TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
VŨ THỊ NGỌC THU
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRỮ TÌNH
TRONG TẬP THƠ TỰ HÁT
CỦA XUÂN QUỲNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận Văn học
HÀ NỘI - 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
VŨ THỊ NGỌC THU
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRỮ TÌNH
TRONG TẬP THƠ TỰ HÁT
CỦA XUÂN QUỲNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận Văn học
Người hướng dẫn khoa học
TS. MAI THỊ HỒNG TUYẾT
1. Lí do chọn đề tài............................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................5
4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................5
5. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu .............................................6
6. Cấu trúc của khóa luận ..................................................................................6
NỘI DUNG .......................................................................................................7
CHƯƠNG 1. NHÂN VẬT VÀ NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG THƠ .......7
1.1. Nhân vật văn học........................................................................................7
1.1.1. Khái niệm nhân vật văn học ...................................................................7
1.1.2. Chức năng của nhân vật văn học trong tác phẩm văn học ......................9
1.1.3. Các loại nhân vật trong tác phẩm văn học ............................................13
1.2. Nhân vật trữ tình trong thơ.......................................................................15
1.2.1. Khái niệm ..............................................................................................16
1.2.2. Đặc điểm của nhân vật trữ tình trong thơ..............................................17
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VẬT TRỮ TÌNH
TRONG TẬP THƠ TỰ HÁT - XUÂN QUỲNH ...........................................20
2.1. Vấn đề “vai giao tiếp” của nhân vật trữ tình trong tập thơ Tự hát - Xuân
Quỳnh ..............................................................................................................20
2.2. Điểm nhìn và giọng điệu của nhân vật trữ tình trong tập thơ Tự hát Xuân Quỳnh. ...................................................................................................22
2.2.1. Điểm nhìn của nhân vật trữ tình............................................................22
2.2.2. Giọng điệu của nhân vật trữ tình ..........................................................28
2.2.2.1. Giọng điệu giãi bày, bộc bạch cùng những niềm trắc ẩn, âu lo .........28
2.2.2.2. Giọng điệu của lời ru..........................................................................30
2.3. Bảng tự thuật tâm hồn của nhân vật trữ tình trong tập thơ Tự hát - Xuân
Quỳnh. .............................................................................................................32
2.3.1. Vẻ đẹp một tâm hồn nữ tính, hồn hậu, luôn da diết về khát vọng hạnh
phúc đời thường...............................................................................................33
phụ nữ Việt Nam thời hiện đại. Cuộc đời chị là cuộc đời của một người con gái
gian truân, bất hạnh, sớm phải sống thiếu tình thương nên chị luôn khao khát được
yêu thương và điều này thể hiện rất rõ trong thơ chị. Xuân Quỳnh đến với thơ hoàn
toàn tự nhiên, không một chút gượng ép, cái tài văn chương tự nảy nở khi chị còn
là một diễn viên múa đoàn văn công trung ương. Ngòi bút sáng tác của nhà thơ lớn
lên cùng những năm tháng và đã trở thành một trong những tên tuổi tiêu biểu trong
nền văn học hiện đại Việt Nam. Lại Nguyên Ân trong bài viết Con người và nhà
thơ đã nói: “Có lẽ từ thời Hồ Xuân Hương qua các chặng đường phát triển, phải
đến Xuân Quỳnh nền thơ ấy mới thấy được một nữ sĩ tài năng và sự đa dạng của
tâm hồn được thể hiện ở một tầm cỡ đáng kể như vậy, dạt dào và phong phú như
1
vậy” [12, 209]. Ông đã khẳng định sự xuất hiện của Xuân Quỳnh trên thi đàn Việt
Nam như một dấu mốc quan trọng của lịch sử. Từ Hồ Xuân Hương đến Xuân
Quỳnh hơn một thế kỉ, vậy mà Xuân Quỳnh đã tiếp bước lời của bà chúa thơ Nôm
nói lên những cảm xúc trong sâu thẳm tâm hồn một cách dồi dào và thẳng thắn để
tạo nên “một hiện tượng rất lạ trong nền thơ ca chúng ta”.
Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, lo âu,
vừa hồn nhiên tươi tắn, vừa chân thành đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng
về hạnh phúc bình dị, đời thường. Cuộc đời cầm bút của chị cũng không dài nhưng
không phải vì thế mà ảnh hưởng đến tên tuổi của chị. Xuân Quỳnh được đông đảo
bạn đọc biết đến với những tập thơ nổi tiếng như: Chồi biếc (1963), Hoa dọc chiến
hào (1968), Lời ru trên mặt đất (1978), Tự hát (1984), Bầu trời trong quả trứng
(1984)... đặc biệt chị còn được biết đến bởi chị là một cây bút bền bỉ trong sáng tác,
như Chu Nga nói: “Nếu nói Xuân Quỳnh là một chồi thơ, thì phải nói thêm, đấy là
một chồi thơ sắc biếc, một chồi thơ khỏe, tràn đầy sức sống và hứa hẹn một cây thơ
vững chắc, xanh tươi. Nói một cách khác, Xuân quỳnh đến với thơ một cách hồn
nhiên, không chút cố tình, gượng ép; trong chị thực sự có một hồn thơ – đó là điều
nước nhà. Kết quả nghiên cứu về đề tài này sẽ giúp chúng tôi có hiểu biết sâu hơn,
nâng cao trình độ chuyên môn và giúp ích cho việc giảng dạy sau này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xuân Quỳnh là một trong những nữ thi sĩ viết thơ tình hay nhất trong nền thơ
ca hiện đại Việt Nam sau 1975. Chị xứng đáng được coi là nhà thơ của tình yêu.
Chị viết về tình yêu vừa nồng nhiệt vừa táo bạo, tha thiết, đắm say lại hồn nhiên mà
lắng sâu những suy tư. Cuộc đời tuy không dài chỉ hơn bốn mươi năm với biết bao
những khó khăn, thiếu thốn đè nặng lên đôi vai nhưng chị vẫn “kịp” mang đến cho
nền thơ ca nước nhà một phong cách thơ rất đặc trưng của thế hệ mình, của giới
mình.
Tháng 6 năm 1987, trong cuộc gặp mặt của các nhà thơ Á – Phi ở Liên Xô,
Xuân Quỳnh phát biểu: “Người ta làm thơ đầu tiên là để tự thể hiện, là một hành
động khẳng định, rồi là một hành động khai sinh, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, nhu
cầu nối liền mình với đồng loại, với các sinh vật, vũ trụ và thời gian”. Xuân Quỳnh
nói “người ta” nhưng lại để tự khẳng định chính bản thân mình. Chị đã đem đến cái
bản ngã của một người đàn bà táo bạo và mãnh liệt trong tình yêu để tạo nên dấu ấn
của một nhà thơ “bản năng”.
Cùng với sự ra đời các sáng tác của Xuân Quỳnh là sự xuất hiện của các bài
3
viết nghiên cứu, phê bình về thơ chị, đặc biệt là mảng thơ về tình yêu. Đây là mảng
sáng tác thành công nhất trong kho tàng sáng tác khá phong phú và đa dạng của chị.
Về giọng điệu thơ Xuân Quỳnh, Chu Văn Sơn đã nhận xét:“Thơ Xuân
Quỳnh âu cũng là tự hát”. Đó là lời tự hát về cuộc đời, về tình yêu. Chị tìm đến thơ
như một thế giới thứ hai để giãy bày, tâm sự.
Về đề tài thơ Xuân Quỳnh có nhiều bài viết đã nghiên cứu, tiêu biểu như:
Tác giả Lê Phong trong bài Người đàn bà yêu và làm thơ: “... bây giờ
Xuân Quỳnh đã đến với tình yêu riêng của mình, một tình yêu là sự hòa hợp của hai
vừa cụ thể vừa khái quát, rất sâu sắc và xác đáng: “Thơ Xuân Quỳnh là tứ thơ tự
biểu hiện và tình yêu chân chính là nơi tác giả bộc lộ mình một cách chân thành,
tha thiết, sâu lắng nhất” [4, 97].
