51(3): 18 - 23 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 3 - 2009
18
NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA
SAU THỜI NIÊN THIẾU
Lê Hồng My (Trường ĐH Sư phạm – ĐH Thái Nguyên)
Vào những năm 1968 - 1970, hiện tượng
thơ Trần Đăng Khoa đã thu hút sự quan tâm
đặc biệt của những người sáng tác, phê bình
thơ và những người yêu thơ. Tên tuổi Trần
Đăng Khoa - “Em bé thi sĩ của Việt Nam” - đã
được giới thiệu rộng rãi trên báo chí trong và
ngoài nước. Vẻ đẹp của hình tượng nhân vật
trữ tình trong thơ thời niên thiếu của Trần
Đăng Khoa đã được khẳng định qua bài giới
thiệu: “Thơ em Khoa” của nhà thơ Xuân Diệu
(1973); bài báo khoa học: “Thế giới nghệ thuật
thơ Trần Đăng Khoa thời kỳ niên thiếu” của
nhà nghiên cứu Trần Đăng Xuyền (2003) và
qua nhiều tài liệu nghiên cứu khác. Tuy nhiên,
hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ sau thời
niên thiếu của Trần Đăng Khoa lại là vấn đề
mới chưa được nghiên cứu.
Đi sâu tìm hiểu thơ Trần Đăng Khoa sau
thời niên thiếu, chúng tôi nhận thấy: sự đổi
thay của hoàn cảnh và cảm hứng sáng tác của
tác giả đã làm hiện diện rõ hai “môtip” nhân
vật trữ tình mới trong thơ anh: nhân vật trữ
tình - người lính và nhân vật trữ tình suy tư,
chiêm nghiệm những nỗi niềm nhân thế. Cả
hai dạng nhân vật trữ tình này đều có tiền đề
Khoa là nỗi gian khổ của người lính biển. Các
anh hàng ngày phải đối mặt với bão tố, cá
mập, chim ác và kẻ thù để bảo toàn sinh mạng
và bảo vệ đảo. Cuộc sống nơi đầu sóng ngọn
gió của các anh có những khó khăn không
giống như những chiến trường khác. Doanh
trại của lính đảo giữa đại dương mênh mông
là: “Lều bạt chông chênh giữa nước giữa trời/
Đến một cái gai cũng không sống được”
(Đồng đội tôi trên đảo Thuyền Chài). Sống
giữa bốn bề sóng nước mà vẫn thiếu nước,
thèm nước ngọt, các anh phải kiên nhẵn đợi
từng giọt mưa rơi. Nỗi ao ước của những
người lính biển thật giản dị và cảm động:
“Chúng tôi không cạo đầu, để tóc lên như cỏ/
Rồi khao nhau/ Bữa tiệc linh đình bày toàn
nước ngọt/ Ôi ước gì được thấy mưa rơi” (Đợi
mưa trên đảo Sinh Tồn). Có những nỗi gian
khổ các anh đã trải qua mà trong điều kiện sống
ở đất liền khó có thể hình dung nổi: “Đảo vẫn
chìm dưới ba mét nước/ Măng khô hết rồi. Chỉ
51(3): 18 - 23 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 3 - 2009
19
thăm thẳm biển xanh/ Lưới chẳng có mà cá vờn
trước mặt/ Biết tìm đâu ra một bát canh” (Ghi
chép ở đảo Chìm). Ở đảo, mỗi năm các anh
phải đối mặt với hàng trăm cơn bão. Đi ngang
qua bão, mỗi người lính đảo giống như “Cây
bão táp” giữa phong ba. Khi đất nước bình yên,
hoàng hôn (Thư gửi mẹ). Anh lính hải quân
tạm biệt người yêu, tạm biệt thành phố rực rỡ
ánh đèn đến nơi “Trời khuya. Đảo vắng” vì
một tình yêu lớn lao hơn tình yêu đôi lứa:
“Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên/
Bão táp chưa ngưng trong những vành tang
trắng” (Thơ tình người lính biển). Người lính
đảo Nam Yết hiên ngang trên chòi quan sát
giữa bốn bề bão tố vì anh biết, đảo là giọt máu
thiêng của Tổ quốc: “Ta đứng vững trên đảo
xa sóng gió/ Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi
này” (Lính đảo hát tình ca trên đảo).
