MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nói đến thơ ca xứ Thanh người ta không thể nhớ đến một cái tên quen
thuộc “Văn Đắc”. Văn Đắc là một trong những gương mặt thơ tiêu biểu trong
làng thơ xứ Thanh nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung. Từng câu thơ của
Văn Đắc đi vào lòng người như một dòng suối chảy về nguồn. Người ta có thể
cảm nhận được sự dịu êm, tinh khiết, trong trẻo và có khi dữ dội, xối xiết trong
mỗi dòng thơ, bài thơ và những tập thơ của ông.
Qua mỗi bài thơ chúng ta có thể cảm nhận được vẻ đẹp, quê hương đất
nước, tâm hồn, tình cảm mà Văn Đắc dành cho xứ Thanh. Ông viết về xứ Thanh
nhưng người đọc lại cảm nhận được một đất nước Việt Nam thu nhỏ trong lòng
Thanh Hóa. Mỗi bài thơ là một cung bậc cảm xúc của Văn Đắc chạy dọc theo thời
gian từ thời chiến đến thời bình, từ “một thời trai trẻ” đến khi ông về già. Xứ
Thanh được hiện lên qua các cảnh sắc thiên nhiên, qua những con đường bị bom
đạn cày sới, những dòng sông êm đềm và dữ dội tất cả đều có ở thơ Văn Đắc.
Không chỉ cảnh sắc quê hương, mà ông còn viết lại sự cần cù lao động, tình yêu
quê hương, tình thương giàu lòng nhân ái của con người Xứ Thanh.
Nghiên cứu về thơ Văn Đắc là nghiên cứu về cả một cuộc đời của tâm hồn
thơ ông. Công trình nghiên cứu này nhằm góp phần cho việc hỗ trợ giảng dạy
chương trình địa phương Thanh Hóa. Đây sẽ là nguồn tài liệu phong phú để
phục vụ cho việc dạy học.
Từ những lí do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu về “ Hình tượng nhân
vật trữ tình trong thơ Văn Đắc” để góp phần làm nổi bật cho làn thơ ca Xứ
Thanh, hiểu được vẻ đẹp của Xứ Thanh qua tâm hồn thơ Văn Đắc.
2. Lịch sử vấn đề
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ Văn Đắc như: Phan Diễm
Phương, Thơ Văn Đắc, Nxb Thah niên,1994; Mạnh Lê, Đọc tập thơ tình “ Lời
cho em” của Văn Đắc, Nxb Thanh Hóa, 2003; Mạnh Lê, Thơ Văn Đắc ở tuổi
1
1
“muộn mằn”, Tạp chí văn nghệ xứ Thanh, 1991; Từ Nguyên Tĩnh: Văn Đắc đi
CHƯƠNG 1: CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NHÀ THƠ
VĂN ĐẮC
1. Cuộc đời
Văn Đắc nhà thơ, nhà văn Việt Nam và là cây bút tiêu biểu của xứ Thanh.
Văn Đắc tên khai sinh là Nguyễn Tiến Tới. Sinh ngày 20/11/1942 tại làng
Triều nay là xã Quảng Trường –thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Hiện nay
thường trú tại tỉnh Thanh Hóa.
Vùng biển Sầm Sơn đầy sóng và gió đã ảnh hưởng không nhỏ đến tâm hồn
nhà thơ. Sầm Sơn nơi sinh ra và nuôi dưỡng tâm hồn lãng mạn nhưng mạnh mẽ,
dứt khoát, hồn hậu, giàu tình yêu thương đối với thiên nhiên và con người. Hơn
nữa Thanh Hóa lại là mảnh đất anh hùng đã góp công lớn trong hai cuộc kháng
chiến trường kì của dân tộc. Nơi đây đã trở thành nguồn thi liệu quan trọng để
Văn Đắc sáng tác các tập thơ, trường ca và kịch cùng một số thể loại văn học,
bút kí.