Mai Hương và Lưu Khánh Thơ trong bài Xuân Quỳnh cũng viết: “... Thơ
của chị nhiều khi như một lời trò chuyện tâm tình, khẽ khàng, nhỏ nhẹ, khiến người
nghe phải gần lại mới thấy hết được những gì nhà thơ nói ẩn vào sau mỗi dòng thơ,
Xuân Quỳnh luôn luôn nói thật, nói hết, nói đến tận cùng những tình cảm của mình.
Đôi khi tình cảm được thể hiện quá thật và khá lộ”.
Có nhiều bài nghiên cứu đã thể hiện mối quan hệ giữa nhân vật trữ tình và
con người đời thực trong thơ của Xuân Quỳnh. Qua đó, người ta thấy một nữ sĩ hồn
hậu, chân tình, giàu yêu thương. Đây là những gợi ý quý báu để chúng tôi triển khai
đề tài “Hình tượng nhân vật trữ tình trong tập thơ Tự hát của Xuân Quỳnh”.
Nhìn chung, qua những bài nghiên cứu về thơ Xuân Quỳnh, chúng tôi nhận
thấy hầu hết đó là những bài viết về tác giả và về thơ chị nói chung, chưa có công
trình nào nghiên cứu về nhân vật trữ tình trong thơ chị. Kế thừa gợi ý của những
nhà nghiên cứu, chúng tôi tập trung tìm hiểu nhân vật trữ tình trong tập thơ Tự hát
của Xuân Quỳnh với hi vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu và tiếp
tục khẳng định sự nghiệp thơ ca của nữ nhà thơ Xuân Quỳnh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hình tượng nhân vật trữ tình trong tập thơ Tự hát của
Xuân Quỳnh.
Phạm vi nghiên cứu: Để làm rõ Hình tượng nhân vật trữ tình trong tập
thơ Tự hát, khóa luận tập trung phân tích ba mươi lăm bài thơ trong tập thơ này.
Đặc biệt, khóa luận có sự liên hệ, mở rộng đến những sáng tác trước đó của Xuân
Quỳnh và đôi khi còn so sánh với những sáng tác của các nhà thơ khác.
5
4. Phương pháp nghiên cứu
Văn học bắt nguồn từ cuộc sống, luôn lấy hiện thực để làm nguồn cảm hứng
sáng tác và phản ánh chính hiện thực. Tuy nhiên, đối tượng chung của văn học là
cuộc đời nhưng trong đó con người luôn giữ một vị trí quan trọng, vị trí trung tâm.
Những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, những bức tranh thiên nhiên, lời bình
luận… đều góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho tác phẩm nhưng cái quyết
định chất lượng tác phẩm văn học chính là việc xây dựng nhân vật. Khi đọc một tác
phẩm văn học, cái đọng lại sâu sắc nhất trong lòng mỗi độc giả chính là nhân vật
trong truyện với số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư… Vì vậy, Tô Hoài đã có lí khi
cho rằng: “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong
một sáng tác” [Tô Hoài (1997), Sổ tay viết văn, Nxb Tác phẩm mới, tr 127]
1.1. Nhân vật văn học
1.1.1. Khái niệm nhân vật văn học
Thuật ngữ “nhân vật” vốn được xuất phát từ một thuật ngữ trong tiếng Pháp
và có nguồn gốc La Tinh. Lúc đầu người ta gọi bằng “Persona” – cái mặt nạ mà
diễn viên đeo vào mặt và khi được miêu tả một cách nghệ thuật trong tác phẩm thì
người ta gọi đó là nhân vật. Nhân vật là phương tiện quan trọng nhất để thể hiện tư
tưởng, tình cảm của tác giả. Chính vì thế mà B.Brecht nhận xét rằng: “Các nhân vật
của tác phẩm nghệ thuật không phải đơn giản là những bản dập của những con
người sống mà là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của
tác giả” [14, 18].