Để bảo vệ Tổ quốc, quê hương, các anh
sẵn sàng chấp nhận hi sinh những khát vọng
cá nhân chính đáng và thiết thực nhất: “Hôm
nay em đến giảng đường/ Anh hằng khao
khát/Thế hệ anh, mấy lớp người đi cứu nước/
Có bao anh chưa tới được lớp mười/ Có bao
anh nằm lại dọc đường rồi/ Những con suối
không tên, những ngọn đồi không tuổi” (Em
vào đại học). Và trong tâm hồn người lính
luôn dấy lên niềm tự hào, kiêu hãnh về cả một
thế hệ có lý tưởng sống đẹp, xứng đáng với Tổ
quốc. Anh nhìn vào đồng đội, soi vào lòng
mình, càng thấy vững tin vào lý tưởng và con
đường đã chọn: “Nếu anh lại trẻ trung mười
tám tuổi/ Và Tổ quốc lại một lần lên tiếng gọi
anh đi/ Anh lại bằng lòng vượt mọi hiểm nguy/
Với Độc lập, Tự do cho tất thảy mọi người/
Thế hệ anh đã sống một thời/ Xứng đáng để
hộp thế rừng ơi/ Hãy nói giùm ta, rằng ta rất
yêu người/ Dù có người từng làm ta đau khổ”
(Ngày mai ra trận). Vì thế mà một vầng trăng
giữa rừng biên giới, một lối ngõ nhỏ chốn quê
xa..., tất cả đều mang lại cho người lính tình đời,
tình người tha thiết.
Người lính nơi đảo xa “Gió biển mặn bạc
bao màu áo”, “Cơn sốt rét rừng vẫn còn run
trong da”, thèm từng bát canh rau, từng làn
mưa bụi... vẫn yêu đảo, yêu biển vô cùng. Xa
nhà, xa quê, các anh cùng: “Chia nhau tin
vui”, “Chia nhau nỗi nhớ nhà”. Không có
nước ngọt, không có rau xanh, các anh vẫn
“Hát vỗ nhịp vào báng súng”. Rừng sâu, đảo
xa với trở thành những mảnh đất “hoá tâm
hồn” của các anh: “Ôi đảo Sinh Tồn, hòn đảo
thân yêu/ Dẫu không có mưa chúng tôi vẫn
sinh tồn trên mặt đảo/ Đảo vẫn sinh tồn trên
đại dương gió bão/ Chúng tôi như hòn đá
ngàn năm trong đập trái tim người” (Đợi mưa
trên đảo Sinh Tồn).
Cuộc sống dẫu muôn vàn gian khổ, nhưng
những người lính đảo vẫn hát tình ca. Không
có phông màn bởi “Chẳng phông màn nào chịu
nổi gió Trường Sa”. Không có khán giả vì:
“Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc/ Người
xem ngổn ngang cũng rặt lính trọc đầu”, nhưng
điệu tình ca “Cứ ngân lên chót vót”. Cảnh “Sư
cụ hát tình ca” trong bài thơ Lính đảo hát tình
ca trên đảo là cảnh tượng chưa từng có trong
trong sáng nhưng không hề bằng phẳng đơn
điệu; họ vừa thực tế vừa lãng mạn, trẻ trung
hồn nhiên trong cuộc sống hàng ngày; vừa rất
chín chắn, sâu sắc trong tình cảm, suy nghĩ. Đó
là lớp thanh niên có lý tưởng cao đẹp, tự hào về
Tổ quốc, về trọng trách được giao phó; dù ở
nơi biên cương hay hải đảo xa xôi, các anh đều
sống lạc quan, yêu đời, yêu tuổi trẻ. Trần Đăng
Khoa đã đóng góp vào thơ Việt Nam bức chân
dung sáng đẹp về người lính; góp phần làm
phong phú thêm nguồn cảm hứng thơ dào dạt
xuôi chảy suốt hơn nửa thế kỉ thơ Việt Nam.
51(3): 18 - 23 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 3 - 2009
21
2. Con người suy tư những nỗi niềm
nhân thế
Nhân vật trữ tình trong thơ Trần Đăng
Khoa thời thơ ấu là cậu bé cả nghĩ. Em nghĩ
về nỗi vất vả mẹ đã trải qua: “Nắng mưa từ
những ngày xưa/ Đọng trong đời mẹ bây giờ
chưa tan” (Mẹ ốm); nghĩ về quê hương: “Mái
gianh ơi hỡi mái gianh/ Biết bao mưa nắng
mà thành quê hương” (Khúc hát người anh
hùng). Đúng là: “Thơ Khoa hồn nhiên đấy mà
vẫn đầy trầm tư khi chạm vào nỗi đau nhân
thế” (Trần Đăng Xuyền).