2. Sự nghiệp
Văn Đắc tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Vinh năm 1996. Sau đó trở
thành thầy giáo cấp 3 rồi giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm bồi dưỡng cho
nhiều lớp học sinh giỏi của tỉnh. Văn Đắc thử bút với nhiều thể loại như thơ,
trường ca, kịch, bút kí, phê bình và đã đạt đươc những thành công nhất định ở
mọi thể loại tuy nhiên Văn Đắc vẫn được công chúng biết đến nhiều nhất gặt hái
được nhiều thành công hơn cả đó là thể loại thi ca. Ở đề tàin ày chúng tôi nghiên
cứu ông với vị trí là một nhà thơ. Văn Đắc thơ từ sớm nhưng ông thực sự được
bạn đọc rộng rãi trong cả nước biết đến trong cuộc thi thơ của tuần báo văn nghệ
(1969 – 1979) với chùm thơ: “Làng sơ tán” và “Dòng sông trong đêm”.
Sau giải thưởng Văn Đắc tham gia dự khóa bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du
(1974). Đến năm 1979 Văn Đắc quyết định “xếp giáo án” về công tác ở Hội văn
học nghệ thuật Thanh Hóa và đi theo sự nghiệp sáng tác thơ văn.
3
3
Từ năm 1973 đến nay Văn Đắc liên tiếp cho ra đời hàng loạt tác phẩm thơ
chất hiện thực và hào sảng chất sử thi.
Ở giai đoạn sau thơ Văn Đắc đi sâu vào hướng nội, cảm cái riêng tư ngẫm
nghĩ về than phận con người. Văn Đắc cập nhật cuộc sống xã hội.
Nhà thơ luôn ý thức được nghề nghiệp của mình chính bởi vậy ông luôn
tiếp thu cái tinh hoa trong kho tàng tục ngữ ca dao từ truyền thống, các nhân vật
lịch sử với sự đổi mới trong thơ hiện đại để làm mới thơ của riêng mình. Thơ
của Văn Đắc bởi vậy không mai một, dậm chân tại chỗ dù đó là ngòi bút của
người có tuổi, thơ ông luôn có tính mới trong mọi thời đại. Những chùm thơ gần
đây đã có sự đổi mới về cách viết: nhịp điệu, câu chữ. Cách xuống dòng không
còn gò bó theo thể loại mà theo mạch tư duy theo ý đồ nội dung cần diễn đạt
luôn đi tới tận cùng cái bản ngã con người.
Văn Đắc đã góp phần làm giàu cho kho tàng văn học xứ Thanh, đưa văn
học xứ Thanh đến với đông đủ bạn bè trên cả nước. Văn Đắc đã tạo được giọng
thơ mới trên tao đàn thi ca dân tộc, một phong cách rất riêng, rất Văn Đắc mà
không thể lẫn vào ai được. Giọng thơ ấy mang đậm sự mộc mạc, tao nhã nhưng
rất đỗi thiết tha, sâu lắng và nó chân thành như chính trái tim gân guốc của
người xứ Thanh quê ta vậy!
CHƯƠNG 2 HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG THƠ
VĂN ĐẮC
2.1 Tình yêu xứ Thanh tha thiết
2.1.1 Quê hương trong dòng chảy thời gian
Quê hương đất nước và con người luôn là đề tài muôn thuở gần gũi và quen
thuộc đối với mỗi nhà văn, nhà thơ. Từ văn học trung đại, từ thơ cổ cho đến thơ
mới quê hương và con người đã trở thành những hình ảnh khó phai trong các tác
phẩm của các nhà văn, nhà thơ.
5
5
Trong văn học dân gian hình ảnh quê hương đất nước in dấu đậm đà nhất là
trong hình thức ca dao, dân ca. Đọc ca dao dân ca ta cảm thấy tâm hồn như hòa
cùng hình bóng của dân tộc. Với nhân dân quê hương là nơi chôn rau cắt rốn, là
mắt “xanh non” “biếc rờn” của thi sĩ Xuân Diệu.
