc của ca dao, dân ca. Lối đối đáp sinh ra từ cuộc sống lao động tập thể,
từ cách sinh hoạt thơ ca tập thể, từ yêu cầu trao đổi tâm tình bằng miệng, bằng một lối
nói chuyện thực sự bằng thơ ca như vậy trong lúc chưa có chữ viết và sinh hoạt văn
học cá nhân. Lối đối đáp này do nội dung trữ tình và điều kiện thực tế qui định.
Nhưng ngược lại nó cũng chi phối, điều tiết được tình cảm cá nhân và tập thể để đảm
bảo sự hài hòa và thống nhất của hai xu hướng cá thể hóa và khái quát hóa trong ca
dao dân ca" [ 33 - Tr. 13].
Trong sinh hoạt ca dao, mỗi người trong tập thể nhân dân tùy từng cảnh ngộ, số
phận, đều có thể tìm thấy tiếng lồng, nỗi niềm của mình trong đó. Người hát như hát
về mình. Người nghe như nghe về mình. Ca dao vang lên từ nhu cầu được chia sẻ, tìm
tiếng gọi đàn, tiếng đồng vọng của những người cảnh ngộ tương đồng. Tất cả những
người cùng cảnh, cùng hội, cùng thuyền, nếu tự thấy mình đồng điệu, đều có thể dùng
chung những câu hát của nhau, như thể đó là tiếng hát cất lên tự trái tim chính mình
vậy. Chính vì lẽ đó mà ca dao được coi là tấm gương của tâm hồn, khí sắc dân tộc.
Nhà thơ Xuân Diệu nói ca dao "là thơ của vạn nhà" cũng chính là vì vậy.
4. Ca dao được coi là "một trong những dòng chính của thơ ca trữ tình"
(Hêghen). Với tính cách là thơ ca trữ tình, ca đao mang một đặc điểm nổi bật - Đó là
một lối thơ trữ tình - trò chuyện.[ 105 ]
Do đặc trưng trữ tình của sinh hoạt dân ca truyền thống là diễn xướng, đối đáp,
đồng thời do đặc trưng của mối quan hệ cộng đồng của người nông dân Việt Nam xưa
kia mà tính chất trữ tình trò chuyện in đậm trong cảm hứng trữ tình của ca dao và

con trước hết vẫn là để dỗ giấc ngủ cho trẻ, để kéo "cái ngủ" về đậu trên mi mắt con
thơ, rồi sau đó mới là bộc lộ niềm mơ ước. Người mẹ mơ ước những gì? Mơ cho con


ngủ yên, đầy giấc, cho con no đủ. Nhìn nhận bài ca dao theo tiêu chuẩn của trữ tình trò chuyện thì sẽ dễ theo dõi và đồng cảm với dòng cảm nghĩ của chủ thể trữ tình.
Ở ca dao, dù kết cấu theo lối đối đáp hay lối kể chuyện, ta hầu như luôn thấy
bóng dáng một nhân vật trữ tình đang trò chuyện, tức là kể chuyện hoặc giãi bày cảm
nghĩ, tâm tình với người khác.
Việc xác định chủ thể trữ tình, tức cũng chính là nhân vật trữ tình trong bài ca là
ai, đang nói với ai, là rất quan trọng. Xác định như thế nào, hiểu nội dung, giá trị trữ
tình của bài ca dao như thế ấy.
Xin dẫn một vài ví dụ :
Trời mưa bong bóng phập phồng
Mẹ đi lấy chồng con ở với ai.
Nếu hiểu đây là lời của người con thì đó là lời đứa con trách mẹ hoặc giãi bày để
"cầm chân" mẹ lại. "Trời mưa" là một hoàn cảnh đặc biệt. Con như "bong bóng phập
phồng", mỏng manh lắm, dễ tan lắm và sẽ mau tan thôi, mau bị cơn mưa cuốn trôi,
xóa sạch. Sao mẹ lại bỏ con đi bước nữa?
Còn nếu hiểu đây là lời người mẹ tâm sự với con thì đó là nỗi giằng xé, lo âu của
mẹ trước sự lựa chọn nghiệt ngã, không dễ dàng. Và hình ảnh "Trời mưa bong bóng
phập phồng" như một sự hợp tan, tan hợp không có gì chắc chắn, cơn mưa cứ kéo dài
không dứt, người mẹ nhìn con và nghĩ tới cảnh ngộ hiện tại của mình lại càng thêm
day dứt, buồn bã. Hơn nữa hầu như người mẹ trong cảnh "đi bước nữa" thường còn
trẻ, con còn nhỏ dại, vì vậy trẻ con chưa thể "triết lý" được như vậy.
Ví dụ khác:
-

Bông cúc vàng nở ra bông cúc tím
Em có chồng rồi, trả lại yếm cho anh.


Đây là lời người vợ thương chồng thủy chung :
Chồng ta áo rách ta thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người.


Lại có những trường hợp một bài ca gồm nhiều dị bản. Trong các dị bản, nhân
vật trữ tình không phải lúc nào cũng là một mà có thể là người khác. Do đó các dị bản
có sự khác nhau. Chính vì vậy phải căn cứ vào từng bài ca (từng dị bản) thì mới có thể
xác định được nhân vật trữ tình trong đó là ai và lời nói ấy là lời nói của ai nói với ai.
Thí dụ trong câu ca dao sau đây :
Thân em như lá đài bi
Ngày thì dãi nắng đêm thì dầm sương.
Dựa vào đại từ và lời trò chuyện ta hiểu ngay rằng chủ thể của lời ca này là một
cô gái. Đây là lời than thân trách phận của một người có số phận khổ ải, nhọc nhằn.
Nhưng bài ca dao này còn có một dị bản khác :
Thương em như lá đài bi
Ngày thì dãi nắng đêm thì dầm sương.
Thì chủ đề của lời ca này là một chàng trai. Và chàng trai này bày tỏ sự xót
thương, thông cảm đối với người con gái có số phận dầu dãi như vậy.
Do đó phải căn cứ vào từng dị bản với cách biểu hiện của nó để tìm ra được vai
trò và ý nghĩa của các đại từ nhân xưng và các tình huống kèm theo hoặc các tình
huống tình cảm tương ứng.
Có những bài không có lời hướng gọi, đại từ nhân xưng không xác định, nhưng
người có vốn ca dao dồi dào vẫn có thể biết đó lời của ai, nói với ai. Vì các hệ thống
của ca dao là sự chi dẫn. Nhiều khi chi dựa vào một yếu tố truyền thống ta đã xác định
được bài ca là lời của ai, hay nhân vật trữ tình là ai. Ví dụ :
Ngồi buồn xe chi uốn cần
Chi xe chưa đặng, cá lần ra khơi.
Dựa vào truyền thống ca dao, ta xác định được ngay đây là lời của nhân vật
"chàng trai". Nhân vật trữ tình của bài ca này buồn, nuối tiếc vì "bị mất" người mình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status