Trong hành trình cuộc đời, Trần Đăng
Khoa đã đi nhiều nơi, đến với nhiều vùng đất
khác nhau. Sau những ngày lên mặt trận biên
“Vị đắng” tình yêu làm tê buốt trái tim
“anh” trong bài thơ Về làng lại do một
nguyên nhân khác: Chiến tranh. Có người
lính từ mặt trận trở về, cùng nỗi đau thương
tật là nỗi buồn về tình cảm riêng tư: “Anh lại
về làng quê ta đây em/ Chiếc gậy tre đi trước
một bước.../ ... Những trận đánh chỉ còn là kỉ
niệm/ Cỏ chiến hào giờ chắc đã lên tươi/
Người yêu anh đi lấy chồng rồi/ Bế con người
đến đón anh dưới bóng trúc/Anh nghe tiếng
nàng cười và nàng khóc...” (Về làng). Tiếng
cười và giọt nước mắt của người yêu xưa vẫn
thấm vào anh nỗi xót xa; dù người lính đã cố
nén lòng để vượt qua bi kịch chiến tranh bằng
nghị lực vốn có và sự trải nghiệm cuộc đời.
Điều đáng lưu ý là: trong thơ Trần Đăng
Khoa, tâm trạng của nhân vật trữ tình gặp
phải bi kịch tình yêu do hoàn cảnh chiến
tranh không phải bao giờ cũng trĩu buồn. Nỗi
buồn của anh được san sẻ bởi tấm lòng của
Mẹ, bởi kỉ niệm về Em (Hoa xương rồng nở).
Nghị lực và tình quê đã giúp anh đứng vững
và bước tiếp trên đường đời (Về làng). Vì thế,
một số bài thơ của Trần Đăng Khoa tuy có vị
đắng tình yêu nhưng vẫn hướng người ta tới
trái ngọt của đời.
Nỗi niềm suy tư của nhân vật trữ tình trong
thơ Trần Đăng Khoa còn hướng tới số phận
con người trong những mối quan hệ phổ quát,
muôn đời. Đứng trước những đền đài, di tích
trang Văn Điển, “Ta” thấm thía đến tận cùng
sự ngắn ngủi của đời người: “Cái chết vẫn
rình ta ở khắp mọi nơi, sau từng ngưỡng cửa/
Cua đường hẹp, chiều mưa, vài sải nước gần
bờ/ Ta chả là gì giữa bốn bề bất trắc/ Chỉ tích
tắc khôn lường ta đã hóa người xưa.../...
Trước thiên nhiên, con người như khách trọ/
Như ảo ảnh chập chờn, thoáng đến thoáng lìa
xa/ Chúng ta sống bên nhau, dẫu năm này
tháng khác/ Thì cũng chỉ là một thoáng giữa
sân ga” (Ở nghĩa trang Văn Điển). Trước
những hàng bia đá câm lặng, anh cảm nhận rõ
quy luật vừa phũ phàng cay nghiệt vừa công
bằng độ lượng của tạo hóa: “Người hạnh phúc
và người đau khổ/ Đều gặp nhau trắng toát ở
nơi này/ Đều dài rộng như nhau vuông cỏ
biếc/ Đều ấm lạnh như nhau trong cơn gió heo
may...”. Bài thơ có sự tiếp nối mạch cảm xúc
từ Văn chiêu hồn của Nguyễn Du đến Thăm
mả cũ bên đường của Tản Đà và có thêm chất
triết luận nên không chỉ tác động vào tình cảm
mà còn khơi sâu vào nỗi niềm suy tư của
người đọc.
Qua Bôrôđinô, nơi Napônêông đã đại bại
trong cuộc chiến tranh với Nga năm 1812,
nhân vật trữ tình suy ngẫm về sự thành bại trong
chiến tranh (Qua Bôrôđi nô); đến Riazan, quê
hương của nhà thơ Nga Êxênin, “anh” suy ngẫm
về “hồn nước Nga xưa” và nước Nga nay
(Chiều Riazan); giữa Mátxcơva, trái tim của
thấm thía cảm giác về sự hữu hạn của mỗi cá
nhân trước cuộc đời. Trong dòng chảy nghiệt