Đó là nắng và gió, là mái nhà tranh đơn sơ, gần gũi, lung linh sắc màu
trong thơ Hàn Mặc Tử là bức tranh núi rừng Việt Bắc chan hòa màu sắc, đường
nét, ánh sáng, âm thanh của Tổ Hữu là “Khi tổ quốc bốn bể lên tiếng hát” của
Chế Lan Viên Tất cả đó là tiếng lồng của nhà thơ được thể hiện qua những
câu thơ, trang thơ.
Đến với trang thơ địa phương, thơ xứ Thanh không thể không kể đến
những sáng tác và những đóng góp của nhà thơ Văn Đắc cho sự nghiệp thơ ca
chung của đất nước, của dân tộc. Những vần thơ của ông chan chứa tình cảm,
tình yêu quê hương, yêu đất nước, yêu con người xứ Thanh. Thơ ông giản dị mà
hàm xúc, bộc lộ nhiều cung bậc cảm xúc và những suy tư, trăn trở về cuộc đời,
luôn hướng về tổ quốc, quê hương.
2.1.2 Quê hương như là máu thịt của đời
2.1.2.1. Tình yêu cảnh sắc thiên nhiên quê hương
Trịnh Ngọc Dự trong bài đăng báo văn nghệ số 32 ngày 11 tháng 8 năm
2007 đã từng có nhận xét về hồn thơ Văn Đắc: “Từ những ngày cả nước đánh
Mỹ, Văn Đắc đã hòa giọng thơ của mình vào tiếng thơ chung, tiếp nối giọng thơ
Thanh Hóa từ thời kháng chiến chống Pháp như Trần Mai Ninh, Hồng Nguyên,
Hữu Loan mạnh mẽ, ngang tàng, phóng túng, gân guốc, giàu chất liệu hiện
thực đời sống, hào sảng chất sử thi. Anh viết khỏe, liên tục cho ra mắt các tập
thơ. Ở giai đoạn sau, thơ anh đi sâu vào hướng nội, cảm cái tư riêng, ngẫm nghĩ
thân phận con người. Anh cập nhật cuộc sống với những biến đổi, thăng trầm
của lịch sử, đời sống xã hội ”.
Văn Đắc với tâm hồn giàu cảm xúc, nhạy cảm trước mọi sự thay đổi của
cuộc sống, thơ Văn Đắc thể hiện rõ tâm hồn và khí chất của người Thanh Hóa
dù bài thơ đó viết ở đâu và về đề tài nào. Cái tôi trong thơ Văn Đắc được thể
hiện rõ rệt và đậm nét, đọc hầu hết các bài thơ của ông ta dễ nhận ra điều này, có
7
7
khi nhà thơ trực tiếp thể hiện cảm xúc của mình, có khi lại gián tiếp thể hiện qua
hương, tự hào dân tộc. Theo dọc dòng thời gian từ kháng chiến chống Mỹ cho tới
nay, độc giả quan tâm đến thơ Văn Đắc chắc hẳn sẽ không thể quên được những
vần thơ rất thật, những hình ảnh, màu sắc, âm thanh, đường nét của thiên nhiên
như hòa quyện vào trong những trang thơ để tạo nên những gì đó rất gần gũi, thân
thuộc mà cũng thật nhiều ý nghĩa. Cảnh sắc thiên nhiên của đất nước cũng là một
chủ đề muôn thuở của các nhà thơ. Với nhà thơ Văn Đắc, một tâm hồn nhẹ nhàng,
“hồn nhiên” (theo Nguyễn Ngọc Liễn) và là nhà thơ có thể nói là đi nhiều nơi
theo dọc chiều dài chữ S của đất nước, mỗi lần dừng chân nhà thơ lại cho ra đời
những bài thơ ca ngợi cảnh sắc thiên nhiên nơi đó: “Bài thơ quê hương” - Sầm
Sơn 6/1965, “Hướng đất” - Miền núi Vĩnh Lộc năm 1971, “Hạt gạo mảnh bom” -
Đường bò lăn Như Xuân tháng 2/1972, “Đồng cỏ” - Sông Hiếu Nghệ An tháng
4/1979, “Vườn chôm chôm” - Long Khánh mùa hè năm 1975.