Có rất nhiều cách định nghĩa, khái niệm về nhân vật văn học trong tác phẩm
văn học, tiêu biểu như:
“Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người một trong những
dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ. Bên cạnh
con người, nhân vật văn học có đôi khi là các con vật, các loài cây, các sinh thể
hoang đường được gắn cho những đặc điểm giống với con người” [1, 249].
7
8
trong thơ trữ tình hay nhân vật chỉ có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn như nhân vật
trần thuật.
Nhân vật văn học cũng có khi không phải là con người như: con cóc trong
Cóc kiện trời, Dế Choắt, Chị Cốc trong Dế Mèn phiêu liêu kí của nhà văn Tô
Hoài… nhân vật văn học kiểu này thường hay xuất hiện trong loài truyện cổ tích về
loài vật, truyện ngụ ngôn, truyện viết cho thiếu nhi. Khái niệm nhân vật đôi khi
được sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào trong tác phẩm
mà chỉ một hiện tượng nào đó nổi bật trong tác phẩm. Có thể nói, nhân dân là nhân
vật chính trong của Chiến tranh và hòa bình của L.Tolstoi, thời gian là nhân vật
chính trong sáng tác của Chekhov, người nông dân, người trí thức tiểu tư sản là
nhân vật chính trong các sáng tác của Nam Cao, chiếc quan tài là nhân vật chính
trong truyện Chiếc quan tài của Nguyễn Công Hoan. Việc xây dựng các hình
tượng nhân vật trên của mình là nhân vật đã thể hiện cách nói bóng bẩy theo một ý
nghĩa nhất định, bởi suy cho cùng nhân vật chính là hình thức thể hiện con người.
Tóm lại, nhân vật văn học chính là con người trong tác phẩm văn học, là
xương máu, là trái tim của nhân vật, qua đó nghệ sĩ thể hiện quan niệm của mình về
cuộc đời và con người. Nhân vật văn học có tính ước lệ vì vậy các nhà lí luận cũng
cần chú ý và quan tâm. Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các
loại hình nghệ thuật khác. Ở đây nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu
riêng là ngôn từ. Nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng,
liên tưởng để xây dựng lại con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ của
nó. Đã là tác phẩm văn học thì không thể thiếu nhân vật văn học bởi chính nó là hạt
nhân của tác phẩm văn học.
1.1.2. Chức năng của nhân vật văn học trong tác phẩm văn học
Như đã nói ở trên, tác phẩm văn học không thể tồn tại nếu thiếu nhân vật văn
học. Một trong những lí do phải kể đến chính là vai trò, chức năng của nhân vật văn
đọc cảm nhận được những điều đang tồn tại trong thế giới mình đang sống
và cả trong thế giới mình chưa từng sống. Khi đọc các tác phẩm viết về nông
thôn và nông dân của nhà văn Nam Cao, các nhân vật như Chí Phèo, Lão
Hạc, thằng Lúng…đã vẽ nên một bức tranh hết sức sinh động, phản ánh chân
thực cuộc sống tăm tối, cực nhục của người nông dân sau lũy tre làng trước
Cách mạng tháng 8 năm 1945. Đó là một xã hội tàn bạo đã hủy diệt cả thể ác
lẫn linh hồn người nông dân lương thiện, đẩy họ vào cuộc sống cùng đường
không lối thoát. Đồng thời nhà văn cũng khẳng định bản chất lương thiện của
10
họ, ngay cả khi họ bị xã hội độc ác cướp mất cả hình hài và tính cách con
người. Như vậy, với chức năng này của nhân vật văn học thì dù người đọc
không sống ở thời điểm, hoàn cảnh trong tác phẩm nhưng nhờ thông qua
nhân vật bạn đọc vẫn có thể hòa mình vào trong tác phẩm để hiểu được bối
cảnh tồn tại của tác phẩm.