Tình yêu cảnh sắc thiên nhiên quê hương của nhà thơ thật nồng nàn, những
chuyến đi tới những vùng miền khác nhau trong tỉnh Thanh cũng như ở các
vùng miền ngoài tỉnh nhà thơ đều viết về cảnh sắc thiên nhiên và con người.
Một người suốt đời đi tìm cái đẹp, đi tìm ý nghĩa cuộc sống và ái đẹp của nhà
thơ đó thật gần gũi, chân thực mà sâu sắc, in đậm tình quê, đó là những khung
cảnh cuộc sống trong con mắt của một người yêu đời, lạc quan và hơn hết đó là
tình yêu quê hương, tình yêu tổ quốc.
2.1.2.2 Tình yêu với con người của quê hương
Là một người đi nhiều, viết nhiều và sống nhiều với mọi người dân quê
theo khắp chặng đường của lịch sử cũng như chiều dài của tổ quốc, nhà thơ Văn
Đắc có nhiều dịp để tìm hiểu về cuộc sống, cảnh sắc thiên nhiên và con người ở
mỗi vùng miền mà ông đã từng đi qua. Trong những vần thơ, trang thơ ông viết
đều thấm đượm tình quê, tình cảm với thiên nhiên, niềm gắn bó với người dân:
“Mẹ luyện cát vôi nứt máu bàn tay
Cây bưởi ra hoa, cây mơ kết trái
Niềm vui bà cháu sớm chiều
Con biết ai chẳng đau”
9
10
Rồi từ cửa sông anh ngược theo triền sông lên tới ngọn nguồn. Xứ Thanh
lắm sông nhiều núi, dường như vùng đất này cũng có một con sông chảy. Nhà
thơ gắn bó với sông nước quê hương, hồn thơ xao động tiếng sóng, tiếng gió.
Thơ của Văn Đắc là sự trải nghiệm của một người, gắn bó và vì thế trở thành
niềm tự hào không thể phai nhạt, quả vậy thơ của ông hiện lên rất nhiều địa
danh từ đền Hùng - Phú Thọ đến Huế, Phan Thiết, Sài Gòn, ở địa danh nào cũng
hằn lên, cồn cào một nỗi nhớ. Có một nhà nghiên cứu văn học khi thảo luận về
thơ Văn Đắc đã khẳng định: “Viết về Văn Đắc là viết về một chặng đường lịch
sử thi ca xứ Thanh từ giai đoạn chống Mỹ cứu nước đến bây giờ”.
Quê hương hiện lên trong thơ Văn Đắc không phải là điều gì đó quá xa xôi
mà đơn thuần đó chỉ là những gì quen thuộc, một nỗi nhớ của bao nỗi nhớ. Bài
thơ “Quê hương” được sáng tạo vào tháng 6/1965 thể hiện cho một vẻ đẹp của
quê hương mà Văn Đắc sinh ra và lớn lên - Sầm Sơn. Văn Đắc cảm nhận quê
hương của mình đẹp ngay cả khi ngắm nhìn những chiếc mo cau mang hình lưỡi
mác, những con thuyền bay ra khơi, cái nắng chói chang rọi vào cát bể, những
lùm tre tất cả nhẹ nhàng như thế và đâu đó có bóng hình của người con gái, hay
nụ cười tươi rạng rỡ của những con người nơi đây. Quê hương hiện lên trong thơ
Văn Đắc chỉ đơn thuần thế thoi, nhưng sao đọc thơ ông lên ta bồi hồi, nhớ
nhung, có lẽ nó đã gắn chặt trong từng suy nghĩ của mỗi người đọc thơ.
“Quê hương là gì hở mẹ, mà cô giáo dạy phải yêu, quê hương là gì hở mẹ,
ai đi xa cũng nhớ nhiều” (Đỗ Trung Quân).
Cùng với thời gian chúng ta dần hiểu rằng quê hương là nơi “chôn nhau cắt
rốn” là nơi có sự gắn bó tự nhiên vê tình cảm, đối với nhà thơ quê hương tồn tại
trong từng ngõ ngách của tâm hồn nên luôn ùa ạt trong các sáng tác, quê hương
trở thành một biểu tượng sâu sắc, đa nghĩa và đầy tính tượng trưng trong suốt
quá trình sáng tác của nhà thơ. Quê hương là tuổi thơ ngày hai buổi đến trường,
quê hương là tình cảm gia đình và làng xóm, là chỗ dựa vững chắc về mặt tinh
thần cho mỗi con người giữa cuộc đời vần xoay chóng mặt. Quê hương trong
thơ Văn Đắc là những hồn thơ nhạy cảm, tinh tế và nồng nàn trước thiên nhiên,
“Ôi dòng sông đêm sao mà im lặng
12
12
Ta xuống với sông khoát dòng nước sáng
Mới biết dòng sông chảy mạnh vô cùng”
Có thể nói quê hương trong chiến tranh là những bức tranh là thời gian
chiến tranh, cảnh sắc quê hương được hiện ra với bom đạn cày xới con đường
đi, nhưng với tấm lòng yêu nước với bàn tay của những con người yêu quê
hương con đường lại vượt ra từ hố bom:
“Đám cháy đã tắt
Còn lại ngổn ngang là đất
Im lặng hàng cây bom chặt
Giơ tay chỉ thẳng lên trời…
Một con đường vọt ra từ hố bom
Lao qua đám cháy”
(Đám cháy và con đường)
Quê hương trong chiến tranh không chỉ là sự lụi tàn của thiên nhiên của cỏ
cây, làng mạc và cây cối mà đó còn là sự hy sinh của bao con người, nhìn lại một
thời quá khứ oanh liệt đó. Thơ Văn Đắc văn ngậm ngùi vẫn đồng hành theo
những bước tiếp của lịch sử đã để lại. Xứ Thanh vẫn rạng ngời với những vẻ đẹp
vốn có, với những anh hùng có công bảo vệ đất nước, với những địa danh không
thể phai nhạt được trong tâm tưởng của mỗi người, quá khứ về một thời hào hùng
ấy sẽ vẫn mãi thắp sáng lên của một thời quê hương mang màu sắc hiện đại.
2.1.4 Niềm tự hào mãnh liệt
Mỗi chúng ta ai cũng tự hào về quê hương, về nơi đã sinh ra và lớn lên.
Quê hương của mỗi người luôn là điểm tựa cho bước đi, trong từng lời ca tiếng
hát ấy, trong từng cách sống, tự hào về một quê hương đẹp như tranh đầy thơ
mộng, hay đơn thuần đó là niềm tự hào về phẩm chất con người quê mình, về
truyền thống lịch sử, văn hóa.
2.1.4.1 Tự hào về vẻ đẹp cảnh sắc thiên nhiên
Lượn vòng biếc dải núi Nưa
Rừng xa, dốc dựng hẹn chờ người lên”.
14
14
Dọc theo dòng thời gian, Văn Đắc đã in hằn những nét đẹp của quê hương
giản dị, gần gũi như thế, quê hương cứ thế sống mãi trong mỗi con người. Ngày
nay thiên nhiên xứ Thanh trở nên đẹp hơn, thơ mộng hơn Văn Đắc vẫn dong
duổi đi, hết miền xuôi đến miền ngược, hầu như không còn nơi nào trên đất xứ
Thanh mà ông chưa đến. Bởi càng đi nhiều ông càng cảm nhận được cái hay, cái
đẹp ấy.