Nhân vật là phương tiện thể hiện tư tưởng, tình cảm, quan niệm nghệ thuật
của nhà văn về thế giới. Nhân vật văn học chính là sự kết tinh tâm hồn và tư
tưởng của tác giả được gửi gắm thông qua tác phẩm để đến với bạn đọc. Khi
đọc tiểu thuyết Số đỏ của ông vua phóng sự đất Bắc Vũ Trọng Phụng, sau
một hồi tiếp xúc với hệ thống nhân vật trong truyện như: vợ chồng Văn
Minh, ông Typn, cô Tuyết, Xuân tóc đỏ… người đọc sẽ thấy được tư tưởng
mà Vũ Trọng Phụng gửi gắm qua thiên truyện: bản chất lố lăng, đồi bại của
xã hội thượng lưu thành thị những năm trước Cách mạng, chạy theo phong
trào Âu hóa làm mất đi thuần phong mĩ tục truyền thống của dân tộc Việt
Nam. Một đám ma to tát nhưng rỗng tuếch, thiếu đi duy nhất một thứ cần có
đó chính là tình thương con người và đạo lí làm người.... Trong câu chuyện
Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân, khi viết về nhân vật Tràng, đặt nhân vật vào
một tình huống vừa kì quặc, vừa oái oăm, vừa bi hài, nhưng nhà văn đã cảm
phẩm của bạn đọc. Nhân vật sẽ là một trục đường thẳng xuyên suốt từ đầu
tới cuối tác phẩm còn các chi tiết, sự kiện sẽ là những gì quấn quanh vào con
đường đó. Trong Chí Phèo của nhà văn Nam Cao, từ đầu đến cuối là cuộc
đời, số phận, những ngã rẽ trong đường đời của nhân vật Chí Phèo: được bác
đi thả ống lươn nhặt được bên cái lò gạch cũ bỏ hoang sau đó mang về cho
bà góa mù nuôi, lớn lên thì đi ở cho nhà Lí Kiến, Bá Kiến, bị bà ba gọi lên
bóp chân rồi lên nữa, Chí bị Bá kiến đánh ghen đẩy vào tù bảy, tám năm. Sau
đó ra tù thì Chí trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, tay sai đắc lực cho Bá
Kiến, Chí gặp Thị Nở muốn tìm hạnh phúc lứa đôi với Thị nhưng bị cự tuyệt,
Chí đến nhà Bá Kiến đâm chết hắn rồi cũng tự tử. Tác phẩm Vợ chồng A
Phủ của Tô Hoài thì các tình tiết, sự việc cũng xoay quanh nhân vật chính là
Mị: Mị là người con gái của vợ chồng người nông dân hiền lành, lớn lên bị
cướp về nhà thống lí Pá Tra để gạt nợ của bố mẹ. Cuộc đời cô trở nên nhạt
nhẽo, buồn tẻ, cơ cực từ đây. Mị muốn ăn lá ngón tự tử nhưng không thành.
Những đêm tình mùa xuân cô như sống lại làm người và cũng muốn được đi
chơi nhưng bị A Sử đánh và trói vào cột nhà. A Sử bị đánh, rồi A Phủ bị bắt
12
trở thành nô lệ không khác gì Mị. Vì làm mất con bò nên A Phủ bị đánh và
trói vào giống Mị trước. Trước sự việc đó, Mị đã cắt dây trói cho A Phủ, hai
người chạy sang Phiềng Sa nên vợ nên chồng… Như vậy, Chí Phèo và Mị
chính là hai nhân vật chính trong hai câu chuyện trên. Từ đầu đến cuối tác
phẩm xoay quanh nhân vật chính vì vậy các sự việc, tình tiết, sự kiện trong
chuyện có sự liên kết và thống nhất cho cốt truyện cũng như chủ đề, tư tưởng
của thiên truyện.
1.1.3. Các loại nhân vật trong tác phẩm văn học
Nhân vật văn học là một hiện tượng hết sức đa dạng. Các nhân vật làm nên
tên tuổi của nhà văn thường là những nhân vật có sự sáng tạo độc đáo, không lặp
biến của cốt truyện, trong quá trình triển khai đề tài, thể hiện tư tưởng và chủ đề của
tác phẩm. Có nhiều loại nhân vật phụ. Có loại nhân vật phụ ở bình diện thứ hai sau
nhân vật chính như Thúy Vân, Vương Quan, Kim Trọng trong Truyện Kiều.