Tập thơ Văn Đắc hiện lên rất nhiều địa danh, từ Đền Hùng - Phú Thọ, đến
Huế, Phan Thiết, Sài Gòn, Cần Thơ, Năm Căn, đất Mũi. Địa danh nào cũng đẹp,
cũng thơ mộng.
2.1.4.2 Tự hào về vẻ đẹp và phẩm chất cao quý của con người quê hương
Trong câu hát của mẹ ru ta, tiếng à ơi hòa quyện cùng tiếng lòng đã khắc
sâu vào trong tâm trí của mỗi người. Quê hương là nơi chôn nhau cắt rốn của
mỗi người, ai đi xa cũng luôn mong nhớ về quê hương, bởi quê hương của
chúng ta mang nhiều hương vị màu sắc thiên nhiên khác nhau mà hình bóng con
người cũng hằn sâu trong đó. Con người Việt Nam nói chung và con người xứ
Thanh nói riêng đẹp đẽ, gần gũi, đằm thắm và hết mực giản dị.
Văn Đắc đã thấm sâu vào con người xứ Thanh để hiểu rõ về phẩm chất, vẻ
đẹp sâu xa của những con người chân lấm tay bùn, những con người cả cuộc đời
đã hy sinh. Thơ Văn Đắc thể hiện khí phách tâm hồn người Thanh Hóa dù thơ
được viết ở đâu và về đề tài gì.
Văn Đắc đã gửi gắm vào người đọc những nỗi niềm ấy. Đó là con người
Thanh Hóa trong các cuộc kháng chiến. Những con người ngang tàng, phóng
túng từ giọng điệu, con người Thanh Hóa đã quả cảm đã chống chọi và cũng rất
hy sinh. Ông luôn chiêm nghiệm số phận những cuộc đời, số phận lịch sử dân
tộc chuyển qua giai đoạn thử thách mới, với sự bộc lộ rõ nét vẻ đẹp bên trong
phức tạp và sinh động.
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn,
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng
16
16
Cho chuếnh choáng mùi thơm
Cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc cua thời tươi
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi”
(Vội vàng)
Với Xuân Quỳnh đó là sự mạnh bạo, chủ động bày tỏ những khát khao,
rung động rạo rực của lòng mình trong tình yêu, tiêu biểu là bài thơ “Sóng”:
“
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Những con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh - một phương
”
Với nhà thơ Văn Đắc ta cũng thấy ở tác giả cái vội vàng, quấn quýt, khao
khát đến với tình yêu như Xuân Diệu hay sự mạnh bạo chủ động bày tỏ những
rung động rạo rực giống Xuân Quỳnh khi yêu. Tuy nhiên, cách thể hiện những
tình cảm trên lại có nét riêng không giống bất kì nhà thơ nào.
thơ khác đó là: Các nhà thơ khác sáng tác thơ tình khi còn trẻ tuổi, tức là tuổi
xuân thì còn Văn Đắc lại sáng tác thơ tình khi “tóc đà trót nửa hoa râm”. Chính
điều này đã chi phối hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ Văn Đắc. Đọc thơ
Văn Đắc ta thấy hình tượng nhân vật trữ tình là người trung tuổi khi yêu:
“Thoáng một lối đi khe khẽ qua dòng
Như lối hẹn yêu lần thứ nhất
18
18
Có một nét già trên mái tóc
Có một nét xuân trong mặt cười”
Đây chẳng phải là một biểu hiện của nhân vật trữ tình là người trung tuổi
đang bắt đầu yêu đó sao? Sự đối lập giữa “nét già trên mái tóc” với “nét xuân
trong mắt người” chẳng phải đã cho ta thấy điều này?
Trong bài “Vụng thầm” nhân vật trữ tình đã khẳng định mình không còn độ tuổi
trẻ trai nữa như vậy, “anh” chắc chắn là người trung tuổi đã từng trải qua thời
“phong sương ướt đẫm trên vai”.
Ở bài “Đùa chơi” nhân vật trữ tình cũng bộc lộ tuổi trung niên của mình:
“Thôi thì nàng ạ, mình đã trót
Huống chi sót ít trẻ trai này
Mấy chục năm rồi còn vui lọt
Đáy nguồn sỏi trắng nắm trong tay”
Các cụm từ “sót ít thời trai” và “mấy hục năm rồi” là những dấu hiệu cho ta
thấy rõ độ tuổi của nhân vật trữ tình. Đây có lẽ là độ tuổi “ngoại tứ tuần”.
Vì ở độ trung tuổi rồi nhưng vẫn còn yêu nên nhân vật trữ tình xưng “ta” đã
hành động rất nhanh chóng, vội vàng để tìm lại những ngày xưa và để bù đắp
cho những ngày trai trẻ:
“ Ta lẻn khỏi tuổi ta
Qua ngõ tâm tư
Tìm lại vườn tuổi trẻ
Nàng ào đến ta cơn gió mùa hạ
Đến chết để mang theo”
( Tình yêu ở đâu - Đi tìm thời trẻ trâu )
Có lẽ, bước vào độ tuổi trung niên rồi mà nhân vật vẫn muốn yêu, vẫn
muốn tìm đến tình yêu. Bởi vậy, nhân vật “ tôi ” đã thốt lên hỏi: “ Tình yêu ở
đâu ” mộ cách tự nhiên như tiếng nói vô thức. Từ chổ hỏi Tình yêu ở đâu nhân
vật tôi đã chuyển sang một hành động rất kính cẩn và chân thành “ Tôi xin lại ”
20
20
và “Xin lại” không chỉ một lần mà xin lại tới 4 lần với tất cả tấm lòng chân thật
“ không mặc cả ” “ Tôi không giả ”. Như vậy đủ thấy nhân vật tôi chân thành tin
đến tình yêu như thế nào và tấm lòng chân thành ấy với tình yêu còn được nhân
vật trân trọng coi là “tấm bùa” hệ mệnh để luôn mang theo bên mình “đến chết”
cũng theo. Bốn câu thơ cuối của bài thơ “Tình yêu ở đâu” đã cho ta thấy nhân
vật trữ tình xưng “tôi” rất chân thành, tha thiết cầu xin tình yêu đến và ở lại với
mình với bất kì giá nào không mặc cả. Mới chỉ ở bài thơ này thôi ta đã thấy sự
khác nhau trong cách thể hiện tình yêu tha thiết của Văn Đắc thực không giống
với các nhà thơ khác. Từ trước tới nay ta đâu thấy có ai lại đi xin tình yêu như
nhân vật trữ tình của Văn Đắc mà lại còn xin rất chân thành không ngần ngại.
Phải chăng, vì chân thành tha thiết với tình yêu như vậy nên khi có được
tình yêu nhân vật trữ tình muốn dữ trọn tình yêu ở bên mình mãi mãi, bằng cách
rào hoa lá bốn bên, tức dùng tình yêu đẹp đầy màu sắc và tươi mát của mình để
níu dữ “em” tình yêu của anh ở lại:
“Nhốt trăng vào ngực anh thôi
Để anh thả rợp cây đời xuống em
Anh rào hoa lá bốn bên
Để không còn lối nào lên xứ trời
Phải chăng nặng kiếp con người
Mà trời cho gặp được nơi lạ này
Khẽ chân cài lại then mây
Ôm em ngủ giữa vòng tay vỗ về”
“ôm em ngủ giữa vòng tay vỗ về”. Đây thực ra là một ước muốn, một khát vọng
giải dị của một người đang yêu giành cho người mình yêu. Thế nhưng nhân vật
anh đã phải rất vất vả mới có được giây phút yên bình và lãng mạn đến thế ở bài
thơ “Vụng thầm” khát vọng tình yêu của nhân vật trữ tình cũng được nhân vật
trữ tình thể hiện rõ nét hơn:
“ …Hoa mới ơi chớ vội tàn
Sóng mới ơi chớ vội tan cuối bờ”
(Vụng Thầm)
22
22
Nhân vật anh trong bài thơ thể hiện sự nuối tiếc tình yêu và không muốn
tình yêu tan vỡ cũng như không muốn mất người yêu dù đó chỉ là những phút “
vụng thầm ”
2.2.2.2 Sự giận dỗi, hờn ghen và đau khổ khi nhân vật trữ tình gặp trắc trở
trong tình yêu
Desaidery đã từng nói: “ Đang thật yêu bỗng căm ghét là còn yêu một
cách âm thầm tha thiết ”
Đúng vậy, trong tình yêu không phải lúc nào cũng vui vẻ, hạnh phúc mà
cũng có những lúc đau khổ, hờn ghen, giận tủi thậm chí sợ hãi nghi nghờ và thất
vọng khi không được tình yêu đáp trả, nhân vật trữ tình trong thơ Văn Đắc
không thể tránh khỏi quy luật này.