Những nhân vật này tuy không được khắc họa đầy đặn như nhân vật chính nhưng
lại được tác giả miêu tả đậm nét, có cuộc đời, tính cách riêng. Có những nhân vật
phụ ở hạng thứ ba, chỉ thấp thoáng trong các tình tiết của tác phẩm như “mụ quản
gia” hay “thằng bán tơ” trong tác phẩm.
Xét trên phương diện cấu trúc của hành động, nhân vật văn học được chia ra
làm bốn loại: nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách và
nhân vật tư tưởng.
Nhân vật chức năng là nhân vật thường xuất hiện trong tác phẩm để thực
hiện chức năng cố định nào đó, nhân vật này không có đời sống tình cảm riêng tư,
nội tâm và bản chất của nhân vật cố định từ đầu đến cuối tác phẩm như: nhân vật
bụt, tiên xuất hiện để giúp đỡ con người. Nhân vật ma, quỷ xuất hiện để cản trở
cuộc sống của con người. Nhân vật hề xuất hiện để mua cười, gây vui cho con
người.
Nhân vật loại hình: là nhân vật tập trung cao độ đặc điểm, bản chất của một
loại người nhất định nào đó trong xã hội. Như nhân vật Acpagong: thói keo kẹt, hà
tiện, đề cao tiền bạc. Nhân vật Sở Khanh đại diện cho một loại người: lừa bịp, tráo
trợn… Trong nhân vật loại hình yếu tố loại được đề cao:
. Loại keo kẹt: Acpagong, phú ông – Đến chết vẫn hà tiện
. Loại lười biếng: nhân vật trong truyện Há miệng chờ sung
. Loại khoác lác: con rắn vuông
. Loại khoe khoang: nhân vật trong Lợn cưới áo mới...
14
Nhân vật tính cách: là loại nhân vật có cá tính nổi bật trong đó tính cách của
nhân vật có những biến động, đổi thay chứ không thuần nhất một chiều, bản thân
1.2. Nhân vật trữ tình trong thơ
Như đã nói ở trên, một tác phẩm văn học sẽ không thể tồn tại nếu thiếu đi hạt
nhân là nhân vật. Nó là một yếu tố quan trọng cốt lõi để duy trì sự sống cho tác
phẩm văn học. Cũng giống như thế, đối với một tác phẩm thơ trữ tình, nhân vật trữ
tình là nòng cốt, là trung tâm của tác phẩm trữ tình.
1.2.1. Khái niệm
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Nhân vật trữ tình là hình tượng nhà thơ
trong thơ trữ tình, phương thức bộc lộ ý thức của tác giả. Nhân vật trữ tình là con
người “đồng dạng” cuả tác giả - nhà thơ hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình
(một chùm thơ, toàn bộ trường ca hay toàn bộ sáng tác thơ) như một con người có
đường nét hay một vai sống động có số phận cá nhân xác định hay có thế giới nội
tâm cụ thể, đôi khi có cả nét vẽ chân dung 9 mặc dù không bao giờ đạt tới đặc điểm
cuả một nhân vật như trong tác phẩm tự sự hay kịch” [4, 234].
Hiện có những tranh cãi về khái niệm nhân vật trữ tình. Thông thường, người
ta xem nhân vật trữ tình là hình tượng khái quát như một tính cách văn học được
xây dựng trên cơ sở lấy các sự thật của tiểu sử tác giả làm nguyên mẫu. Đó là một
“cái tôi” đã được sáng tạo ra. Ý kiến khác nhấn mạnh rằng cùng với hình tượng ấy,
nhà thơ cũng thổ lộ tình cảm thật chân thành của mình trong những tình huống trữ
tình, và người đọc không lầm khi tin những tình cảm ấy là thật. Tuy vậy, không
được đồng nhất giản đơn nhân vật trữ tình với tác giả, bởi trong thơ trữ tình nhà thơ
xuất hiện như “người đại diện cho xã hội, thời đại và nhân loại” ( Bê- lin- xki), nhà
thơ đã tự nâng mình lên trên đời thường cá biệt.