Đọc thơ Văn Đắc ta thấy nhân vật trữ tình yêu tha thiết, khát khao được
yêu, được đến với người mình yêu một cách cháy bỏng. Vì vậy, có lúc yêu
nhưng nhân vật trữ tình không giám nói ra, sợ nói ra sẽ tan vỡ hết mối tình:
“Người ta bảo phải dấu đi, im lặng
Thành ra tôi chỉ ríu rít một mình
Như con chim bị nhốt trong lồng
Không hót được với cành non lá mỏng
Người ta bảo phải dấu đi im lặng
Không là chết là tan vỡ hết
“Nhưng mà
Lỗi hẹn
Còn gì đâu em”
Hai dòng thơ “ Nhưng mà ” và “Lỗi hẹn” cho ta thấy nhân vật trữ tình đã
từng hẹn hò với người mình yêu nhưng cuối cùng nhân vật lại bị “lỗi hẹn” tức
người yêu của anh không đến gặp anh như đã hẹn trước. Bởi vậy, anh rơi vào
tâm trạng. Anh cảm thấy sự lỗi hẹn của em là một sự mất mát lớn trong chuyện
tình yêu giữa hai người. Tình yêu mà lỗi hẹn thì dường như không còn gì hết:
“ Còn gì em ơi ”
24
24
Câu thơ vừa như là một câu hỏi nhưng lại cũng là lời khẳng định của anh
về sự trắc trở ấy là nỗi buồn vây kín nhân vật. Nỗi buồn bắt đầu được cảm giác
từ vai sau đó đến môi:
“ Chỉ còn buồn trĩu vai thôi
Chỉ còn buồn tím môi người chờ mong ”
Và trung tâm của nó là tim, là trí óc anh. Từ buồn anh chuyển sang giận
dỗi, hờn ghen, chán nản và nghi nghờ, thâm chí đau khổ.
“Anh giận dỗi
Sao em không nói một lời tâm sự
Để anh hận, để anh ngờ
Để anh chán đến bây giờ, khổ không ?”
( Khóa cửa )
Từ buồn đến giận, từ giận dỗi đến hận rồi tiếp đó là nghi nghờ tăng tốc là
chán nản và kết thúc đỉnh điểm là đau khổ. Sự đau khổ được thể hiện ở chổ nhân
vật trữ tình không chịu đựng được những cảm xúc dồn nén trong lòng nên đã
thốt lên câu hỏi tu từ “khổ không” như muốn trút đi một phần sự đau khổ đó. Tất
cả những gì anh cảm nhận bây giờ cũng chỉ vì em không tâm sự với anh những
điều em nghĩ, những niềm vui hay nỗi buồn cùng anh mà cứ im lặng khiến anh
không hiểu, không biết nguyên nhân từ đâu mà em lại khóa trái tim và “lỗi hẹn”