Nhân vật trữ tình là chủ thể của phát ngôn. Nhân vật trữ tình là người được
tái hiện phần tinh thần, là một bản tự thuật về tâm hồn với những trạng thái nhân
sinh: buồn, vui, yêu, ghét… Trong thơ, cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình sẽ
chi phối giọng điệu chung của toàn bộ bài thơ. Và trong một bài thơ trữ tình thường
chỉ có một nhân vật trữ tình. Tuy nhiên với những bài thơ có kết cấu đối đáp thì sẽ
có hai nhân vật trữ tình.
người phụ nữ trong xã hội xưa:
Thân em như củ ấu gai
Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen
Ai ơi nếm tử mà xem
Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi.
Ban đầu bài thơ là tiếng lòng của một cô gái trong xã hội phong kiến ý thức
17
về phẩm hạnh, danh dự của bản thân nhưng bị trà đạp, tước đoạt quyền tự quyết
định hạnh phúc. Sau đó, những cô gái khác rơi vào hoàn cảnh tương tự thấy câu hát
ấy giống với số phận của mình thì lại cất lên câu hát than thân về cuộc đời mình. Và
cứ như thế, bài ca dao trên đã trở thành tiếng hát chung của các thế hệ cô gái trong
xã hội cũ.
Nhân vật kịch thường nổi bật về tính cách và thường được chia thành nhiều
tuyến nhân vật. Một nhân vật kịch thường mang ít đặc tính thẩm mĩ nhưng lại là
những đặc tính nổi bật. Một vở kịch muốn hay, muốn thể hiện rõ xung đột kịch thì
nhân vật kịch phải có tính cách nổi bật (hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc anh hùng, hoặc đê
hèn...) và một vở kịch thường chia nhân vật ra thành các tuyến. Mâu thuẫn xung đột
kịch cũng chính là mâu thuẫn, xung đột của các tuyến nhân vật này.
Trong Đất nước của Nguyễn Đình Thi ngoài việc đó là cảm xúc cá nhân của
riêng nhà thơ thì đó còn là cảm xúc, nỗi lòng của toàn thể nhân dân đất Việt:
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
... Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
Nhân vật trữ tình là hiện thân, là con người “đồng dạng” của tác giả. Tuy
nhiên cũng có khi nhà thơ hóa thân vào một nhân vật, con người khác để nói
hộ tâm trạng, nỗi niềm của họ, tạo thành kiểu nhân vật trữ tình nhập vai.
vật trữ tình nhập vai hay trực tiếp thì nhân vật trữ tình luôn là một phương tiện đắc
lực để truyền tải tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ, quan điểm... của tác giả đến bạn đọc
qua những vần thơ. Nhờ nhân vật trữ tình mà bạn đọc có thể biết được đôi nét về
quê hương, cuộc đời, tuổi thơ... của tác giả. Đó cũng là những căn cứ để bạn đọc có
thể hiểu đúng, hiểu sâu sắc một tác phẩm thơ hơn. Từ đó định ra được giá trị của bài
thơ cũng như tài năng của nhà thơ. Đây cũng là một cách để người nghệ sĩ tự khẳng
định tên tuổi và vị trí của mình trên thi đàn dân tộc.
Tiểu kết:
Tóm lại, trong giới hạn của chương 1, chúng tôi đã tìm hiểu và trình bày
những nội dung cơ bản và khái quát nhất về nhân vật văn học và nhân vật trữ tình
trong thơ. Những khái niệm về nhân vật văn học và nhân vật trữ tình trong thơ
chính là cơ sở để nghiên cứu, khám phá hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ Xuân
Quỳnh. Điều này chúng tôi xin được trình bày rõ hơn ở chương sau.
19